
Với người biết làm chủ cuộc đời mình
bằng trí tuệ , sẽ nghĩ gì về Dòng Nghiệp Vận Hành ?
( bài giảng của Dalai Lama trên short Video của YouTube ) trong kênh của Tâm Hiền Hậu )
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ
Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
Đây là điểm học thuật rất quan trọng, Nghiệp trổ không chứng minh rằng ta tu tập sai, nghiệp trổ chỉ chứng minh rằng NHÂN QUÁ KHỨ ĐÃ ĐỦ DUYÊN.
Trong kinh Đức Phật đã phân biệt rõ “ Nghiệp đã chín ( Vipaka) nghiệp đang tạo ( Karma) , thế nhưng người không học Pháp trộn hai thứ làm một rồi tự kết luận “ TA TU MÀ VẪN KHỔ, VẬY TU ĐỂ LÀM GÌ ?
Còn người có chánh kiến thì biết rõ rằng, QUẢ ĐANG TRỔ , không đồng nghĩa với TA ĐANG TẠO NGHIỆP XẤU MỚI .
Và người vững vàng một niềm tin , chính lúc này, sẽ tự nhủ : TA SẼ KHÔNG TẠO THÊM NGHIỆP NGAY TRONG LÚC NGHIỆP ĐANG TRỔ, và khi khổ chạm đáy, dù tâm thức có khuynh hướng nói thầm: “TA CHÍNH LÀ KHỔ NÀY “ thì hãy nhớ ĐÂY LÀ SỰ ĐỒNG HOÁ NGUY HIỂM NHẤT
Trong Phật pháp, một chánh kiến vô ngã khi quán Thân thọ tâm pháp thì người giác ngộ chánh kiến vô ngã sẽ thấy rằng :
Quả Báo là hiện tượng, còn Thọ Khổ là trạng thái và cả hai đều sinh diệt do Duyên —- Không có cái Tôi nằm trong Quả Báo
Cần nhắc lại : Khi chư vị còn nói được “ KHỔ ĐANG XẢY RA” thì đã khác hoàn toàn với” TÔI LÀ NGƯỜI BỊ KHỔ “ khoảng cách đó tuy nhỏ nhưng chính là cột trụ không sụp . Đó cũng là ranh giới giữa phàm phu và thánh nhân, đứng vũng trước nghiệp báo, không phải là chịu đựng mà là thấy đúng vị trí của mình.
Trong kinh Phật gọi trạng thái này là KHÔ THỌ ĐƯỢC THẤY NHƯ THẬT, từ đó kết luận về bản thân cũng không thêm oán, thêm sợ hoặc cũng không bớt né tránh, buông xuôi , phủ nhận chỉ là KHỔ ĐANG ĐƯỢC BIẾT
Khi đó quả báo trọn vẹn , mà không NHÂN lên, tâm không gãy , dù thân đang chịu .
Đây là định lực sinh từ trí tuệ, không phải ý chí
Phiên tả sau khi nghe Huệ Hương 31/1/2026
Lời tạ ơn chân thành .
Nếu cuối tháng 11 hằng năm tại Mỹ và Canada có lễ tạ ơn ( Thanksgiving) để tri ân cuộc sống no đủ thì người Việt tại nhiều vùng quê cũng có nghi thức truyền thống quan trọng lễ tạ ơn cuối năm vào ngày 16 tháng 12 âm lịch ( tạ ơn trời đất, tổ tiên sau một năm) ngày này trước 1 tuần, lễ đưa ông Táo .
Đây cũng là dịp để nhìn lại, tri ân và chuẩn bị đón nhận những điều may mắn trong năm mới.
Bàn thờ cúng thường là lộ thiên gồm hoa, trái cây và xôi chè ( đặc biệt chè trôi nước ) vào lúc 12 giờ trưa (Giờ Ngọ) là lúc mặt trời đứng bóng, năng lượng dương mạnh mẽ nhất, tượng trưng cho sự sáng tỏ và chính trực.
Người viết hơn 15 năm nay vẫn tuân thủ nghi thức này vì nhận thấy quả thật đã trải nghiệm hạnh phúc khi tiếp nhận bao điều linh ứng từ những lời cầu nguyện . Kính chia sẻ những lời tạ ơn qua những dòng thơ xuất phát từ trái tim với tinh thần tự tại vô sở cầu như bài giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma, và những yếu tố cốt lõi để tạo nên sự tạ ơn chân thành theo cả góc độ văn hóa và tâm linh .
"Kính lạy
Hồn thiêng sông núi, Tổ tiên nguồn cội,
Mượn nén tâm hương, kính tỏ bày:
những điều tốt đẹp con đã tiếp nhận
Chắc chắn không phải là hiển nhiên.
Mà chính do “Ơn trên đáp ứng lòng thiền”
Nay trong ngày lễ tạ ơn linh thiêng
Đôi lời lời tâm huyết, với tất cả an định.
Tuy mộc mạc nhưng xuất phát từ trái tim.
Khấn rằng “ những ân lành đã thành tựu “
nguyện đa tạ trân kính
Tín tâm nuôi lớn , thị phi gác ngoài
Hương trầm nhẹ tỏa, rọi soi đêm ngày
Hân hoan chắp búp tay sen thầm đọc lời dạy
Nguyện ….dù trước những biến động của thời đại!
Sẽ như từng đốm lửa chân thật thắp sáng
Mọi ưu phiền liền hóa thành mây
mọi hiểm nguy hóa lành.
Nguyện không danh tướng đua tranh,
Khiêm nhường thuần khiết ,
lòng thành như gương.
Dẫu đời vạn nẻo tơ vương,
Tâm không vướng bận,
mười phương nhẹ nhàng."
Nguyện đủ tỉnh, không buộc ràng
“Biết ơn “ hạt giống thênh thang tạ người
Nguyện không chứng tỏ với đời,
Thong dong tự tại, mỉm cười an nhiên
Nguyện cho chân cứng đá mềm,
Sống đời tỉnh thức, ấm êm cõi lòng."
Và cuối cùng
Nguyện cho con nhận ra được
mình nhỏ bé giữa nhân gian
Trong mọi hành động tử tế của con
đủ bao dung
để không cần chứng minh mình đúng, sai
Và mãi mãi mang lại bình an
đến tự thân và mọi người xung quanh."
Kính trân trọng
Phật tử Huệ Hương
——————
Phụ lục
——Yếu tố để tạo nên sự tạ ơn chân thành
- Sự Nhận Biết (Acknowledgment): Đây là bước đầu tiên. Bạn cần tĩnh lặng để nhìn lại và gọi tên chính xác những ơn lành, sự giúp đỡ hay những lời cầu nguyện đã được đáp ứng. Sự chân thành bắt đầu khi ta không xem những điều tốt đẹp là hiển nhiên.
- Lòng Khiêm Cường (Humility): Để tạ ơn thật lòng, ta cần hạ thấp cái tôi và thừa nhận rằng những thành quả có được không chỉ do nỗ lực cá nhân mà còn nhờ vào ơn trên, tổ tiên, hoặc sự hỗ trợ từ cộng đồng.
- Sự Thành Thật (Sincerity): Lời tạ ơn phải xuất phát từ cảm xúc thật bên trong thay vì chỉ là một nghi thức mang tính "giao dịch" hay trả lễ. Hãy nói hoặc cầu nguyện bằng những lời lẽ mộc mạc nhưng xuất phát từ trái tim.
- Sự Hiện Diện (Presence): Sự chân thành đòi hỏi bạn phải hoàn toàn tập trung vào phút giây hiện tại của buổi lễ. Tránh sự lo ra hay làm cho có lệ.
- Hành Động Đền Đáp (Action/Generosity): Một sự tạ ơn trọn vẹn thường dẫn đến mong muốn lan tỏa lòng tốt. Theo biết ơn cần được thể hiện đúng cách thông qua việc giúp đỡ người khác hoặc đóng góp cho cộng đồng từ những gì mình đã nhận được.
- Sự Kết Nối (Relatedness): Buổi lễ là dịp để thắt chặt tình thân và sự gắn kết với nguồn cội, tổ tiên và những người xung quanh.
—- Trích đoạn Lời cuối của bài giảng trên YouTube ngày 30/1/2026 (short video của Đức Đạt lai Lạt Ma về GIỮ THÂN TÂM KHÔNG SỤP ĐỔ KHI NGHIỆP TRỔ “)
…..Người có trí huệ thấy nghiệp trổ thì biết đây chính là “ Bài kiểm tra của Vô Minh”
vì nếu ta còn hỏi “tại sao bao giờ tôi mới hết khổ ?, hoặc tôi không chịu nổi nữa , thì khi ấy vô minh còn nắm quyền .
Người đứng vững giữa nghiệp đang khổ, không phải là làm cho KHỔ biến mất mà là “ không để KHỔ BIẾN TA THÀNH NGƯỜI TẠO NGHIỆP MỚI “
Một khi trí tuệ phát sinh , thì người ấy để nghiệp cũ trổ cho xong thì nghiệp mới không có cơ hội sinh ra. Đó là điểm chuyển nghiệp sâu nhất, và trong hành trình tu tập họ sẽ bước vào tầng cao hơn , họ đã được chư thiên, chư thiện thần hết lòng hộ trì.
Cần có một chánh kiến rằng: Giải thoát khỏi trói buộc không phải là nghiệp khổ hoàn toàn biến mất mà chỉ là NGHIỆP KHÔNG CÒN QUYỀN SAI KHIẾN
Thân ta vẫn chịu lão hóa, bịnh đến , những điều kiện xã hội hệ quả nhan duyên cũ, nhưng TÂM THÌ KHÔNG CÒN BỊ DAO ĐỘNG
Trong kinh , trạng thái này được mô tả HÀNH MÀ KHÔNG CHẤP THỦ , THỌ MÀ KHÔNG ĐỒNG HOÁ “ đây không phải là hiện tượng thần bí ở mà chỉ là SỰ CHUYỂN HOÁ CẤU TRÚC VẬN HÀNH CỦA TÂM .
Bấy giờ Tâm không vội phản ứng,
đây là sự thoái hóa ngã chấp và là sự tự tại nhất ở chiều sâu
TỰ TẠI KHÔNG PHẢI LÀ MUỐN GÌ CŨNG ĐƯỢC, MÀ LÀ KHÔNG BỊ ÉP PHẢI LÀM , VÀ KHÔNG CẦN PHẢI CHỨNG MINH MÌNH LÀ AI !