11. Bẩy Cái Lọ Vàng

29/11/201115:17(Xem: 6551)
11. Bẩy Cái Lọ Vàng
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 1
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(11)

Bẩy Cái Lọ Vàng

Từ bao nhiêu kiếp trước đây

Chàng kia chỉ thích mê say làm giàu

Ăn no nào có dám đâu

Mặc thời hà tiện trước sau sơ sài

Chẳng khi nào giúp đỡ ai

Kiếm nhiều, cất kỹ, không xài tiền ra

Mua vàng dấu kín bình hoa

Ðầy trong bẩy lọ, xó nhà đem chôn.

*

Thời gian như sóng dập dồn

Anh chàng bệnh nặng, một hôm lìa trần

Nhưng vì tiếc của vô ngần

Ðọa làm Rắn độc để gần vàng kia

Cận kề canh giữ sớm khuya

Xó nhà quanh quẩn chẳng khi nào rời.

*

Ngày qua, tháng hết, năm trôi

Căn nhà mục nát thế rồi sập tan

Rắn ta chết chẳng kịp than

Nhưng lòng vẫn tiếc nuối vàng dấu chôn

Cho nên lại đọa tấm thân

Làm loài Rắn độc một lần thứ hai

Bò quanh canh giữ trong ngoài

Chẳng cho vàng lọt tay ai bao giờ.

*

Một ngày chàng Rắn bơ phờ

Nghĩ thầm: "Xấu xí thân ta thế này

Chỉ vì tiếc của chôn đây

Ta cần tạo phước báu ngay bây giờ

Ðừng nấn ná! Chớ chần chờ!

Quyết tâm bố thí! Thiết tha cúng dường!"

*

Rắn bò ra cạnh bên đường

Kêu người khách lạ đi ngang giúp mình,

Khách kia nghe gọi thất kinh

Tưởng loài rắn độc nấp rình đâu đây,

Rắn ta thành khẩn tâu bày

Mong người giúp đỡ tiếp tay cúng dường,

Khách kia chẳng chút ngập ngừng

Theo về nhận một lọ vàng đi ngay

Lên chùa thưa lại cùng Thầy

Xin cho Rắn cúng một ngày Trai Tăng

*

Hạn kỳ vào giữa mùa trăng

Khách kia trở lại. Rắn mừng hỏi han,

Rắn theo kế hoạch đã bàn

Tìm cây làm gậy rồi chàng quấn quanh

Lấy chăn phủ kín thân mình

Khách khiêng cây gậy đi nhanh lên chùa.

*

Dọc đường có kẻ hỏi đùa:

"Khiêng gì đẹp thế?". Khách vờ lặng yên.

Rắn ta nổi giận như điên

Ác tâm muốn cắn khách liền một khi

Nhưng rồi cố dẹp "sân, si"

Nhớ ngày lễ tới cũng vì khách đây

Chỉ lên tiếng trách ông này:

"Chắc tôi xấu xí khiến Ngài lặng thinh?".

Khách kia xấu hổ thật tình

Chân thành xin hứa sửa mình từ đây.

*

Cả hai tiếp tục đi ngay

Lên chùa vừa kịp vào ngày Trai Tăng

Rắn ta tới trước Phật đường

Lễ dâng cung kính, cúng dường thành tâm,

Chư Tăng chú nguyện lâm râm

Rắn nghe thuyết pháp xong thầm ngộ ra

Nghĩ: "Vàng đầy ải thân ta

Ðọa làm rắn độc, thiết tha làm gì!

Vàng còn sáu lọ giữ chi

Muốn cầu phước báu cúng đi cho rồi!".

*

Rắn lòng hoan hỉ tuyệt vời

Ðem vàng còn lại cúng nơi Cửa Thiền

Cúng xong Rắn chết bình yên

Lìa nơi trần tục, về miền thanh cao

Do nguồn phước báu dạt dào

Cõi trời Ðao Lợi sanh vào! Vui thay!

*

Một hôm kể lại chuyện này

Phật nhân đó nói cùng Ngài A Nan:

"Người khiêng chú Rắn tham vàng

Là ta thuở đó. Còn chàng Rắn đây

Là ông Xá Lợi Phất này,

Khi ông trách mắng, ta đây ngượng ngùng

Cúi đầu hổ thẹn vô cùng

Tự thề khiêm tốn với chung mọi loài

Chẳng coi ai lại hơn ai

Muôn loài bình đẳng lâu dài ngang nhau!".

(phỏng theo bản văn xuôi
của Y Hà)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 31189)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25530)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 10040)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6153)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4243)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4956)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4595)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4153)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15438)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5502)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.