05. Nắm Tro Tàn

29/11/201115:17(Xem: 5443)
05. Nắm Tro Tàn
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 1
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(5)

Nắm Tro Tàn

Thuở xưa Ðức Phật chúng ta

Hồi còn tại thế, tiếp bà Mẹ kia,

Bà ta nức nở não nề

Thương con vừa chết, thảm thê cõi lòng,

Ôm con bà Mẹ khóc ròng

Quỳ xin Phật cứu, cầu mong phép mầu.

Bà tin tưởng Phật từ lâu

Ðã đầy nhân ái, lại giàu thần thông

Cứu con bà thoát tử thần.

Phật nghe than khóc, cảm thông, nhận lời.

*

Phật truyền Bà ghé mọi nơi

Tìm nhà nào suốt ba đời vừa qua

Không hề chịu cảnh tang ma

Không người thân thích gần xa lìa trần

Xin về một nắm tro tàn

Tro này mới thật vô vàn linh thiêng

Phật dùng tro làm phép riêng

Cứu con bà sống, chớ phiền muộn chi!

*

Mẹ ôm con vội ra đi

Lòng đầy hy vọng, sá gì đường xa

Thăm từng nơi, ghé từng nhà

Hỏi xin mong sẽ tìm ra tro tàn

Trèo đèo, lội suối, băng ngàn

Tro xin chẳng được, ngồi than thân mình:

"Ba đời trong mỗi gia đình

Tử thần đều viếng đâu dành riêng ta

Thương con thời có xót xa

Nhưng mà nghĩ kỹ chẳng qua luật trời!".

Tự nhiên lòng Mẹ thảnh thơi

Ôm con trở lại quỳ nơi Phật Ðài

Chẳng còn than khóc kêu nài

Dù lòng vẫn nhớ con hoài khôn nguôi

Chuyến đi Mẹ kể đầu đuôi

Rồi xin Phật dạy cho đôi lời vàng.

*

Phật nhân dịp đó phán rằng:

"Ðời sanh ra vốn đã mang muộn sầu

Kiếp người sống chết liền nhau

Nói chung vạn vật trước sau vô thường

Con chết đi dù tiếc thương

Nhưng lòng đừng mãi vấn vương làm gì!".

Cuối cùng Mẹ gạt sầu bi

An tâm ôm xác con về cất chôn,

Chuông chùa vang tiếng trong thôn

Lá vàng trước mộ, hoàng hôn cuối trời.

(phỏng theo bản văn xuôi
của Minh Hưng)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30046)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25175)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9730)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 5838)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4052)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4815)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4252)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4028)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15166)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5333)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.