22. Ấm Trà Phúc Đức

29/11/201115:17(Xem: 6018)
22. Ấm Trà Phúc Đức
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 3
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương
xuất bản 2004

(22)

ẤM TRÀ PHÚC ĐỨC

Thưở xưa có vị tu hành

Thật là đức hạnh nổi danh vô cùng

Thầy tên là sư Chánh Thông

Lâu nay muốn kiếm trong vùng rừng thưa

Một nơi thuận tiện xây chùa

Giúp cho Phật tử chỗ tu dễ dàng.

Một hôm đầy ánh trăng vàng

Sau khi tắm suối, sư đang trở về

Băng ngang giữa cánh rừng khuya

Bỗng nghe vẳng tiếng ai kia kêu thầy,

Quay nhìn quanh quất đâu đây

Thấy ngay thấp thoáng dưới cây bóng hình

Người trông giống hồ ly tinh

Bước ra đảnh lễ cúi mình thưa ngay:

"Con xin phép hướng dẫn thầy

Tới nơi thích hợp để xây dựng chùa!"

Lời người lạ thoảng như ru

Sư nghe ưng thuận rất ư vui mừng

Cả hai đêm đó lên đường

Vượt đèo, lội suối, băng rừng, trèo non

Tới nơi thoả nguyện chờ mong

Ngọn đồi thơ mộng mênh mông vô cùng

Sư nhìn khoảnh đất rất mừng

Và rồi quyết định chọn vùng này ngay

Sẽ xây chùa tại chốn đây

Bõ công tìm kiếm bao ngày tháng qua.

Thời gian thấm thoắt trôi xa

Chùa nay hoàn tất thật là khang trang

Mậu Lâm Tự tỏa đạo vàng

Anh chàng chỉ lối dẫn đường thuở xưa

Giờ đây tìm đến thăm sư

Khẩn cầu xin ở lại tu nhiệt tình.

Dù trông giống hồ ly tinh

Sư nào câu nệ dáng hình, nhận ngay

Thâu làm đệ tử từ đây

Đặt tên Thủ Hạc ngày ngày kệ kinh

Chuyên tâm ra sức học hành

Lại chăm lo việc ở quanh trong chùa.

*

Tháng ngày qua tựa thoi đưa

Giờ đây sư Chánh Thông xưa già rồi

Một ngày sư cũng lìa đời

Trụ trì chùa cũ nhiều người lên thay

Để rồi lại đến một ngày

Tuổi già lần lượt rời ngay cõi trần,

Riêng Thủ Hạc vẫn yên phần

Vẫn luôn mạnh khoẻ, chuyên cần lo tu.

Đến đời hoà thượng Nguyệt Chu

Trụ trì thứ bảy của chùa Mậu Lâm

Trong chùa mọi việc chi cần

Một tay Thủ Hạc lãnh phần lo toan

Trung thành, chu đáo, đảm đang

Giúp luôn cả đám dân làng địa phương

Giúp thêm cả khách hành hương

Sức luôn cố gắng, tâm thường an vui.

*

Một năm lễ lớn tới rồi

Trên chùa chuẩn bị đón người hành hương

Tính ra số khách thập phương

Vài ngàn người sẽ tìm đường lên đây

Chùa lo mọi việc xong ngay

Chỉ riêng nước uống vào ngày mai thôi

Sao cho đủ khắp mọi người

Ấm trà thật lớn kiếm thời khó sao!

Sư Nguyệt Chu lo biết bao

Tới lui nghĩ ngợi, ra vào thở than

Chợt nghe Thủ Hạc trấn an:

"Con xin đi tới ngôi làng quen xa

Mượn về một chiếc ấm trà

Ấm này vĩ đại đủ pha ngàn người

Cách đây ngàn dặm mà thôi!"

Sư nghe mừng rỡ nhưng rồi lo âu:

"Xa ngàn dặm dù đi mau

Chỉ trong một tối kịp đâu quay về,

Dễ chi mượn được ấm kia

Ngày mai nước uống chắc gì có đây!"

Nghe xong Thủ Hạc thưa ngay:

"Con đi tức khắc, xin thầy yên tâm!"

Mang đôi giầy cỏ vào chân

Tức thời đệ tử biến luôn khỏi chùa.

Sáng sau hoà thượng Nguyệt Chu

Đang ngồi thiền định tĩnh tu giữa phòng

Chợt nghe rộn rã ngoài song

Biết ngay Thủ Hạc về trong chùa này

Sư nhìn ra thấy lạ thay

Ấm trà vĩ đại để ngay hiên ngoài

Sư kinh ngạc đến ngẩn người

Rồi ngài sung sướng thốt lời ngợi khen

Ấm trà được sử dụng liền

Đun sôi trà bốc hơi lên thơm lừng

Hương thơm thanh thoát lạ lùng

Vô cùng dễ chịu, vô cùng dịu êm

Uống vào sảng khoái vô biên

Bao người xin uống quả nhiên hài lòng,

Ấm như một suối nguồn trong

Rót trà đãi khách mãi tuôn chẳng ngừng

Mọi người ca tụng tưng bừng

Anh chàng Thủ Hạc vui mừng nói ngay:

"Người ta gọi ấm trà này

Là trà phúc đức xưa nay giúp người

Trong đây tám món tuyệt vời:

Bệnh thời biến mất. Sức thời tăng thêm,

Bao nhiêu lo sợ dứt liền,

Phát sinh trí tuệ. Nhân duyên tạo nhiều

Được người tôn trọng kính yêu,

Bao nhiêu tai nạn thảy đều tránh qua,

Và tăng tuổi thọ thêm ra

Ấm trà phúc đức quả là quý thay!"

*

Đã qua bao tháng cùng ngày

Anh chàng Thủ Hạc chùa này sống dai

Trụ trì chùa tới thứ mười

Anh chàng vẫn khoẻ, thân người trẻ trung

Lại thêm tráng kiện vô cùng

Bà con Phật tử đều cung kính chàng.

Một hôm nắng đẹp hanh vàng

Thênh thang nắng rọi, rộn ràng chim ca

Anh chàng Thủ Hạc nhà ta

Ra ngồi tắm nắng bên hoa sân chùa

Thả hồn theo gió thơm đưa

Nhẹ trôi vào giấc ngủ trưa ngon lành

Để rồi bỗng hiện nguyên hình

Hồ ly là cáo, thân hình xấu xa,

Bất ngờ có khách bước ra

Nhìn qua thấy chú cáo già ngủ say

Vội vàng hoảng hốt kêu ngay:

"Hồ ly xuất hiện chốn này! Kinh sao!"

Chàng Thủ Hạc nghe ồn ào

Giật mình tỉnh giấc kịp đâu thu hình

Đông người xúm lại thình lình

Chanh chua xỉa xói, bất bình thét la:

"Bây giờ lộ mặt thật ra

Ai ngờ mi lại chính là hồ ly

Tưởng rằng núp bóng từ bi

Tu hành học Phật xóa đi nghiệp mình

Hồ ly vẫn hiện nguyên hình

Súc sinh lại vẫn súc sinh khác gì

Cút mau khỏi chốn này đi

Xác thì xấu xí, thân thì tanh hôi!"

*

Nghe xôn xao vọng tiếng người

Trụ trì vội bước ra nơi sân chùa

Anh chàng Thủ Hạc kính thưa:

"Thầy và đồng đạo vốn từ lâu nay

Hết lòng chiếu cố thân này

Lòng tôi cảm kích bao ngày khó quên

Nay xin báo đáp ơn trên

Đem thần thông diễn ngay liền quản đâu

Chuyện xưa tích cũ đã lâu

Rừng kia xin hãy quay đầu nhìn xem!"

Trong khu rừng rậm kế bên

Hiện ra cảnh giới trang nghiêm lạ lùng

Phật Đà thuyết pháp giữa rừng

Bao nhiêu đệ tử chập chùng vây quanh

Mọi người kinh ngạc thật tình

Cùng nhau quỳ lạy lòng thành kính dâng

Chợt nghe Thủ Hạc nói rằng:

"Tôi xin từ giã đạo tràng giờ đây

Từ biệt chùa, từ biệt thầy

Ấm trà phúc đức dâng ngay biếu chùa

Để làm kỷ niệm nghĩa xưa!"

Nói xong Thủ Hạc cũng vừa lao đi

Thân như ánh chớp khác chi

Nhắm khu rừng thẳm hồ ly biến rồi.

*

Tuy mang xác cầm thú thôi

Nhưng mà tư tưởng tuyệt vời cao xa

Từ bi, hỷ xả, vị tha

Súc sinh đâu nữa, ngẫm ra là người!

Là người sống ở trên đời

Tuy hình hài vậy, tâm thời xấu xa

Than ôi ngẫm kỹ chẳng qua

Chỉ là dã thú, còn là người đâu!

(phỏng theo bản văn xuôi của PHẠM NGỌC KHUÊ)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30022)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25171)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9729)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 5834)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4023)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4776)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4245)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 3976)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15077)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5326)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.