25. Vua Rắn Núi Phổ Đà

29/11/201115:17(Xem: 6270)
25. Vua Rắn Núi Phổ Đà
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 3
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương
xuất bản 2004

(25)

VUA RẮN NÚI PHỔ ĐÀ

Thuở xưa đức Quán Thế Âm

Chọn nơi đây chốn sơn lâm tuyệt vời

Mở mang Phật pháp giúp đời

Đạo tràng xây dựng cho người tu tâm,

Núi tên là Phổ Đà Sơn

Có vua rắn nọ vẫn thường ở đây

Họ hàng nhà rắn đông thay

Và riêng vua rắn lâu nay tu hành

Nghìn năm tu luyện tinh anh

Phép thần thông giỏi nổi danh xa gần.

Rắn thua đức Quán Thế Âm

Sau khi đấu phép thần thông tranh tài

Mới đành chịu nhượng bộ ngài

Cho ngài mượn núi làm nơi đạo tràng,

Rắn lo ngại cho họ hàng

Bị người giết hại nguy nan vô cùng.

Đức Quán Âm: "Hãy an lòng

Họ hàng nhà rắn hiện trong núi này

Cứ yên cư ngụ nơi đây

Người và rắn sống chung đầy tình thương

Ai làm hại phải bồi thường

Mạng đem thường mạng khó đường tránh qua,

Quyền vua rắn xử chẳng tha

Sẽ niêm yết bảng gần xa khắp vùng

Và loan báo rõ lệnh chung

Để người gìn giữ tránh đường sát sinh!"

Thế là trên ngọn núi xanh

Đạo tràng nghiêm túc lập thành nơi đây

Đã qua bao tháng cùng ngày

Hành hương khách ghé núi này thật đông

Người và rắn sống yên lòng

Người không hại rắn, rắn không cắn người.

Nhiều chùa xây cất khắp nơi

Tăng, ni, Phật tử vang lời cầu kinh.

*

Vùng này có chú Tiểu Đinh

Thường hay chơi nghịch phá quanh xóm làng

Tổ chim tìm đập tan hoang

Chuồn chuồn, châu chấu, bướm vàng chẳng tha.

Hôm nay chú trốn mẹ cha

Lén leo lên núi nhởn nha một mình

Dạo quanh tìm dịp sát sinh

Đến khi đói bụng ghé nhanh vào chùa

Xin ăn uống lúc ban trưa

No nê lại chạy rỡn đùa khắp nơi

Khi gần lúc xế chiều rồi

Đến con đường nọ chú ngồi nhìn quanh

Chợt đâu thấy dưới cỏ xanh

Có con rắn nhỏ bò nhanh tìm đường

Trốn bò cạp lớn kinh hoàng

Đang nhanh chân rượt phía đằng sau đuôi

May thay tới lạch suối rồi

Rắn lao mình xuống vội bơi qua bờ,

Nước ngăn bò cạp bất ngờ

Nó đâu biết lội đứng đờ người ra

Đành quay lui, khó vượt qua,

Tiểu Đinh tinh nghịch nghĩ ra mưu liền

Lượm cành cây rớt kề bên

Bắc cầu qua lạch ngang trên đôi bờ

Chú bò cạp chẳng chần chờ

Bò qua rượt đuổi rắn như điên cuồng

Tấm thân rắn nhỏ thảm thương

Trốn không thoát kịp trăm đường đớn đau

Bị bò cạp cắn hồi lâu

Quằn người ra chết, còn đâu nẻo về,

Tiểu Đinh vui thích thoả thuê

Reo lên khoái chí vừa đi vừa cười.

*

Núi rừng khuất bóng mặt trời

Tiểu Đinh vội vã tìm nơi ngủ nhờ

Ghé vào chùa. Thật bất ngờ

Vừa trông thấy mặt là sư giật mình

Lắc đầu hỏi, giọng thất kinh:

"Trông con nét mặt quả tình nguy thay

Bao nhiêu ám khí phủ đầy

Chắc con khó sống qua ngày mai đâu,

Nói cho thầy biết thật mau

Gần đây con có phạm vào tội chi

Sinh linh có giết hại gì

Khiến cho phúc đức mất đi thảm sầu?"

Tiểu Đinh hốt hoảng lắc đầu

Sau khi ngẫm nghĩ hồi lâu, thưa thầy

Rằng mình tinh nghịch mới đây

Giúp bò cạp giết rắn ngay trên đồi.

Sư vừa nghe nói dứt lời

Tức thời hốt hoảng kêu trời, khẽ than:

"Thật khó khăn! Thật nguy nan!

Thế nào vua rắn cũng làm hại ngay

Đòi con thường mạng, thảm thay

Khó mà trốn thoát nạn này được đâu!"

Tiểu Đinh sợ hãi van cầu

Xin sư chỉ cách nhiệm mầu cứu nguy.

Cúi đầu sư vội nghĩ suy

Hồi lâu lên tiếng từ bi giúp người:

"Chỉ còn cách tụng kinh thôi

May ra công đức do nơi lòng thành

Tạo ra một chút duyên lành

Cứu con thoát khỏi tội tình nghiệp oan!"

Sư bèn thả quả chuông vàng

Nới dây, hạ thấp xuống ngang hiên ngoài

Lệnh cho chú nhỏ vào ngồi

Khuyên luôn niệm Phật đồng thời cầu kinh,

Chuông vàng sư hạ xuống nhanh

Che cho chú nhỏ giấu mình bên trong,

Bên ngoài sư dốc một lòng

Mở kinh ngồi tụng vô cùng nghiêm trang

Khơi đèn, thắp nến, đốt nhang

Lạ thay khi mở kinh vàng ra xem

Không nhìn thấy chữ! Ngạc nhiên!

Trang kinh trắng xoá báo điềm tai ương

Mõ thời im tiếng chẳng vang

Dùi càng gõ mạnh mõ càng lặng câm

Sư lòng hoảng hốt vô ngần

Miệng luôn niệm Phật dốc tâm khẩn cầu.

Bỗng nhiên vua rắn từ đâu

Hiện ra giận giữ, cái đầu lắc lư

Đến ngay bên cạnh chỗ sư

Quấn chung quanh quả chuông xưa ba vòng

Vang lên tiếng rít hãi hùng

Và rồi sau đó lạnh lùng buông ra

Biến vào bóng tối nhạt nhoà

Ngoài song chánh điện trăng tà khuất mây.

Sư liền vội chạy đến ngay

Kéo chuông lên ngó trong đây thế nào

Thật là kinh khủng biết bao

Tiểu Đinh đã biến chốn nao mất rồi

Chỉ còn một vũng máu thôi

Dính quanh mớ tóc của người trẻ thơ.

Nhắm nghiền cặp mắt hiền từ

Sư lên tiếng niệm Phật A Di Đà

Một mình lẩm bẩm xót xa:

"Chót gây nghiệp dữ khó mà thoát đây

Nhân nào quả nấy xưa nay

Dễ gieo nhân ác, khó gây quả lành!"

Với tâm từ, với lòng thành

Ba ngày liên tiếp sư dành tụng kinh

Cầu cho chú nhỏ Tiểu Đinh

Linh hồn sớm được siêu sinh trọn bề.

(phỏng theo bản văn xuôi của PHẠM NGỌC KHUÊ)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 556)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 773)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1772)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1265)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1625)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1213)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1791)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3369)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4599)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4176)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S