14. Phật Xử Kiện

29/11/201115:17(Xem: 6459)
14. Phật Xử Kiện
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 1
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(14)

Phật Xử Kiện

Bà kia bồng đứa con thơ
Dừng chân hóng mát bên bờ hồ sen

Thấy tay con trẻ lấm lem

Mẹ bèn múc nước hồ đem rửa liền

Đặt con nằm ở phía trên

Mẹ đi xuống tắm cạnh bên, trông chừng.

*

Có con quỷ dữ vô cùng
Đi ngang thấy trẻ, vui mừng thèm ăn

Dạ Xoa là quỷ khôn ngoan

Biến thành thiếu nữ đoan trang, hiền lành

Tới nơi thăm hỏi thân tình

Ngợi khen cháu bé đẹp xinh vô vàn

Quỷ xin được bế bé ngoan

Ngồi cho bú sữa dưới tàn cây cao

*

Mẹ nghe lời nói ngọt ngào
Gật đầu ưng chịu, đâu nào có hay

Quỷ nâng niu bé trên tay

Thừa cơ rời khỏi chốn này, chạy xa

Mẹ vùng lên đuổi, miệng la.

Quỷ ôm bé nói: “Đây là con tôi!”

Đôi bên tranh chấp nhiều lời

Bà con đưa họ đến nơi Phật đài

Chờ xin phân xử nơi Ngài

Phán xem đứa bé con ai trao về.

*

Phật nghe trình báo mọi bề
Nhìn qua thấy rõ quỷ kia trá hình

Nhận lời xét xử công minh:

“Kẻ ngay vạch thẳng phân ranh trên đường

Đặt lưng đứa bé nằm ngang

Hai người hai phía, đôi đàng kéo lui

Nếu ai sức yếu buông xuôi

Người kia mà kéo được thời giữ con.”

*

Mẹ hiền vội nắm hai chân,
Quỷ thèm thịt trẻ, nắm phần hai tay

Muốn dành thắng lợi về ngay

Quỷ ra sức kéo cuồng say sá gì.

Thương thay thân xác hài nhi

Đớn đau khóc thét, tứ chi rã rời!

Đau con, xót mẹ, nghẹn lời!

Mẹ không nỡ kéo, buông lơi con mình

Rồi ngồi khóc trẻ sơ sinh:

“Đầu xanh sao đã tội tình con ơi!”

*

Phật quay qua hỏi mọi người:
“Ai yêu đứa trẻ trong hai bà này?”

Người xung quanh trả lời ngay:

“Thưa là mẹ ruột lòng đầy xót xa!”

Phật thêm: “Xét giữa hai bà

Cùng nhau co kéo. Ai là mẹ đây?”

Thưa: “Chính người đã buông tay

Xót tình máu mủ người này hy sinh!”

*

Phật truyền: “Đây quỷ hiện hình
Mắt tròng ngầu đỏ, thân mình tanh hôi

Đứng không in bóng mặt trời

Giả làm cô gái hại đời trẻ thơ!”

Quay qua phía quỷ đứng chờ

Phật nghiêm nghị nói: “Mi giờ hãy khai

Tại sao mi quấy phá hoài

Ác tâm đọa mãi làm loài quỷ thôi

Phải mau tu tỉnh cho rồi

Mới mong thoát khỏi luân hồi quẩn quanh

Quay về đường phải cho nhanh!”

Quỷ kia chợt ngộ, tâm thành hoàn lương:

“Thưa con chót dại lầm đường

Từ bi xin Phật xót thương thân này

Độ cho hết kiếp đọa đầy!”

Phật truyền: “Kiếp trước mi gây tội nhiều

Con đường mê muội mãi theo

Đầu thai làm quỷ còn kêu nỗi gì!

Kiếp này đừng có ngu si

Tránh gây tội ác! Tỉnh đi là vừa!”

*

Quỷ quỳ lạy Phật xin chừa
Quyết tâm sám hối tội xưa đã làm,

Giữa vùng ánh đạo thênh thang

Quỷ xin được tới đạo tràng quy y

Xong rồi tiếp tục ra đi

An tâm vì đã tìm về đường ngay.

*

Mẹ hiền hoan hỉ tràn đầy
Ấp ôm con nhỏ trong tay, đẹp lòng

Nguyện thầm giữ đạo cho tròn

Cúi đầu tạ Phật, Mẹ con giã từ.

(phỏng theo bản văn xuôi
của Thiện Châu)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30203)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25211)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9747)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6037)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4093)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4873)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4406)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4079)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15252)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5341)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.