24. Chim Cú Mèo

29/11/201115:17(Xem: 6554)
24. Chim Cú Mèo
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 3
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương
xuất bản 2004

(24)

CHIM CÚ MÈO

Ngày xưa trên một cành cây

Cú mèo làm tổ nơi đây lâu rồi

Tổ chim gáy cũng gần thôi

Đôi bên thân mật rong chơi tà tà.

Cú mèo một bữa ghé qua

Giã từ chim gáy, dọn nhà khỏi đây

Ngạc nhiên chim gáy hỏi ngay:

"Bác đi đâu thế? Chốn này đang yên!"

Cú mèo: "Tôi phải dọn liền

Dời nhà cho lẹ qua miền phía Tây!"

Tò mò chim gáy: "Lạ thay

Nơi đây sinh sống bao ngày êm xuôi

An lành, thoải mái, vui tươi

Tại sao bác lại muốn dời tổ đi?"

Cú mèo:"Tôi chẳng dấu chi

Vùng này dân chúng ưa gì tôi đâu!"

Dịu dàng chim gáy khuyên mau:

"Chúng mình hàng xóm thân nhau lâu rồi

Nên tôi thành thật ngỏ lời

Chính vì tiếng bác người đời chẳng ưa

Tiếng kêu buồn thảm vang đưa

Nghe vừa chết chóc lại vừa tang thương

Tưởng như xui xẻo trăm đường

Cho nên nếu bác bỏ phương Đông này

Dọn nhà qua phía phương Tây

Tiếng kêu chẳng chịu đổi thay chút gì

Người ta cũng chẳng ưa chi

Để rồi tìm cách đuổi đi sớm chiều,

Bác mà thay đổi tiếng kêu

Người ta chuyển ghét thành yêu mấy hồi!"

*

Sau khi chim gáy dứt lời

Cú mèo giận dữ về dời tổ ngay

Bỏ đi mãi tận miền Tây

Xa miền Đông bấy lâu nay muộn phiền

Đúng lời chim gáy nhủ khuyên

Đúng như chim gáy đã tiên đoán rồi

Tới miền Tây ít lâu thôi

Cú mèo chẳng được mọi người mến ưa

Người ghét bỏ, kẻ đuổi xua

Cú mèo nửa hận, nửa như chán đời

Bèn bay xa lánh loài người

Xa luôn loài vật, mặt trời, mặt trăng

Tìm núi thẳm, kiếm rừng hoang

Nơi đây làm tổ vương mang hận lòng.

(phỏng theo bản văn xuôi của NHƯ THỦY)


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30247)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25264)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9769)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6072)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4109)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4887)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4501)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4081)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15278)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5359)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.