20. Nguồn Hạnh Phúc

29/11/201115:17(Xem: 7213)
20. Nguồn Hạnh Phúc
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 1
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(20)

Nguồn Hạnh Phúc

Nơi vùng tịnh xá Kỳ Hoàn

Gió trời nhẹ thổi, mây ngàn êm trôi

Gốc cây cổ thụ trên đồi

Sa Môn bốn vị cùng ngồi chuyện chơi

Hỏi điều chi sướng tuyệt vời?

Ðiều chi hạnh phúc theo người trần gian?

*

Trầm ngâm, một vị cho rằng:

"Hưởng phong cảnh đẹp thú bằng lên tiên

Khi xuân rực rỡ thiên nhiên

Vui đàn chim hót, thắm duyên hoa cười

Ðất trời, cây cỏ tốt tươi

Dong thuyền dòng biếc dạo chơi lững lờ

Hoặc mang bầu rượu túi thơ

Núi cao ngâm vịnh: giấc mơ một đời!".

*

Vị bên phải khẽ thốt lời:

"Gia đình đoàn tụ một nơi sum vầy

Thức ngon, rượu quý tràn đầy

Ðàn ca hát xướng ngất ngây thâm tình

Quây quần thân thuộc quanh mình

Sướng như lên tận mây xanh cõi trời!".

*

Vị bên trái nói: "Trên đời

được sinh ra đúng vào nơi sang giàu

Nhiều tiền bạc, lắm quân hầu

Ăn ngon, mặc đẹp, nhà lầu, ngựa xe

Vinh hoa phú quý bề bề

Mới là vui sướng còn chi sánh bằng!".

*

Vị ngồi phía trước thưa rằng:

"Các thầy nghĩ vậy phải chăng đều lầm?

Theo tôi cưới được giai nhân

Vài nàng quyến rũ, tấm thân gợi tình

Nói cười ca múa đẹp xinh

Mới là hạnh phúc mà mình thiết tha!".

*

Những lời đàm luận vẳng xa

Vừa khi Ðức Phật ghé qua kinh hành

Dừng chân hỏi rõ ngọn ngành

Ðộng lòng thương xót chúng sanh mê lầm

Ngài bèn dạy: - "Kìa cảnh xuân

Thiên nhiên vạn vật xa gần tốt tươi

Thu qua, Ðông tới bên trời

Úa tàn cây cỏ, tơi bời lá hoa!".

- "Kìa người sum họp đầy nhà

Chứa chan tình cảm, chan hòa niềm vui

Nhưng hợp rồi lại chia phôi

Sinh ly, tử biệt khiến người khổ đau!".

- "Kìa xem phú quý sang giàu

Gia tài dù lắm, bền lâu bao giờ

Ðời người ngắn tựa giấc mơ

Mang gì theo được trong giờ xuôi tay!".

- "Kìa xem những kẻ đắm say

Ham mê sắc dục hao gầy tấm thân

Lại thêm mê muội tâm thần

Tan nhà, mất nước bắt nguồn từ đây!".

*

"Nói chung những ước muốn này

Là nguyên nhân chính vần xoay luân hồi

Trong vòng sinh tử nổi trôi

Khiến đời đau khổ! Khiến người lầm than!

Chỉ riêng có cõi Niết Bàn

Là nơi an lạc chứa chan ngàn đời

Là chân hạnh phúc tuyệt vời!".

Rồi Ngài kể lại chuyện thời xa xưa:

*

"Trước kia có một Ông Vua

Trị vì một nước cõi bờ thênh thang

Nhà Vua tên gọi Phổ An

Mời Vua bốn nước lân bang tiệc tùng

Kéo dài bốn tháng tưng bừng

Ðến khi tan tiệc, lúc cùng chia tay

Phổ An hỏi bốn Vua này

"Ðiều chi lạc thú mê say nhất đời?".

Bốn Vua lần lượt trả lời:

- "Dạo chơi cảnh đẹp đất trời bao la!".

- "Gia đình sum họp chan hòa!".

- "Giàu sang phú quý một nhà hiển vinh!".

- "Giai nhân nhan sắc gợi tình!".

Ðó là những thứ cho mình sướng vui!

Phổ An nghiêm nghị đáp lời:

"Ðó là tạm bợ nhất thời mà thôi

Nguyên nhân sinh tử luân hồi

Cội nguồn đau khổ nổi trôi kiếp người!".

*

Kể xong chuyện, Phật tiếp lời:

"Mong cho bốn vị thoát nơi ta bà,

Phổ An kiếp trước là ta

Bốn Vua ngày đó chính là các ông

Ta khuyên chẳng chịu ghi lòng

Kiếp này quanh quẩn trong vòng tử sinh!".

Bốn Sa Môn khẽ lặng thinh

Nhủ lòng sám hối tâm thành từ đây.

Vừng dương rực chiếu cỏ cây

Hương xuân ngan ngát tỏa đầy không gian

Bốn người bừng ánh đạo vàng

Khơi nguồn hạnh phúc dâng tràn trong tim.

(phỏng theo bản văn xuôi

của Trí Hiền)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 31076)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25434)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 10008)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6123)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4199)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4913)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4583)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4139)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15426)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5436)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.