21. Dạy Khỉ Nói

29/11/201115:17(Xem: 6064)
21. Dạy Khỉ Nói
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 1
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(21)

Dạy Khỉ Nói

Nước kia có một ông Vua

Vốn ham việc lạ, lại ưa chuyện đùa

Tuổi Vua bẩy chục có thừa

Một hôm cao hứng nhân mùa đầu Xuân

Vua truyền lệnh khắp xa gần

Từ quan cho chí tới dân hay rằng

Nhà Vua ban thưởng ngàn vàng

Cho ai dạy khỉ nói năng như người.

*

Các quan phải dự cuộc chơi

Cố công tìm khỉ các nơi đưa về

Quan nào dạy khỉ lành nghề

Thưởng vàng, tăng chức đôi bề vui thay!

Quan nào dạy khỉ không hay

Phạt tiền, giáng chức xuống ngay tức thời!

Các quan than khổ thấu trời

Xưa nay khỉ nói tiếng người được đâu!

*

Ðột nhiên có lão bạc đầu

Tuổi ngoài bẩy chục xin hầu chuyện Vua

Quỳ thưa: "Nghề nghiệp từ xưa

Chuyên môn dạy khỉ nói như tiếng người

Cả nhà từng trải mấy đời

Nghề riêng dạy khỉ vốn nơi gia truyền!".

Vua nghe hứng thú vô biên,

Lão ông lên tiếng nói thêm đôi điều:

"Công phu dạy khỉ khá nhiều

Muốn cho khỉ nói được theo tiếng người

Hàng ngày kiên nhẫn mớm lời

Ít ra phải mất hai mươi năm trường!"

Lão xin nhận trước nửa vàng

Về nhà sửa soạn lên đường đi xa

Khỉ thông minh sẽ tìm ra

Ðem về dạy nói, nghề nhà tinh thông.

*

Vua nghe háo hức vô cùng

Xuất năm trăm lượng đưa ông tức thì,

Các quan mừng rỡ kể chi

Trút đi gánh nặng nghĩ suy nhọc lòng.

*

Ông về, vợ ngóng, con trông

Khi hay rõ chuyện đều cùng khóc la

Gạt Vua chắc chết cả nhà

Phen này ba họ thành ma không đầu

Ông nào dạy khỉ được đâu

Cả gan lường gạt, mưu sâu hại đời.

Vuốt râu ông lão cả cười

"Tuổi ta nay đã bẩy mươi hơn rồi

Nhà Vua tuổi cũng vậy thôi

Chắc chi còn sống ở đời dài lâu

Hai mươi năm khó qua cầu

Vua và ta chết còn đâu lo gì!

Con người sống ở thác về

Coi như xí xóa cớ chi muộn sầu

Vô thường Phật dạy từ lâu!".

(phỏng theo bản văn xuôi

của Thái Thanh)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30430)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25308)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9904)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6093)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4177)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4902)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4543)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4095)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15369)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5386)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.