Với người biết làm chủ cuộc đời mình bằng trí tuệ , sẽ nghĩ gì về Dòng Nghiệp Vận Hành ?

31/01/202618:41(Xem: 1726)
Với người biết làm chủ cuộc đời mình bằng trí tuệ , sẽ nghĩ gì về Dòng Nghiệp Vận Hành ?

dalailama-2a
Với người biết làm chủ cuộc đời mình
bằng trí tuệ , sẽ nghĩ gì về Dòng Nghiệp Vận Hành ? 

( bài giảng của Dalai Lama trên short Video của YouTube ) trong kênh của Tâm Hiền Hậu ) 



Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ 

Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên  cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .

Đây là điểm học thuật rất quan trọng, Nghiệp trổ không chứng minh rằng ta tu tập sai, nghiệp trổ chỉ chứng minh rằng NHÂN QUÁ KHỨ ĐÃ ĐỦ DUYÊN.

Trong kinh Đức Phật đã phân biệt rõ “ Nghiệp đã chín ( Vipaka) nghiệp đang tạo ( Karma) , thế nhưng người không học Pháp trộn hai thứ làm một rồi tự kết luận “ TA TU MÀ VẪN KHỔ, VẬY TU ĐỂ LÀM GÌ ? 

Còn người có chánh kiến thì biết rõ rằng, QUẢ ĐANG TRỔ , không đồng nghĩa với TA ĐANG TẠO NGHIỆP XẤU MỚI .

Và người  vững vàng một niềm tin , chính lúc này, sẽ tự nhủ :  TA SẼ KHÔNG TẠO THÊM NGHIỆP NGAY TRONG LÚC NGHIỆP ĐANG TRỔ, và khi khổ chạm đáy, dù tâm thức có khuynh hướng nói thầm: “TA CHÍNH LÀ KHỔ NÀY “ thì hãy nhớ ĐÂY LÀ SỰ ĐỒNG HOÁ NGUY HIỂM NHẤT 

Trong Phật pháp, một chánh kiến vô ngã khi quán Thân thọ tâm pháp thì người giác ngộ chánh kiến vô ngã sẽ thấy rằng : 

Quả Báo là hiện tượng, còn Thọ Khổ là trạng thái và cả hai đều sinh diệt do Duyên —- Không có cái Tôi nằm trong Quả Báo

Cần nhắc lại : Khi chư vị còn nói được   “ KHỔ ĐANG XẢY RA” thì đã khác hoàn toàn với” TÔI LÀ NGƯỜI BỊ KHỔ “ khoảng cách đó tuy nhỏ nhưng chính là cột trụ không sụp . Đó cũng là ranh giới giữa phàm phu và thánh nhân, đứng vũng trước nghiệp báo, không phải là chịu đựng mà là thấy đúng vị trí của mình.

Trong kinh Phật gọi trạng thái này là KHÔ THỌ ĐƯỢC THẤY NHƯ THẬT,  từ đó kết luận về bản thân cũng không thêm oán, thêm sợ hoặc cũng không bớt né tránh, buông xuôi , phủ nhận chỉ là KHỔ ĐANG ĐƯỢC BIẾT 

Khi đó quả báo trọn vẹn , mà không NHÂN lên, tâm không gãy , dù thân đang chịu .

Đây là định lực sinh từ trí tuệ, không phải ý chí 

Phiên tả sau khi nghe Huệ Hương 31/1/2026


dalai-lama2a

Lời tạ ơn chân thành .

Nếu cuối tháng 11 hằng năm tại Mỹ và Canada có lễ tạ ơn ( Thanksgiving) để tri ân cuộc sống no đủ thì người Việt  tại nhiều vùng quê  cũng có nghi thức truyền thống quan trọng lễ tạ ơn cuối năm vào ngày 16  tháng 12 âm lịch ( tạ ơn trời đất, tổ tiên sau một năm) ngày này trước 1 tuần,  lễ đưa ông Táo . 

Đây cũng là dịp để nhìn lại, tri ân và chuẩn bị đón nhận những điều may mắn trong năm mới. 

Bàn thờ cúng thường là lộ thiên gồm hoa, trái cây và xôi chè ( đặc biệt chè trôi nước ) vào lúc  12 giờ trưa (Giờ Ngọ) là lúc mặt trời đứng bóng, năng lượng dương mạnh mẽ nhất, tượng trưng cho sự sáng tỏ và chính trực.

Người viết hơn 15 năm nay vẫn tuân thủ nghi thức này vì nhận thấy quả thật đã trải nghiệm hạnh phúc khi tiếp nhận bao điều linh ứng từ những lời cầu nguyện . Kính chia sẻ những lời tạ ơn qua những dòng thơ xuất phát từ trái tim với tinh thần tự tại vô sở cầu như bài giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma, và những yếu tố cốt lõi để tạo nên sự tạ ơn chân thành theo cả góc độ văn hóa và tâm linh .

"Kính lạy

Hồn  thiêng sông núi, Tổ tiên nguồn cội,

Mượn  nén tâm hương, kính tỏ bày: 

những điều tốt đẹp  con đã tiếp nhận 

Chắc chắn không  phải  là hiển nhiên.

Mà chính do  “Ơn trên đáp ứng lòng thiền” 

Nay trong ngày lễ tạ ơn linh thiêng 

Đôi lời lời tâm huyết, với tất cả  an định.

Tuy mộc mạc nhưng xuất phát từ trái tim.

Khấn rằng “ những ân lành đã thành tựu “ 

nguyện đa tạ trân  kính

Tín tâm nuôi lớn , thị phi gác ngoài 

Hương trầm nhẹ tỏa, rọi  soi đêm ngày 

Hân hoan chắp búp tay sen thầm đọc  lời dạy 

Nguyện ….dù trước những biến động của thời đại!

Sẽ như từng đốm lửa chân thật  thắp sáng

Mọi ưu phiền liền hóa thành mây 

mọi hiểm nguy hóa lành.

Nguyện không danh tướng đua tranh,

Khiêm nhường  thuần khiết , 

lòng thành như gương.

Dẫu đời vạn nẻo tơ vương,

Tâm không vướng bận, 

mười phương nhẹ nhàng."

Nguyện  đủ tỉnh, không buộc ràng 

“Biết ơn “ hạt  giống thênh thang tạ người 

Nguyện không chứng tỏ với đời,

Thong dong tự tại, mỉm cười an nhiên 

Nguyện cho chân cứng đá mềm,

Sống đời tỉnh thức, ấm êm cõi lòng."

Và cuối cùng 

Nguyện cho con nhận ra được 

mình nhỏ bé giữa nhân gian 

Trong mọi hành động tử tế của con 

đủ bao dung 

để không cần chứng minh mình đúng, sai 

Và mãi mãi mang lại bình an 

đến tự thân và  mọi người xung quanh."

Kính trân trọng 

Phật tử Huệ Hương 

——————

Phụ lục 

——Yếu tố để tạo nên sự tạ ơn chân thành 

  • Sự Nhận Biết (Acknowledgment): Đây là bước đầu tiên. Bạn cần tĩnh lặng để nhìn lại và gọi tên chính xác những ơn lành, sự giúp đỡ hay những lời cầu nguyện đã được đáp ứng. Sự chân thành bắt đầu khi ta không xem những điều tốt đẹp là hiển nhiên.
  • Lòng Khiêm Cường (Humility): Để tạ ơn thật lòng, ta cần hạ thấp cái tôi và thừa nhận rằng những thành quả có được không chỉ do nỗ lực cá nhân mà còn nhờ vào ơn trên, tổ tiên, hoặc sự hỗ trợ từ cộng đồng.
  • Sự Thành Thật (Sincerity): Lời tạ ơn phải xuất phát từ cảm xúc thật bên trong thay vì chỉ là một nghi thức mang tính "giao dịch" hay trả lễ. Hãy nói hoặc cầu nguyện bằng những lời lẽ mộc mạc nhưng xuất phát từ trái tim.
  • Sự Hiện Diện (Presence): Sự chân thành đòi hỏi bạn phải hoàn toàn tập trung vào phút giây hiện tại của buổi lễ. Tránh sự lo ra hay làm cho có lệ.
  • Hành Động Đền Đáp (Action/Generosity): Một sự tạ ơn trọn vẹn thường dẫn đến mong muốn lan tỏa lòng tốt. Theo  biết ơn cần được thể hiện đúng cách thông qua việc giúp đỡ người khác hoặc đóng góp cho cộng đồng từ những gì mình đã nhận được.
  • Sự Kết Nối (Relatedness): Buổi lễ là dịp để thắt chặt tình thân và sự gắn kết với nguồn cội, tổ tiên và những người xung quanh. 

—- Trích đoạn  Lời cuối của bài giảng trên YouTube ngày 30/1/2026 (short video của Đức Đạt lai Lạt Ma về GIỮ THÂN TÂM KHÔNG SỤP ĐỔ KHI NGHIỆP TRỔ “) 

…..Người có trí huệ thấy nghiệp trổ thì biết đây  chính là “ Bài kiểm tra của Vô Minh” 

vì nếu ta còn hỏi “tại sao bao giờ tôi mới hết khổ ?, hoặc tôi không chịu nổi  nữa , thì khi ấy vô minh còn nắm quyền .

Người đứng vững giữa nghiệp đang khổ, không phải là làm cho KHỔ biến mất mà là “ không để KHỔ BIẾN TA THÀNH NGƯỜI TẠO NGHIỆP MỚI “ 

Một khi trí tuệ phát sinh , thì người ấy để nghiệp cũ trổ cho xong thì nghiệp mới không có cơ hội sinh ra. Đó là điểm chuyển nghiệp sâu nhất, và trong hành trình tu tập họ sẽ bước vào tầng cao hơn , họ đã được chư thiên, chư thiện thần hết lòng hộ trì. 

Cần có một chánh kiến rằng:  Giải thoát khỏi trói buộc không phải là nghiệp khổ hoàn toàn biến mất mà chỉ là NGHIỆP KHÔNG CÒN QUYỀN SAI KHIẾN 

Thân ta vẫn chịu lão hóa, bịnh đến , những điều kiện xã hội hệ quả nhan duyên cũ, nhưng TÂM THÌ KHÔNG CÒN BỊ DAO ĐỘNG 

Trong kinh , trạng thái này được mô tả HÀNH MÀ KHÔNG CHẤP THỦ , THỌ MÀ KHÔNG ĐỒNG HOÁ “ đây không phải là hiện tượng thần bí ở mà chỉ là SỰ CHUYỂN HOÁ CẤU TRÚC VẬN HÀNH CỦA TÂM . 

Bấy giờ Tâm không vội phản ứng, 

đây là sự thoái hóa ngã chấp và là sự tự tại nhất ở chiều sâu 

TỰ TẠI KHÔNG PHẢI LÀ MUỐN GÌ  CŨNG ĐƯỢC, MÀ LÀ KHÔNG BỊ ÉP PHẢI LÀM , VÀ KHÔNG CẦN PHẢI CHỨNG MINH MÌNH LÀ AI ! 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 536)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 743)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1246)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1596)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1181)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1772)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3338)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4588)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4122)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S
27/07/2025(Xem: 2995)
Thành đô rực rỡ muôn ánh đèn màu, những con đường nhộn nhịp người qua laị. Nam thanh nữ tú dập dìu dưới những tàng cây hoa vàng hai bên đường, thỉnh thoảng những cơn gió nhẹ thổi qua làm cho những bông hoa rơi xuống như mưa, chẳng mấy chốc là dập nát dưới những bàn chân vô tình. Âm thanh tưng bừng từ những chiếc loa hoà lẫn với tiếng cười đùa, tiếng quảng cáo từ rạp xiếc thú dã chiến dựng ở một góc công viên. Thỉnh thoảng người ta nghe tiếng rống của voi, tiếng gầm của sư tử… nhưng chỉ phút giây là hoà tan vào giữa vô số âm thanh của dòng đời.