20. Quỷ La Sát

29/11/201115:17(Xem: 5973)
20. Quỷ La Sát
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 3
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương
xuất bản 2004

(20)

QUỶ LA SÁT

Đoàn ca kịch nọ nổi danh

Kiếm ăn đi khắp tỉnh thành làng thôn

Diễn tuồng ác quỷ kinh hồn

Tuồng "Quỷ La Sát" luôn luôn hãi hùng

Người xem khen ngợi vô cùng

Diễn viên thật giỏi, tích tuồng thật hay.

Đoàn đi lưu diễn đó đây

Một lần ghé lại làng này kiếm ăn

Dân làng thích thú vô vàn

Say mê theo rõi những màn quỷ ma,

Khi đoàn chuẩn bị rời xa

Bà con lưu luyến thiết tha giữ đoàn

Có người dọa dẫm xa gần:

"Về chiều trời đã có phần tối tăm

Vượt khu rừng rất khó khăn

Lỡ ra bị kẹt phải nằm lại đêm

Nhiều rắc rối, lắm muộn phiền

Rừng này nổi tiếng là miền dữ hung

Quỷ La Sát nhiều vô cùng

Chi bằng đợi sáng đi không muộn gì!"

Mấy chàng kịch sĩ cười khì:

"Chúng tôi đâu có sợ chi quỷ nào

Chúng tôi là quỷ từ lâu

Đóng vai La Sát hằng bao năm trường!"

Thế rồi đoàn quyết lên đường

Sau khi từ biệt dân làng đôi câu.

Khu rừng hun hút thẳm sâu

Cả đoàn đi đã khá lâu lắm rồi

Màn đêm dày đặc khắp trời

Vẫn chưa qua khỏi được nơi rừng này

Thôi đành phải nghỉ lại đây

Nằm quanh một chỗ đêm nay lạnh lùng,

Bẻ cành cây, hốt lá rừng

Nhóm lên lửa ấm cháy bùng suốt đêm

Thay nhau ngồi gác luân phiên

Canh cho lửa cháy liên miên chẳng ngừng.

Nửa khuya sương xuống chập chùng

Khí trời buốt giá, hơi rừng lạnh căm

Mọi người say ngủ nằm lăn

Chàng ngồi canh lửa một thân tội tình

Rét run lẩy bẩy thân mình

Lấy đồ diễn kịch khoác nhanh lên người

Tạo thêm hơi ấm áp rồi

Gật gù bên lửa chàng ngồi lặng thinh,

Bộ đồ kia lại vô tình

Là đồ quỷ dữ hãi kinh diễn tuồng.

Rừng im lặng, lửa bập bùng

Chợt đâu có tiếng chim muông vang rền

Một người nằm ngủ cạnh bên

Giật mình thức giấc ngồi lên ngoái đầu

Nhìn người canh lửa thấy đâu

Thấy con quỷ dữ tóc râu rối bù

Quỷ La Sát ngồi gật gù

Cạnh bên đống lửa âm u, chập chờn

Anh chàng hoảng sợ hết hồn

Chồm lên vội chạy, miệng mồm kêu la:

"Quỷ La Sát! Bớ người ta!"

Cả đoàn thức dậy nghe mà thất kinh

Trong cơn mê hoảng thình lình

Tưởng rằng quỷ thật hiện hình chốn đây

Kịp đâu suy nghĩ. Khổ thay!

Nên cùng bỏ chạy theo ngay người đầu.

Chàng canh lửa giữa đêm thâu

Đang thiu thiu ngủ chợt đâu giật mình

Nghe kêu, tỉnh dậy, hoảng kinh

Thấy người ta chạy cũng đành nối đuôi

Tưởng rằng có quỷ tới nơi

Hét la, chạy hoảng theo người cho nhanh,

Chạy theo vẫn khoác trên mình

Bộ đồ quỷ dữ, răng nanh, mắt lồi.

Mọi người chạy một quãng rồi

Ngoái trông lui thấy ở nơi sau mình

Anh chàng canh lửa hiện hình

Giống như quỷ dữ đuổi nhanh tới gần

Thế là kinh hãi vô ngần

Lại càng chạy vội chẳng cần nghĩ suy...

Cảnh vui diễn giữa đêm khuya

Một đoàn hoảng hốt chạy đi điên khùng

Rượt nhau vấp ngã tưng bừng

Đều cùng khổ sở, đều cùng đớn đau

Trầy da, chảy máu, u đầu

Mệt nhoài, đuối sức, theo nhau nằm dài,

Đến khi biết rõ chuyện rồi

Cả đoàn thương tích đầy người, khổ thân!

Đời vì thành kiến sai lầm

Vô minh che lấp, xa gần đua nhau

Chạy theo ảo tưởng trước sau

Nên bao phiền não chuốc mau vào mình.

(phỏng theo bản văn xuôi trong TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 561)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 787)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1932)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1273)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1635)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1216)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1819)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3385)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4603)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4207)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S