Truyện cổ Phật Giáo - Truyện thơ - Tập 1

29/11/201115:17(Xem: 6888)
Truyện cổ Phật Giáo - Truyện thơ - Tập 1
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 1
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

tcpg1

(1)

Ðời Người Trong Một Câu

Nhà Vua trẻ lên ngai vàng

Bèn truyền ngay lệnh cho quan đại thần

Phải đi khắp chốn xa gần

Bao nhiêu triết lý sưu tầm về cung

Tinh hoa kim cổ, tây đông

Rút thành nguyên tắc trị dân nước nhà.

*

Ba mươi năm thoáng trôi qua

Nay nhà Vua trẻ tóc đà hoa râm

Một hôm tin báo đại thần

Trở về cùng với phái đoàn từ xa

Dắt theo một toán lạc đà

Chất hơn nghìn sách tinh hoa tuyệt vời.

Vua nhìn sách quý nghẹn lời:

"Trẫm nay đã yếu, tuổi trời lại cao

Sách nhiều, đọc chẳng hết nào

Khanh nên tóm tắt sách vào ít pho!".

*

Ðại thần suy nghĩ âu lo,

Gắng bao công sức vào cho công trình

Thêm mười năm nữa trôi nhanh,

Hơn nghìn pho sách rút thành năm trăm.

Vuốt râu bạc Vua phán rằng:

"Sao còn nhiều quá? Chi bằng rút thêm!".

*

Ðại thần cố gắng ngày đêm

Năm mùa lá rụng qua thềm thật mau

Sách nay rút lại trước sau

Một pho duy nhất trình vào Vua xem.

*

Vua nằm giường bệnh lim dim

Ngự y chầu chực im lìm xung quanh.

Thở ra Vua nói: "Này khanh

Trẫm nay yếu lắm chắc đành chết thôi

Trước khi từ giã cõi đời

Ðọc nguyên cả cuốn sách thời khó sao

Khanh nên thâu ngắn thế nào

Rút thành vài chữ, tóm vào một câu!".

*

Ðại thần suy nghĩ hồi lâu

Tử thần như đã gần đâu đó rồi

Thời gian lắng đọng im hơi

Ðại thần vội vã lại ngồi án thư

Nhẹ nhàng nâng bút tay đưa

Thảo nhanh vài chữ trên tờ hoa tiên

Quỳ dâng lên đấng Vua hiền.

Trước khi nhắm mắt Vua truyền đọc nghe

Nét buồn bốn chữ được ghi:

"Sinh, Lão, Bệnh, Tử" tiếp đi dòng đời.

(phỏng theo bản văn xuôi

của Tâm Phước)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30016)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25165)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9728)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 5833)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4007)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4756)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4242)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 3951)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15014)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5325)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.