Thư gửi mẹ của lính người Úc được tìm thấy sau hơn 100 năm lưu lạc

03/11/202514:15(Xem: 1772)
Thư gửi mẹ của lính người Úc được tìm thấy sau hơn 100 năm lưu lạc

Malcolm Alexander Neville-2

Thư gửi mẹ của lính người Úc được tìm thấy sau hơn 100 năm lưu lạc



Australia: Lá th
ư trong chai ca ngưi lính thi Thế chiến I viết gi m năm 1916 đưc tìm thy trên bãi bin Wharton sau hơn 100 năm trôi dt và b cát chôn vùi.

Gia đình bà Debra Brown hi cui tháng 10 nht rác trên bãi bin Wharton, gn Esperance bang Tây Australia thì phát hin mt chai thy tinh còn nguyên vn, bên trong cha lá thư đưc viết vi bng bút chì ca hai ngưi lính t thi Thế chiến I.



Trong bc thư đ ngày 15/8/1916, hai ngưi lính cho biết h là binh nhì Malcolm Alexander Neville, 27 tui, và William Harley, 37 tui. H viết thư trên chiến hm HMAT A70 Ballarat va khi hành t thành ph Adelaide ngày 12/8/1916 đ ti tăng vin cho Tiu đoàn B binh 48 Australia đang chiến đu châu Âu.



Thư ca Neville đưc viết cho m ca anh là bà Robertina Neville th trn nh Wilkawatt, Nam Australia. "M yêu quý, bn con đang có quãng thi gian tht s vui v, thc ăn rt ngon, tr mt ba mà chúng con phi đ xung bin", anh viết. "Chiếc tàu Ballarat đang chòng chành d di, nhưng chúng con rt vui", anh k tiếp. "Malcolm, con trai yêu quý ca m... đang đâu đó ngoài khơi".



Chai thủy tinh chứa thư
Chai th
y tinh cha thư ca hai binh sĩ Australia viết năm 1916
đưc gia đình bà Brown tìm thy hi cui tháng 10. nh: ABC


Ngưi lính này đ ngh ngưi tìm thy bc thư gi nó cho m anh. Mt năm sau, Neville hy sinh trong ngày đu tiên ca trn Bullecourt ngày 11/4/1917 ti Pháp.

Trong khi đó, Harley viết rng ngưi tìm thy bc thư có th gi nó vì m anh đã qua đi, và chúc h "mnh khe như chúng tôi hin nay". Harley sng sót sau cuc chiến và qua đi Adelaide năm 1934.

Theo bà Brown, cái chai có l đã dt vào bãi bin t lâu và b vùi dưi cn cát, ch l ra sau khi vài cơn bão gn đây. "Nếu cái chai trôi dt trên bin sut 109 năm, nút bn có l đã phân hy, chai s chìm xung đáy bin", bà nói.

Sau khi đc ni dung thư bên trong, bà Brown đã tìm kiếm và thy tên ca Neville trên trang web ca Đài tưng nim Chiến tranh Australia. "Bi ông y không tr v, không v con, nên không có nhiu thông tin trên Internet", bà nói.

Bà tiếp tc tìm kiếm thông tin v m ca Neville Wilkawatt và tìm thy cht ca ông, Herbie Neville, ti Alice Springs và gi đin thông báo.


"K t đó, tt c h hàng ca ông y và nhng ngưi liên lc vi tôi đu vui mng trưc phát hin này", bà nói.



Malcolm Alexander Neville
Binh nhì Malcolm Alexander Neville. nh: ABC

Malcolm Alexander Neville-2

Thư viết tay bng bút chì ca Neville gi mnh: ABC

 


Bryce Abraham, ngưi qun lý đài tưng nim, cho hay Neville ch cao 1,57 m và đã nhiu ln đăng ký nhp ngũ phc v đt nưc trong Thế chiến I.



"Ông y rt thú v, nhiu ln xin nhp ngũ mà không đưc vì không đ chiu cao và th lc nhưng vn kiên trì. Đáng bun là ch sau hai tháng Mt trn phía Tây, ông y đã hy sinh", Abraham nói.

Neville đưc chôn ct ti mt nghĩa trang London và là mt trong 4 ngưi trong gia đình thit mng trong Thế chiến I. Tàu Ballarat cũng trúng ngư lôi, chìm xung bin vào tháng 4/1917.



Chai đng thư mà gia đình bà Brown tìm thy là cái th 4 đưc phát hin dc b bin Adelaide và Perth sau khi nhng binh sĩ đi tàu đến châu Âu năm 1916 th chúng xung bin.

Hng Hnh (Theo Guardian)

https://vnexpress.net/thu-gui-me-cua-linh-duoc-tim-thay-sau-hon-100-nam-luu-lac-4959051.html

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 536)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 744)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1729)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1246)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1596)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1181)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
25/08/2025(Xem: 3339)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4589)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4122)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S
27/07/2025(Xem: 2995)
Thành đô rực rỡ muôn ánh đèn màu, những con đường nhộn nhịp người qua laị. Nam thanh nữ tú dập dìu dưới những tàng cây hoa vàng hai bên đường, thỉnh thoảng những cơn gió nhẹ thổi qua làm cho những bông hoa rơi xuống như mưa, chẳng mấy chốc là dập nát dưới những bàn chân vô tình. Âm thanh tưng bừng từ những chiếc loa hoà lẫn với tiếng cười đùa, tiếng quảng cáo từ rạp xiếc thú dã chiến dựng ở một góc công viên. Thỉnh thoảng người ta nghe tiếng rống của voi, tiếng gầm của sư tử… nhưng chỉ phút giây là hoà tan vào giữa vô số âm thanh của dòng đời.