12. Người Gieo Mạ

29/11/201115:17(Xem: 6411)
12. Người Gieo Mạ
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 3
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương
xuất bản 2004

(12)

NGƯỜI GIEO MẠ

Bình minh rực rỡ không gian

Nắng vàng phớt nhẹ trên làn cỏ xanh

Muôn chim đua hót trên cành

Mọi người sửa soạn tiến nhanh ra đồng

Cùng nhau lo việc canh nông

Cày sâu, cuốc bẫm cầu mong được mùa.

Phật Đà nhẹ bước chân đưa

Y vàng bình dị lại vừa trang nghiêm

Ngài đi khất thực trong miền

Tay ôm bình bát, dáng hiền, từ bi.

Khi đi ngang nhà giàu kia

Bạc tiền đầy ắp, thêm bề tiếng tăm

Phật dừng khất thực trước sân

Vừa khi gia chủ cúng thần buổi nay

Bao nhiêu lễ vật chất đầy

Cúng Thần Nông để mùa này thành công

Bà con đang tụ họp đông

Chợt nhìn thấy Phật một lòng như nhau

Người chắp tay, kẻ cúi đầu

Hay quỳ đảnh lễ trước sau tâm thành.

Lão nhà giàu nổi bất bình

Trong lòng sân hận nảy sinh, la rằng:

"Này Sa Môn có biết chăng

Tay chân ông đủ, cũng bằng người ta

Khoẻ thân người, tốt nước da

Mà không làm lụng thật là tệ thay

Sao xin ăn mãi hàng ngày?

Ta đây mưa nắng cấy cày khổ công

Lo lúa mạ, lo ruộng đồng

Cơm ăn mới có, mới hòng kiếm ra

Nếu ông chịu khó như ta

Giờ đây đâu nhọc thân mà xin ăn!"

*

Phật từ tốn khẽ dạy rằng:

"Ta đây làm lụng cũng bằng nhà nông

Cũng cày, cũng cấy khổ công

Cũng gieo mạ giữa ruộng đồng như ngươi

Lúa ăn ta cũng có thôi!"

Nhà giàu hách dịch cướp lời hỏi luôn:

"Ông sao mạo nhận nông dân

Vậy thời lúa giống rất cần thiết đâu,

Không cày bừa, chẳng bò trâu.

Làm sao sản xuất hoa mầu cho ra?"

Phật bèn giảng giải gần xa:

"Với ta hạt giống tức là đức tin;

Việc lành việc thiện tạo nên

Chính là mưa thuận lại thêm gió hòa

Thấm nhuần cho lúa tốt ra;

Còn như ý chí cao xa kiêu hùng

Thêm lòng nhẫn nại vô cùng

Là cày bừa tốt cho đồng ruộng kia;

Sự tinh tấn có khác chi

Trâu bò nông trại thường đi kéo cày;

Còn như trí tuệ tràn đầy

Là dây buộc để dắt ngay trâu bò;

Phần ta luôn mãi âu lo

Cán cân giới luật giữ cho thăng bằng!

Ta cày ta cấy thật hăng

Để trừ cỏ xấu xâm lăng tâm người

Đâm chồi nảy lộc khắp nơi

Cỏ làm khốn khổ cuộc đời chúng sinh,

Lúa mà ta gặt tốt lành

Là nơi tuyệt đối an bình vui tươi

Lìa xa thống khổ mãi thôi

Bất sinh, bất diệt, thảnh thơi Niết Bàn!"

Lời vàng quý giá vô vàn

Lão nhà giàu chợt ngỡ ngàng ngộ ra

Vốn thông minh, lại thật thà

Thêm bao nhiêu kiếp vừa qua duyên lành.

*

Chủ nhà bạch Phật tâm thành:

"Lâu nay đồn đãi quả tình không sai

Ngài là ngọn đuốc tuyệt vời

Đưa đường chỉ lối muôn loài chúng sinh

Từ vùng tăm tối u minh

Đến nơi sáng suốt tinh anh rỡ ràng!"

Nói xong ông lấy đĩa vàng

Mang cơm cung kính cúng dường ngay thôi,

Chắp tay bạch Phật đôi lời:

"Xin ngài hoan hỷ nhận nơi lễ này

Để con được có cơ may

Gieo trồng cho kiếp tới đây duyên lành!"

(phỏng theo bản văn xuôi của GIỚI ĐỨC)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 556)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 772)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1762)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1258)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1611)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1211)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1789)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3352)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4598)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4162)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S