Do PT Diệu Danh diễn đọc
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. Tôi chưa bao giờ làm bạn hay chơi chung với những đứa trẻ con nhà giàu. Bạn của tôi phần lớn là con của một tiểu công chức, một ông thợ mộc, một bác thợ may, một ông thợ rèn, một ông đạp xích-lô. Hay có khi mẹ chúng nó chỉ là một bà bán bún, bán rau ngoài chợ, hay gánh nước mướn cho bà con hàng xóm. Vì trưởng thành ở nơi bùn lầy nước đọng và chia xẻ cuộc sống với giai cấp bình dân gần hai mươi năm trời cho nên mặc dù sau này tôi có tốt nghiệp đại học nhưng tình cảm và ngôn ngữ của tôi vẫn là tình cảm và ngôn ngữ của giai cấp thợ thuyền. Đó là thứ ngôn ngữ không gọt giũa khách sáo, chân tình nhưng hơi thô lỗ có khi trở nên cọc cằn. Đó là thứ tình cảm không toan tính, nghĩ sao nói vậy.
Dĩ nhiên cuộc sống của giới cần lao là đau khổ nhưng đó là cuộc sống có tình lân lý và sẵn sàng chia xẻ những gì của đời sống riêng tư với người lối xóm. Mà thật ra giai cấp nghèo khổ có cái gì gọi là riêng tư khi tổ ấm của họ chỉ là những căn nhà tôn, nhà lá chung vách hay có khi chỉ ngăn đơn sơ bằng những tấm lá hay những mảnh giấy cạc-tông? Đó là hình ảnh của Chị Lài ngồi trước cửa vừa vạch vú cho con bú vừa kể tội Anh Lài đạp xích lô đã đánh chị như thế nào, đã cắn vào vú chị như thế nào, đã đè chị như thế nào. Đó là hình ảnh của Bà Ba bán bánh canh gây lộn với chồng, quăng quật, chửi bới náo động như một đám giặc, tối qua nhà người hàng xóm ngủ nhờ, rồi sáng hôm sau lại cười rỏn rẻn trở về nhà làm lành với chồng… mà chẳng cần phải gọi 911 kinh động tới cảnh sát, tòa án, luật sư. Đó là hình ảnh của những đám cưới, đám ma mà người lối xóm xúm xít lại phụ giúp căng lều, căng sạp như truyền thống thân thương của làng quê. Cả cái thế giới ấy đã tạo cho tôi thành một con người mà khi lớn lên tôi nhận ra rằng tôi dễ gần gũi và chia xẻ với giai cấp nghèo khổ hơn là những giai cấp khác. Ngày hôm nay nhìn những đứa trẻ sinh ra ở Mỹ hoặc may mắn định cư ở nơi quá thừa thãi vật chất, tôi thắc mắc tự hỏi không biết tình cảm của những đứa bé này có giống tình cảm của những đứa bé khát khao từng cái bánh, cái kẹo, một con búp bê, một món đồ chơi, ước mơ có được bộ quần áo mới mặc trong những ngày Tết ? Và khi lớn lên, những đứa trẻ trưởng thành trong môi trường thừa thãi vật chất như thế chúng nó có trở thành những con người khác biệt không ? Nhãn quan xã hội, cái nhìn của chúng nó đối với giai cấp nghèo khổ như thế nào? Chúng nó có biết thương người nghèo khó không ? Với lời mở đầu như thế tôi, tôi xin mời quý vị bước vào quãng đời thơ ấu của tôi.
Tôi sinh năm 1942 (Nhâm Ngọ) ở Thành Phố Hải Phòng nhưng quê cha đất tổ là Làng Khúc Thủy, Huyện Thanh Oai, Tỉnh Hà Đông. Khi quân Pháp đổ bộ Hải Phòng năm 1946, gia đình chạy vào vùng “hậu phương kháng chiến” bố tôi đã phải đốt hết tất cả giấy tờ khai sinh lúc bấøy giờ đều viết bằng tiếng Pháp để tránh bị vu cho tội “Việt Gian”. Khi trở về “thành” ông cụ lấy lại khai sinh và tăng tất cả anh chị em chúng tôi mỗi người một tuổi với lý do nhà nghèo chúng tôi không thể học nhiều và sẽ phải đi làm sớm. Do đó giấy tờ từ đó đến giờ đều ghi tôi sinh năm 1941. Ngoài ra ông cụ cũng đổi luôn cả ngày sinh tháng đẻ của tất cả anh chị em chúng tôi. Để cho dễ nhớ, ông cụ đã cho anh chị em chúng tôi những ngày sinh mới như mùng 4 Tháng 4, mùng 5 Tháng 5. Do đó cái ngày sinh mùng 8 Tháng 8 cũng không phải là ngày sinh thật của tôi.
`````Thời thơ ấu của tôi là một chuỗi ngày dài nghịch ngợm, phá làng phá xóm ở Phố Đình Đông, Hàng Kênh -Hải Phòng. Chạy ngoằn ngoèo từ Ngã Ba Cánh Gà tới Quán Bà Mau là một con đường trải đá chỗ lồi, chỗ lõm, chỗ ổ gà ngập nước, chỗ gồ lên như sống trâu có lẽ chưa bao giờ được tu bổ từ khi người ta khởi đầu xây dựng con đường này từ Thời Thực Dân Pháp. Hai bên đường những cây phượng vĩ hoa đỏ rực làm cho cái nắng hè của Tháng Bảy càng thêm chói chan. Dường như để tránh cái nóng oi bức, mọi sinh hoạt cũng ngừng nghỉ vào buổi trưa cho nên con đường trở nên hoang vắng. Thỉnh thoảng một chiếc xe đạp cô đơn, nặng nhọc nghiến bánh trên con đường, chở theo một bóng người đang cúi rạp mình dưới chiếc nón lá. Một người phu xe ba-gác, đầu gối vào bực thềm của một căn nhà, miệng há hốc đang mơ màng thiếp đi vào giấc ngủ chập chờn. Ngay dưới bóng râm của một cây phượng vĩ cổ thụ cành lá sum suê, một vài thằng bé đang đánh bi. Chúng nó cửi trần, mặc quần đùi, đi chân đất, say mê như những người thợ khéo đang gò mình mải mê với tác phẩm. Cả thế giới và thiên đường của chúng nó bây giờ là những hòn bi ve đang lăn tròn trên mặt đất. Đấy là hình ảnh của tôi trong những buổi trưa hè oi ả của Phố Hàng Kênh, Hải Phòng. Nhưng có khi cuộc chơi của tôi bị gián đoạn bởi bà nội thức giấc, cầm theo chiếc roi bước ra ngoài đét vào đít tôi vài cái và bắt tôi ngưng chơi để về ngủ trưa. Tôi mê chạy nhảy trên các cánh đồng thả diều. Tôi lang thang vào các xóm bắn chim, ra tận Quán Bà Mau tức Phố Cô Đầu để câu cá, la cà trên các vỉa hè, trên các Phố Tây để nhặt bàng, nhặt sấu, xem đồng bóng ở Vườn Hoa Chéo, Đền Bà Đồng Tiên, đánh bi, đánh đáo, đánh khăng, đánh vụ, đá cầu, xem Tây đá bóng ở sân Vườn Hoa Con Cóc và Stade de Hải An, tắm ở Hồ Ba Keng, Bến Đò Bính, xem chiếu bóng ở Rạp Việt Nhi với những phim giễu như Laurel and Hardy mà chúng tôi gọi là “Thằng Béo, Thằng Gầy”, những phim trinh thám đối thoại bằng tiếng Pháp chẳng hiểu cốt truyện gì cả mà chỉ gọi đó là “Thằng Vai Chính, Thằng Gian và Vợ Thằng Vai Chính”. Tôi mê món sấu dầm, táo dầm và lạc rang bán ở rạp chiếu bóng này. Tôi còn coi những phim Tàu thuộc loại tình cảm xã hội rất ủy mị chuyển âm ra tiếng Việt chiếu ở Rạp Wa-Wa do cô đào Lý Lệ Hoa đóng vai chính như Áo Người Trinh Nữ, Thằng Mù Cõng Thằng Què làm tôi khóc hoài. Rồi mỗi tối tôi và bọn trẻ chơi trò đuổi bắt gọi là “xì đùng”, tụ tập tại một góc phố tranh nhau kể chuyện ma, chuyện kiếm hiệp hoặc những phim mà những thằng bạn chưa được coi, múa sư tử vào dịp Tháng Tám và bị bố tôi đánh những trận đòn tôi còn nhớ mãi tới giờ. Tuổi thơ đó đã được tôi minh họa trong bài thơ Giấc Mơ Của Tôi sáng tác năm 1998:
Giấc mơ của tôi thật đơn sơ.
Ngày người ta chôn cộng sản vào mồ.
Tôi sẽ tìm về nơi chôn nhau cắt rốn,
Khi tôi còn là cậu bé ngu ngơ.
Cậu bé đầu húi court chân đi đất.
Quần đùi thôi, thiếu áo phải cửi trần.
Đời chưa văn minh quần thắt bằng giải rút.
Không thuộc bài phải quỳ gối giữa sân.
Tôi mơ được trèo lại cây sung cổ thụ,
Cành la đà rủ xuống bờ ao.
Tôi mơ màng nhìn cánh bèo trôi giạt.
Vài con cá rô đớp nước lao xao.
Những buổi trưa hè nắng như đổ lửa,
Đuổi chuồn chuồn, câu cá, tắm hồ sen.
Tối tụ nhau ở một góc thân quen,
Tranh nhau kể truyện thần tiên mộng mị.
Chiều nắng nhạt vàng trên đồng lúa chín.
Cánh diều bay cao đến chín từng mây.
Sáo diều ngân làm thằng bé ngất ngây.
Mơ con sáo, con chim làm bạn nhỏ.
Mùa đôâng đến mơ lạc rang, hạt dẻ.
Gió bấc về lạnh buốt cả thịt xương.
Đụn rơm chui sao ấm cúng lạ thường.
Thương bầy sếu phải tìm phương trốn lạnh.
Tôi thăm hỏi những con đường xưa cũ.
Cây phượng già còn đứng đó nữa không ?
Những vỉa hè những con ngõ thân thương.
Trưa trốn ngủ để mài bi, đánh đáo.
Có một điều rất lạ tôi không hiểu tại sao, có lẽ do truyền thống, hầu hết những trò chơi của trẻ thơ Miền Bắc thuộc lứa tuổi của tôi lúc bấy giờ đều có liên quan đến thi, ca, hò, vè. Khi tôi di cư vào Nam năm 1954 lúc mới mười hai tuổi, tôi thấy các trò chơi của trẻ con Miền Nam cùng tuổi với tôi, hoặc lớn hơn hoặc nhỏ hơn không bao giờ có liên quan đến thi ca hò vè. Chẳng hạn tại Miền Bắc chúng tôi hay chơi trò Rồng Rắn Lên Mây với những câu đồng dao mà tôi còn nhớ được như sau:
Rồng rắn lên mây,
Có cây lúc lắc,
Có nhà điểm binh,
Thầy thuốc có nhà không ?
Sau vài lần từ chối thì thầy thuốc cho vào nhà, câu đồng dao tiếp nối như sau:
Cho khúc đầu,
Cùng xương cùng xẩu,
Cho khúc giữa,
Cùng máu cùng mê,
Xin khúc đuôi,
Tha hồ thầy đuổi.
Khi thấy trời sắp mưa, nhất là vào mùa hè, bọn trẻ chúng tôi hay hát:
Lạy Trời mưa xuống.
Lấy nước tôi uống,
Lấy ruộng tôi cày.
Lấy đầy bát cơm.
Lấy rơm đun bếp.
Rồi khi trời oi nồng, chú cóc nhảy ra và bọn tôi trêu ghẹo chú như sau:
Con cóc là cậu ông Trời.
Ai mà đánh nó thì Trời đánh cho.
Rồi khi thấy chú diều hâu bay luợn trên cao để bắt gà con chúng tôi dọa chú bằng câu hát:
Tí hâu mày lượn cho tròn.
Sáng mai tao gả gà con cho mày.
Rồi khi thấy thằng bạn sắp sửa thò tay bắt con chuồn chuồn chúng tôi phá đám:
Chuồn chuồn có cánh thì bay.
Có thằng bé nhỏ thò tay bắt mày.
Khi ngồi trên lưng thằng bạn chơi trò cõng nhau, chúng tôi hát:
Nhong nhong ngựa ông đã về.
Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn.
Rồi vào những đêm trăng sáng, ngồi tụm năm túm ba ở một góc phố chúng tôi vừa ngắm trăng vừa hát ông ổng:
Thằng Cuội ngồi gốc cây đa.
Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời.
Cha còn cắt cỏ trên trời.
Mẹ còn cuỡi ngựa đi chơi cầu vồng.
Hoặc:
Ông giẳng ông giăng
Ông giằng búi tóc
Ông khóc ông cười
Mười ông một cỗ
Rồi vào dịp Rằm Tháng Tám, trẻ con Miền Bắc - ngoài thú rước đèn còn chơi hình ông tiến sĩ giấy (Ông Nghè). Hầu như từ đầu Tháng Tám, đêm nào chúng tôi cũng rước đèn quanh phố rồi hát một bài vè do người lớn dạy cho mà chúng tôi chẳng hiểu ý nghĩa ra làm sao - có lẽ để ca ngợi uy quyền của Ông Nghè ngày xưa. Bài vè như sau:
Tôi là cô gái đồng trinh.
Tôi đi bán rượu qua dinh ÔngNghè.
Ông Nghè sai lính ra đe.
Tôi lạy Ông Nghè tôi đã có con.
Có con thì mặc có con.
Thắt lưng cho tròn đi chảy với anh.
Thậm chí khi dắt tay nhau đi chơi chúng tôi cũng hát được:
Dung dăng dung dẻ
Dắt trẻ đi chơi
Đến ngõ nhà Trời
Lạy cậu lạy mợ
Cho cháu về quê
Cho dê đi học
Cho cóc ở nhà
Cho gà nấu bếp
Sau này khi lớn lên và bắt đầu để ý đến thi ca tôi thấy trong văn chương hiện đại của Việt Nam, hầu hết những thi sĩ nổi tiếng đều xuất thân từ Miền Bắc (có thể bao gồm luôn cả Thanh - Nghệ - Tĩnh). Tôi không nghĩ rằng máu văn chương vốn có sẵn trong huyết quản của người Bắc nhưng có lẽ do truyền thống – trẻ nhỏ được tiếp cận với thi ca ngay từ thuở ấu thơ qua trò chơi, hội hè, đình đám phong tục tập quán cho nên thi ca đã thấm vào người chúng lúc nào không hay. Khi lớn lên, nếu có cơ hội, hạt giống vô tình gieo trồng từ thuở nhỏ, nảy nở một cách rất nhanh chóng và cũng rất tự nhiên. Không hiểu nhận xét này có đúng không ? Xin các nhà nghiên cứu về địa lý nhân văn chỉ giáo cho.
Tôi được đi học rất trễ. Mãi tới năm 1950 tức tám tuổi đầu tôi mới được đi học ABC tức Lớp Năm lúc bấy giờ. Tôi còn nhớ mỗi lần nhìn thấy những đứa bé nhỏ tuổi hơn tôi được cắp sách đến trường, thấy các Sói Con trong Đoàn Hướng Đạo Sinh biết cầm sổ ghi chép - tôi xấu hổ vô cùng. Trường học là chỗ tôn nghiêm tôi không bao giờ dám bén mảng tới. Mỗi lần đi ngang trường học tôi phải cắm đầu cắm cổ chạy vì chỉ sợ thầy giáo cho người ra bắt vào khảo chữ. Cho nên khi lớn lên tôi thông cảm được nỗi tủi nhục của nguời chẳng may vì nhà nghèo hay vì lý do gì đó mà không được đi học, điều đó dạy tôi là không bao giờ dám khinh thường họ. Nay đọc lại các giai thoại cũ thấy các cụ nhà Nho của chúng ta thường hay mỉa mai, khinh bỉ những người học dốt hoặc không được đi học - tôi cho đó là điều sai lầm.
Cuốn sách đầu đời mà chúng tôi được học và có lẽ là cuốn Việt Văn duy nhất ở bậc tiểu học đó là cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư do Nha Học Chính Đông Pháp biên soạn mà người đứng đầu nhóm là Cụ Trần Trọng Kim. Nay coi lại cuốn dành cho Lớp Sơ Đẳng có cả thảy 83 bài trong đó 22 bài là thơ mà một vài bài tới giờ tôi vẫn còn nhớ như Xuân đi học coi người hớn hở. Gặp cậu Thu đi ở giữa đàng. Rồi bài thơ Rắn Đầu Biếng Học của Cụ Lê Quý Đôn và bài Vịnh Cái Chổi của Vua Lê Thánh Tôn. Như vậy thơ chiếm một phần tư chương trình Việt Văn ! Soạn thảo một chương trình giáo khoa như vậy chắc các cụ muốn biến chúng tôi thành những nhà thơ hoặc những người yêu thơ chăng trong khi chúng tôi vẫn chỉ là những cậu học sinh cả ngố mê đánh đinh, đánh đáo, đánh khăng hơn là đi học. Nhưng không hiểu sao, có lẽ do trời xui đất khiến, dù ham chơi và nghịch ngợm như thế, 5 năm sau tức 1954 tôi cũng đậu Tiểu Học - một văn bằng muốn có cũng phải trầy vi tróc vẩy vì các thầy lúc bấy giờ bắt học sinh phải học thuộc lòng, do đó chúng tôi phải đọc như cuốc kêu mùa hè. Với văn bằng này, người lớn lúc bấy giờ đã có thể nạp đơn xin làm thư ký được rồi. Trong khoảng thời gian đi học cho đến trước khi di cư vào Nam theo Hiệp Định Genève năm 1954 tôi rất hâm mộ đọc sách. Vì gia đình nghèo và đông anh em cho nên tôi không được cho tiền để mua sách. Đa số sách đọc bọn tôi đều thuê mướn hoặc trao đổi cho nhau hoặc lén đọc sách của người lớn. Ngay từ lúc mười, mười một tuổi tôi đã đọc Kim Vân Kiều vì bà nội, bà bác hay bói Kiều cho nên khi bói tới trang nào thì bà và bác bảo tôi đọc nguyên trang đó. Ngoài ra trong lúc rảnh rỗi bà nội hay âu yếm kể truyện cho tôi nghe. Những truyện thần thoại như Bà Công Chúa Ba tức Quan Âm Diệu Thiện, truyện “Nàng Mân may áo cho chồng, may ba tháng ròng mới được cái tay !” Những truyện về người Mường ở vùng sơn cước, truyện Tấm Cám đều do bà nội kể chứ thực sự từ nhỏ cho tới lớn tôi chưa đọc những truyện này bao giờ. Có thể nói về mặt văn chương, tôi đọc đủ mọi thể loại, những truyện ủy mị như Phạm Công Cúc Hoa, Đồi Thông Hai Mộ, Hồng và Cúc, Rừng Thẳm Bể Khơi, các truyện trinh thám của Phạm Cao Củng, các truyện thiếu nhi như Dế Mèn Phiêu Lưu Ký, Tây Du Ký và đặc biệt là các truyện kiếm hiệp. Ngay vào thời điểm này truyện kiếm hiệp của Tàu đã xâm nhập vào Miền Bắc. Những truyện kiếm hiệp nổi tiếng lúc bấy giờ bọn trẻ chúng tôi say mê đọc đại loại gồm có: Long Hình Quái Khách, Nữ Bá Vương, Kim Hồ Điệp và Bồng Lai Hiệp Khách. Ngoài ra nhà tôi nằm sát vách với trường tôi học là Trường Đặng Quang Thạch. Dù lúc bấy giờ mọi người đã Âu hóa, Thầy Đặng Quang Thạch (quen gọi là Thầy Giáo Điển) vẫn còn mặc khăn đóng áo dài. Thầy rất hâm mộ Thơ Tản Đà. Cụ Tản Đà lấy Núi Tản Viên và Sông Đà làm bút hiệu, còn Thầy Đặng Quang Thạch lấy bút hiệu Đằng Liễn (Sông Bạch Đằng, Núi Phù Liễn). Sau giờ tan học, vào bữa cơm chiều, thầy ngồi bên cạnh vò rượu, sang sảng ngâm những bài thơ của Cụ Tản Đà cho mãi tới chín mười giờ đêm, dường như không một ngày ngưng nghỉ. Suốt quãng đời thơ ấu sống cạnh nhà thầy như thế, phải chăng hồn thơ - với những câu:
Nước non nặng một lời thề
Nước đi đi mãi không về với non.
đã thấm vào tôi lúc nào không hay cho nên khi lớn lên tôi rất hâm mộ thơ và thích làm thơ. Trước khi vào lớp hoặc trước giờ tan trường thầy bắt chúng tôi hát những bài ca ái quốc của Á Nam Trần Tuấn Khải. Ngoài ra mỗi năm chúng tôi đều phải ăn mặc tươm tất để tham dự buổi lễ truy điệu Cụ Phan Bội Châu. Phải chăng ngay từ thuở đầu đời, hai chữ Nước Non đã sâu thẳm dội vào hồn trẻ nhỏ và nó nằm đó để chờ dịp đơm bông, kết trái ? Thỉnh thoảng trong những lúc nghịch ngợm tôi cũng lén đọc các sách của thầy như cuốn Mạnh Tử với lối hành văn theo thể vấn-đáp cổ điển không gây thích thú cho bọn nhỏ tí nào. Trong những năm tạm gọi là “êm đềm” này, bố tôi mỗi dịp Tết đều mua báo xuân đặc biệt là Báo Tia Sáng. Gia đình thường lưu giữ tờ báo xuân mấy tháng trời trong đó tôi rất thích các bức tranh hý họa ngày Tết cùng các mục vui cười, “Kiều lẩy” v.v..
Khi giã từ Miền Bắc để di cư vào Nam cuối năm 1954, gia đình tôi cư ngụ tại Xóm Lách là khu bùn lầy nước đọng nằm dọc từ Cầu McMahon cho tới đầu Đường Yên Đổ mà giới bình dân quen gọi là Cầu Bạc Má Hồng, sau đổi thành Cầu Công Lý mà tôi có dịp mô tả trong cuốn truyện dài vượt biên Chọn Lựa. Khi Việt cộng vào Đường Công Lý bị đổi thành Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Đường Tự Do bị đổi thành Đồng Khởi cho nên người dân mới có câu vè chế riễu:
Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý.
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do
Nơi tôi ở là một khu bình dân nghèo khổ mà hàng xóm láng giềng thân quen là thợ thuyền, lính tráng, phu xích-lô, là các bà ở đợ, gánh nước mướn, bán rau bán cháo ngoài chợ và sau này cả gái bán bar và lấy Mỹ. Mang thân phận của một người di cư tức người tỵ nạn, dĩ nhiên cuộc sống mới đầu thật khó khăn nhưng Miền Nam đã thổi vào cuộc đời tôi một luồng sinh khí mới mặc dầu cũng có một vài khác lạ về cách ăn mặc, tập tục cũng như ngôn ngữ lúc ban đầu. Tôi còn nhớ một kỷ niệm vui vui vì ngôn ngữ bất đồng. Vào ngày thứ hai, sau khi gia đình đã tạm ổn định nơi ăn chốn ở, tôi bước ra ngoài đầu ngõ chơi thì một ông già – có lẽ thấy một thằng bé Bắc Kỳ trông cũng ngồ ngộ cho nên lấy tay ngoắc, rồi nói “ Ê nhỏ, lợi biểu mày. “ làm tôi tức giận vô cùng vì ở ngoài Bắc – nhỏ tức là người tớ trai ở trong nhà. Theo truyền thống ở ngoài Bắc, khi chúng tôi bắt đầu lớn lên thì câu gia huấn đầu đời mà ông bà, cha mẹ dạy là “gọi Dạ, bảo Vâng” nhưng ở trong Nam “gọi cũng Dạ mà bảo cũng Dạ” làm cho tôi tới bây giờ vẫn cứ lúng túng hoài. Ngoài ra, theo truyền thống lễ phép của trẻ con ngoài Bắc mỗi khi nói chuyện với người lớn tôi thường nói “Thưa bác..” thì bị một ông quắc mắt nói “ Bộ mày định thưa tao hả? “ vì trong Nam thưa có nghĩa là kiện ra cò bót, toà án. Sau này tôi mới hiểu, tính tình của người Miền Nam rất bình dị. Họ không ưa khách sáo hoặc quá lễ phép như ngoài Bắc cho nên không thích những câu thưa, gửi trong khi chào hỏi hay nói chuyện. Chuyện ngôn ngữ bất đồng lúc đầu cũng tạo ra những mẩu chuyện tiếu lâm đăng trên báo, gây thích thú cho bà con ta ở những năm 1954, 1955 và 1956 không ít. Chẳng hạn trung tiện ngoài Bắc gọi là đánh rắm nhưng trong Nam lại gọi là đánh địt khiến cho một ông di cư bị đầy bụng, đi khám bác sĩ người Nam, sau khi cho thuốc xong ông bác sĩ dặn uống thuốc này nếu địt được nhiều thì tốt lắm “...khiến câu chuyện cuối cùng làm thiên hạ cười vỡ bụng.
Tôi được đi học trở năm lại năm 1955 - tức gián đoạn một năm học và bắt đầu mê những thú chơi thật hấp dẫn của Miền Nam như đá cá, đá dế. Tôi dành dụm hầu hết số tiền nhỏ có được – không phải để mua sách, ăn quà mà để mua những con cá Xiêm xanh biếc, những con dế hộp quẹt (dế to để riêng trong bao diêm chứ không để chung trong giỏ) để đá với những thằng bạn lối xóm như thằng Đực, thằng Mái Con, thằng Hên v.v.. Bố tôi chỉ là một tiểu công chức, mặc dù không được học nhiều nhưng ông cụ lại xính văn chương. Ông cụ thường kể cho chúng tôi nghe biết bao lần về Sấm Trạng Trình, về những cuộc bút chiến giữa Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh trên tờ Nam Phong Tạp Chí năm xưa, giai thoại về Cụ Nguyễn Văn Tố - Giám Đốc Trường Viễn Đông Bác Cổ tóc búi tó củ hành mà sức học uyên bác tới nỗi Tây phải sợ. Trong những lúc thật vui vẻ, nhất là mấy ngày Tết, bố tôi thường kể lại lai lịch của dòng họ - chẳng hạn chuyện hai anh em cụ cố tổ chúng tôi đã vào Huế thi Đình nhưng rớt tiến sĩ về uất ức, lâm bệnh chết. Chuyện này được bà cố tổ giải thích là cụ ông đã không nghe lời dặn, khi đi ngang Phố Cát ở Thanh Hóa thì nhớ không được đọc câu đối ở Đền Sòng thờ Bà Công Chúa Liễu Hạnh. Nhưng cụ cố không nghe lời cho nên đã phạm huý và bị đánh rớt. Bố tôi cũng kể lại chuyện gia đình ông cụ nội của chúng tôi đã nuôi Cụ Tả Ao trong nhà mấy năm trời để xin cụ để mả cho dòng họ. Do đó những kiến thức về phong thủy địa lý mà tôi có bây giờ đều do bố tôi kể lại chứ thực sự tôi chưa bao giờ đọc một cuốn sách nào về Địa Lý Tả Ao. Mặc dù hâm mộ văn chương như thế nhưng bố tôi lúc nào cũng khuyên tôi không nên làm thơ vì làm thơ nó “vận vào người”. Sau này lớn lên tôi mới hiểu bố tôi nói không nên làm thơ là để tránh cho tôi khỏi rớt vào kiếp nghèo của các nhà thơ. Bởi vì các thi sĩ thường hay than thân trách phận. Hoặc giả dù tình không tan vỡ nhưng cũng cứ làm thơ tan vỡ để cho đời thêm lâm ly thống thiết giống như Cô Kiều thấy chuyện Đạm Tiên cũng đâm thương vay khóc mướn nên nó “vận” ngay vào cuộc đời của mình ! Ông cụ thường xuyên đọc Báo Tự Do của Phạm Việt Tuyền, Văn Hoá Ngày Nay của Nhất Linh cho nên dù mới muời ba, mười bốn tuổi tôi đã được đọc những truyện như Tỵ Bái của Nguyễn Hoạt tức ký giả Hiếu Chân, Khói Sóng của Lý Thắng, Khu Rừng Lau của Doãn Quốc Sĩ trên tờ Tự Do và Xóm Cầu Mới của Nhất Linh trong Văn Hoá Ngày Nay. Ông cụ thường nói ông rất ghét những ai mở tờ báo ra là đọc tiểu thuyết nơi Trang 4 mà phải đọc mục xã luận xem người ta bình luận hoặc nói gì về tình hình đất nước. Dù ông cụ nói vậy nhưng tôi vẫn lén đọc tiểu thuyết thường xuất hiện nơi Trang 4. Chính nhờ thế mà tôi được biết tới các tên như Nguyễn Thị Vinh, Bảo Sơn và Nhật Tiến (qua cuốn Thềm Hoang), Duy Lam (Gia Đình Tôi). Tôi thích họa sĩ Ngy Cao Uyên trong Văn Hóa Ngày Nay với nét minh họa mắt môi người con gái thật buồn. Tôi cũng say mê truyện trinh thám Bàn Tay Máu của Phi Long hình như được đăng liên tu bất tận trên Nhật Báo Tin Điển hoặc Sài Gòn Mới. Rồi Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh do Nguyễn Hoạt dịch mà sau này các truyện ngắn như Thu Thủy- Cô Gái Ma và Mê Cung tôi đều chịu ảnh hưởng lối viết truyện của Bồ Tùng Linh. Ngoài ra tôi cũng còn đọc những truyện ngắn của nhà văn Phạm Thăng và Ngọn Cỏ Gíó Đùa của Hồ Biểu Chánh là những nhà văn tiêu biểu của Miền Nam lúc bấy giờ. Nhưng cho dù có đọc những truyện như vậy tôi cũng chẳng học được một chút gì về nghệ thuật viết văn, thế nào là giá trị văn chương, tư tưởng, triết lý mà thực ra chỉ đọc để giải trí cho thỏa mãn đầu óc tò mò của tuổi thơ. Bằng cớ là những bài luận văn của tôi ở các lớp Đệ Thất và Đệ Lục bao giờ điểm cũng rất kém. Thầy giáo dạy Việt Văn của chúng tôi bấy giờ là Nguyễn Tri Tài. Mỗi khi chấm bài xong trả lại cho học sinh, thầy đều khen ngợi hai anh Nguyễn Thọ Chấn và Nguyễn Văn Thịnh. Thỉnh thoảng Nguyễn Gia Kiểng cũng được điểm cao nhưng không giỏi bằng Nguyễn Thọ Chấn và Nguyễn Văn Thịnh. Các bài luận văn của hai tay này đều được thầy đọc cho cả lớp nghe. Một trong những ước mơ lớn của tôi lúc bấy giờ là mong sao bài luận văn của mình được lọt mắt xanh của thầy. Thế nhưng giấc mơ ấy không bao giờ đạt thành. Dưới mắt của thầy thì ngoài hai anh Nguyễn Thọ Chấn và Nguyễn Văn Thịnh ra, bọn tôi chỉ là một lũ không biết viết văn. Chẳng hạn khi tả một người phu xe thì tôi chỉ biết viết “Ông ta khoảng ngoài bốn mươi tuổi.” Nhưng theo thầy thì phải nói “trạc ngoại tứ tuần”. Còn khi tả một người say rượu thì tôi cũng chỉ biết viết “ Ông ta say mèm, đi chân nam đá chân xiêu”. Theo thầy khi tả một người say rượu thì phải có những câu như “ Ông ta uống như hũ chìm và là đệ tử của Lưu Linh ! ” Sau này tôi có dịp gặp lại anh Nguyễn Văn Thịnh vào năm 1985 ở Hoa Thịnh Đốn (đã tốt nghiệp Dược Sĩ) và anh Nguyễn Thọ Chấn năm 1998 tại San Jose (đã tốt nghiệp Cao Học Quản Trị Kinh Doanh). Năm 2001 Nguyễn Thọ Chấn xuất bản tập truyện Những Hồng Nhan Của Một Thời. Trong lúc ôn lại thời thơ ấu tôi có hỏi “ Mẹ kiếp ! Lúc bấy giờ các ‘toa’ lấy mấy câu ấy ở đâu vậy ? ” Các anh đều nhe răng cười đáp “ Bọn moa thuổng trong truyện của Khái Hưng! ” Nhắc lại những kỷ niệm cũ khiến chúng ta liên tưởng lại vào thời điểm 1955-1956 thế giới văn chương của nhân loại đã đi vào khuynh hướng hiện thực từ lâu lắm rồi. Thế nhưng khiếu thưởng thức văn chương của chúng ta vẫn còn trụ vào Hán Học, ước lệ và điển cố của các tác phẩm thuộc thế kỷ 17 và 18.
Cũng trong khoảng thời gian này Miền Nam tương đối có được chút yên bình cho nên Bộ Quốc Gia Giáo Dục thường hay tổ chức những cuộc thi bích báo cho học sinh toàn quốc. Tôi cũng hăng hái tham dự nhưng bài viết của tôi chẳng bao giờ lọt qua cửa ải của ông trưởng ban báo chí của trường. Còn về báo xuân hằng năm tôi đều có nộp bài nhưng bài của tôi chẳng bao giờ được tuyển chọn cả làm cho tôi cảm thấy buồn ơi là buồn khi nhìn tờ báo xuân của trường mà không có bài của mình.
Vào năm 1958 là năm tôi lên lớp Đệ Ngũ, chương trình Việt Văn bắt đầu dạy cuốn Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển của Dương Quảng Hàm. Như thế là học sinh bắt đầu học về Thơ Đường. Do sự tò mò tôi cũng thử tập làm Thơ Đường và sáng tác được ba bài. Nay tôi xin chép ra để quý độc giả xem một cậu học sinh cả ngố của tuổi mười sáu làm Thơ Đường Luật thất ngôn bát cú như thế nào ?
Bài thứ nhất: Vịnh Con Diều
Mày mới lên mà mày đã hăng
Lên voi vội trở mặt kiêu căng
Nhớ khi còn ở sà ngang đất
Được ngọn gió càn mày mới thăng
Diễu cánh, khoe đuôi phường con trẻ
Huyênh hoang ưỡn mặt đứa lăng nhăng
Lên cao vênh mặt khinh người dưới
Cứ thử xem mày giữ được chăng ?
Bài thứ hai: Tự Vịnh
Đua đòi thói rởm chắc ta thua
Nghĩa đạo thì ta lại chẳng vừa
Thấy sự ngang tai ta ghét thậm
Gặp loài chồn cáo dạ không ưa
Trông gương Hưng Đạo mà suy gẫm
Lấy đức Mạnh, Tăng để sẽ chừa
Thế sự ngàn năm là thế sự
Danh thơm phải đạt được nghe chưa.
Bài thứ ba: Thu
Rặng liễu xanh mờ soi bóng gương
Dáng thu nem nép dưới màn sương
Thuyền lan một lá đi trong mộng
Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương
Ngày nay đọc lại hai bài thơ Tự Vịnh và Vịnh Con Diều, ngẫm nghĩ lại tôi thấy tuổi thơ ấu của mình kể ra cũng có cái tức cười. Thực ra tôi có làm hai bài thơ trên thì cũng chỉ để bắt chước người lớn chứ thực ra tôi cũng chẳng có “khẩu khí “ gì. Bởi vì sau đó tôi vẫn tiếp tục mê đá cá, đá dế và những thú vui vớ vẩn của tuổi học sinh. Còn bài thơ thứ ba thì hoàn sáo, ước lệ vì ở tuổi đó tôi làm gì có cô bồ nào để mà “Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương !” (Vời trông người đẹp một phương trời.)
Cũng trong năm Đệ Tứ tôi đã sáng tác một truyện ngắn gửi cho Nhật Báo Chính Luận với hy vọng được đăng vào mục Mỗi Ngày Một Truyện. Nhưng có lẽ truyện của tôi đã bị ông chủ bút vứt vào sọt rác vì tôi đợi dài cả cổ mà truyện đó chẳng bao giờ được đăng. Ngoài ra tôi còn có một kỷ niệm với Ngọc Hoài Phương - sau này là chủ nhiệm Hồn Việt. Ngọc Hoài Phương tên thật là Nguyễn Ngọc Kiểm là con người hiền hòa được thầy thương bạn mến, say mê báo chí, văn nghệ có lẽ từ thuở còn học lớp Đệ Thất, Đệ Lục. Năm Đệ Tứ anh được bầu làm trưởng ban báo chí của trường để thực hiện báo xuân. Tôi cũng nạp bài nhưng bài của tôi chẳng bao giờ được đăng. Vì quá say mê văn nghệ cho nên tôi tình nguyện theo anh để làm “thợ vịn” tức là phụ với anh để quay ronéo. Năm ấy trường được một mạnh thường quân cho in báo xuân miễn phí tại một nhà in nằm ở Bến Chương Dương. Tôi đã đạp xe đạp lên tận đây để phụ với Ngọc Hoài Phương quay bài, xếp từng trang rồi đóng gáy. Lúc bấy giờ báo xuân quay ronéo bằng mực tím đã là văn minh lắm rồi chứ đâu có được in như bây giờ. Cho tới ngày hôm nay tôi vẫn còn quý trọng và thương mến mớ kỷ niệm này. Khi gặp lại Ngọc Hoài Phương ở Mỹ, tôi có kể cho anh nghe nhưng chính Ngọc Hoài Phương cũng đã quên mất kỷ niệm này rồi.
Sau khi đậu xong Trung Học Đệ I Cấp rồi lên các lớp Đệ Tam, Đệï Nhị và Đệ Nhất, dường như máu say mê văn nghệ trong tôi cũng loãng dần. Điều này cũng dễ hiểu bởi vì ở những năm cuối cùng của trung học, nếu bạn còn thơ với thẩn thì cuối năm bạn sẽ “đi chuyến tàu suốt“ ngay, đời bạn sẽ “ đơ-dem cùi bắp “ (1) hoặc vai bạn sẽ đeo “cánh gà chiên bơ “ (2) . Và thật cũng là điều trùng hợp. Vào những năm đầu của thập niên 1960 bố tôi tự nhiên đổi thị hiếu và chuyển qua đọc Quê Hương là một tập san biên khảo về các vấn đề văn hóa, kinh tế và chính trị do Giáo Sư Nguyễn Cao Hách – Thạc Sĩ Kinh Tế Học chủ trương với sự cộng tác của các “đại giáo sư ”của thời bấy giờ như Giáo Sư Vũ Văn Mẫu, Giáo Sư Vũ Quốc Thúc, Giáo Sư Vũ Quốc Thông và học giả Đoàn Thêm. Mặc dầu chưa lên đại học nhưng không hiểu sao tôi lại hâm mộ những bài biên khảo về những vấn đề kinh tế của các quốc gia chận tiến của Giáo Sư Nguyễn Cao Hách dạy Kinh Tế tại Đại Học Luật Khoa Sài Gòn và sau trở thành khoa trưởng trường này. Tôi cũng còn thích lối văn nghị luận của Giáo Sư Hách và những bài viết của giáo sư đã gây ấn tượng mạnh mẽ nơi tôi. Chính vì thế mà sau này tôi ưa thích văn nghị luận và gần một phần ba gia tài viết văn tại hải ngoại của tôi là những bài nghị luận chính trị. Theo tôi, GS. Nguyễn Cao Hách là người nặng tình với non nước và có biệt tài về kinh tế nhưng không bao giờ được trọng dụng suốt cả hai trào Đệ I và Đệ II Cộng Hòa. Thật là uổng phí ! Điều này cho thấy giữ các chức vụ cao cấp trong một chính quyền chưa hẳn là người giỏi mà có khi chỉ là gia đình thân tộc, cổ cánh vai vế hoặc thủ hạ thân tín - nhất là trong các quốc gia chậm tiến Á-Phi. Tiếp theo đó là những năm học ở Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Suốt thời gian này tôi cũng chẳng làm thêm được bài thơ nào. Vào năm 1965 khi đã lên năm thứ ba - năm cuối cùng của Ban Cử Nhân tôi ra ứng cử chức vụ phó chủ tịch nội vụ Ban Đại Diện Sinh Viên. Không hiểu do nguồn động lực nào thúc đẩy, tôi nhờ anh Lê Trực - bạn cùng lớp, mua ít bao thuốc lá tới Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định nhờ một số sinh viên ở đây vẽ dùm một số tranh cổ động. Những bức tranh này dù vẽ rất vội vàng nhưng đã gây một ấn tượng mạnh mẽ trong sinh viên toàn trường và tạo nên một cuộc chạy đua ráo riết của liên danh đối thủ. Chỉ vài ngày sau, khuôn viên Đại Học Luật Khoa nằm trên “Con Đường Duy Tân, cây dài bóng mát” đã tràn ngập cả bích chương, tranh ảnh từ đó tạo nên một truyền thống tranh cử tưng bừng náo nhiệt giống như những cuộc tranh cử ở Hoa Kỳ mà không một đại học nào ở Sài Gòn có được. Ngoài ra tôi cũng còn tham gia đội túc cầu của Đại Học Luật Khoa nhưng vì sức vóc yếu mà lại không được tập luyện nên đá rất kém. Thế nhưng trong thời gian này tôi có dịp tham dự đêm ra mắt Trường Ca Mẹ Việt Nam của Phạm Duy tại Trụ Sở Tổng Hội Sinh Viên số 4 Đường Duy Tân. Những lời diễn giải của nhạc sĩ Phạm Duy tôi vẫn còn nhớ. Chính vì thế mà Trường Ca Mẹ Việt Nam đã dội vào lòng tôi những tình cảm sâu sắc. Cho tới bây giờ thỉnh thoảng tôi vẫn còn nghe đi nghe lại bản trường ca bất hủ này mà nước mắt lúc nào cũng rươm rướm vì thương cho Mẹ Việt Nam, thương cho Lịch Sử quá gian truân của dân tộc và thương cho Đất Nước cùng Con Người Việt Nam qua nét nhạc và lời văn thần tình của nhạc sĩ Phạm Duy cùng giọng ca ngọt ngào, trữ tình chuyên chở cả hồn dân tộc của Thái Thanh - một con chim họa mi của Sông Hồng. Sau khi đậu xong Cử Nhân Luật năm 1966 và cùng năm đó thi đậu vào Cao Học Hành Chánh máu văn nghệ lại nổi dậy trong tôi. Tôi gia nhập Nhóm Nói Cho Nhau bao gồm một số bạn của như Bùi Vi Thiện (sinh viên Văn Khoa) và một số bạn mới Chu Văn An như Ngô Đình Cầu (sinh viên Kiến Trúc), Đàm Trung Chí tự Cung Mi (sinh viên Y Khoa), Nguyễn Ngọc Hải (sinh viên Quân Dược), Lê Duy Cương (sinh viên Văn Khoa), Hà Bay (giáo sư Trường Quốc Gia Kịch Nghệ) và một người con gái duy nhất trong nhóm là Đoan Ngữ Uyên - vừa đi làm vừa học Văn Khoa. Đoan Ngữ Uyên còn có một bút hiệu khác là Đ.N. Uyên Chi là người yêu và sau này là vợ của Cung Mi. Vào năm 1999, Nguyễn Thọ Chấn là người tôi nói tới ở trên, trong bài viết Một Người Làm Chính Trị dưới bút hiệu Sầu Đông phổ biến trên Website Quán Gió cũng có đề cập tới nhóm này. Trong Nhóm Nói Cho Nhau, Bùi Vi Thiện cũng vẽ nhưng sở trường về “thơ chua”, Ngô Đình Cầu sở trường về vẽ vì anh đang học kiến trúc. Cung Mi ham mê vẽ, đọc sách, tiểu thuyết cũng như rất nhiều loại tạp chí văn học. Lối vẽ của Cung Mi chịu ảnh hưởng của Braque – một họa sĩ tài danh của Pháp với những màu nâu thật trầm ấm. Nguyễn Ngọc Hải sở trường về nhạc và anh có giọng hát cao vút khá điêu luyện. Lê Duy Cương sở trường về thơ. Thơ của anh và thơ của Đoan Ngữ Uyên phần lớn đã được Nguyễn Ngọc Hải phổ nhạc và hát nhiều lần cho cả nhóm nghe. Việc tôi gia nhập Nhóm Nói Cho Nhau cũng có thể giải thích là dầu sao ở vào thời điểm này tương lai của tôi tương đối cũng đã ổn định. Vả lại tôi cũng có một tí tiền còm nữa. Lương của một sinh viên Ban Cao Học lúc bấy giờ ăn theo chỉ số 470 ngang với lương của một ông thiếu tá trong quân đội. Song có điều lạ là tôi gia nhập nhóm không phải để làm thơ, viết văn mà để vẽ tranh !
Thành thực mà nói trong nhóm, tôi là người yếu nhất về lãnh vực thi ca và văn học. Chẳng hạn các bạn ai cũng đều ca ngợi Thơ Thanh Tâm Tuyền trong khi tôi chưa biết Thanh Tâm Tuyền là ai. Hầu hết mọi người đã đọc truyện của Mai Thảo, Dương Nghiễm Mậu nhưng tôi thì chưa hề biết mặt và chưa đọc bất cứ truyện nào của hai nhà văn này ! Thế nhưng do sự khuyến khích của bạn bè, năng khiếu hội họa của tôi bỗng nhiên phát triển mặc dù từ trước đến giờ tôi chưa hề biết hội họa là gì. Tôi say mê vẽ tranh sơn dầu và yêu mến Trường Phái Trừu Tượng. Trong vòng hai năm từ 1966 tới 1968 tôi đã tham dự cuộc triển lãm ESSO rồi cùng các anh Ngô Đình Cầu, Cung Mi, Bùi Vi Thiện tổ chức các cuộc triển lãm chung tại Hội Họa Sĩ Trẻ nằm cạnh Đại Học Văn Khoa Sài Gòn và Phòng Thông Tin nằm ở góc Đường Tự Do và Lê Lợi.
Để tôn trọng các bậc đàn anh đi trước, chúng tôi có đến tận nhà để mời họa sĩ Vị Ý đến coi phòng tranh và cho chúng tôi những lời phê bình. Cũng trong thời gian này
Ngô Đình Cầu và tôi thỉnh thoảng có đến thăm họa sĩ Thái Tuấn cư ngụ trên một căn gác thuộc khu Bến Tắm Ngựa, Đường Yên Đổ. Trong một cuộc triển lãm ở Phòng Thông Tin tôi đã bán được hai bức tranh cho vợ chồng một ông bà Mỹ với giá mười lăm ngàn đồng một bức trong khi tranh bày ở vỉa hè Lê Lợi chỉ bán tới giá hai trăm đồng. Trong cuộc triển lãm này chúng tôi đã mời Thượng Tọa Thích Minh Châu-Viện Trưởng Đại Học Vạn Hạnh chủ tọa lễ cắt băng khánh thành. Từ thành công này tôi tiếp tục vẽ đều đặn.
Năm 1973 tôi đã từ Pleiku bay về Sài Gòn, vào Dinh Độc Lập để nhận giải thưởng khuyến khích Giải Hội Họa Tổng Thống với bức tranh nhan đeà Nỗi Nhớ. Bức tranh này tôi treo tại phòng khách Dinh Phó Tỉnh Trưởng Kiến Hoà. Khi Việt cộng cưỡng chiếm Miền Nam năm 1975 tôi chắc bức tranh này đã bị quăng vào xọt rác vì cộng sản sẽ cho đây là “sản phẩm văn hóa đồi trụy của Mỹ-Ngụy!” Sau năm 1968 các anh Cung Mi và Ngô Đình Cầu (lúc này đã tốt nghiệp kiến trúc sư) vẽ rất đều và tiếp tục tổ chức những cuộc triển lãm tại Trụ Sở Văn Hóa Pháp ở Đường Lê Thánh Tôn và Dolce Vita nằm trong Khách Sạn Continental. Sau đó các họa sĩ Hoàng Thành Kai, Hạc Tùng cũng thường xuyên đến chơi với chúng tôi. Riêng trường hợp anh Cung Mi thì thật lạ lùng. Anh mê vẽ tranh tới nỗi thi rớt năm thứ hai Đại Học Y Khoa Sài Gòn nên đành ngậm ngùi vào Sĩ Quan Thủ Đức rồi được tuyển qua ngành sĩ quan trợ y. Thật trên đời tôi chưa từng thấy người nào như anh - mê vẽ tranh hơn trở thành một bác sĩ ! Khi tôi còn nằm trong trại tù cải tạo thì anh Cung Mi và Ngô Đình Cầu vượt biên cùng đứa cháu tên Ngô Đình Chương nhưng cả ba đã không đến được bến bờ tự do và đều bỏ mình trên biển cả. Tại sao Con Tạo lại trớ trêu đến thế ? Những kẻ chẳng ra gì thì lại khơi khơi đến được bến bờ. Còn những con người hiền lành, tài ba tuấn tú thì trời già cay nghiệt không cho sống để làm đẹp cho đời !
Kể từ năm 1973 là năm tôi bắt đầu đảm nhiệm chức vụ phó tỉnh trưởng các Tỉnh Quảng Ngãi và Kiến Hòa. Vào thời điểm này chiến tranh mỗi lúc mỗi trở nên khốc liệt. Những vấn đề an ninh, bình định xã ấp, cứu trợ nạn nhân chiến cuộc, đối phó với đà gia tăng vùn vụt của vật giá, đời sống vô cùng khó khăn của quân nhân công chức, những bất ổn của tình hình chính trị làm một vị phó tỉnh trưởng như tôi không bao giờ thấy ăn ngon miệng và chẳng còn đầu óc nào nghĩ đến hội họa, văn chương chữ nghĩa nữa. Thế nhưng trong giai đoạn này, những lần về họp ở Bộ Nội Vụ, Phủ Thủ Tướng và Phủ Tổng Thống tôi thường ghé thăm Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa nằm ở Trường Đại Học Văn Khoa cũ lúc bấy giờ do bác Đốc Phủ Rở làm Quốc Vụ Khanh để sưu tầm một số sách quý do phủ này phiên dịch như Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, Sử Ký của Tư Mã Thiên, Nhật Bản Tư Tưởng Sử v.v...Nhưng thực ra tôi chỉ liếc sơ qua rồi đem đóng gáy vàng làm thư viện cho gia đình chứ bản thân tôi và tôi nghĩ rất nhiều người nữa- chẳng có thì giờ để đọc những loại sách như thế giữa thời buổi đất nước loạn ly, điên đảo. Ngoài ra tôi cũng còn một vài kỷ niệm nho nhỏ với học giả Hồ Hữu Tường khi ông xuống Kiến Hòa đàm đạo với tôi về Sấm Trạng Trình trong dịp Tết Ất Mão rồi rủ tôi chơi lan và buôn lan. Những kỷ niệm này tôi đã ghi lại trong cuốn Sóng Bạc Đầu xuất bản năm 1991.
Ra tù vào Tháng 5, 1984 trong thời gian còn bị quản chế, không công ăn việc làm, máu văn nghệ lại trở lại trong tôi. Tôi đã leo lên căn gác riêng của Cung Mi lục lọi và ngắm nhìn những bức tranh của anh để lại và tôi còn ráng vẽ cho được một bức trước khi ôm gói tìm đường vượt biên ! Khi tới Mỹ tôi gặp lại Hoàng Thành Kai ở San Jose. Anh Hoàng Thành Kai tiếp tục vẽ tranh, triển lãm nhiều lần và trở thành một họa sĩ nổi tiếng trong giới thưởng ngoạn Hoa Kỳ. Anh có lại nhà tôi chơi và ngắm nhìn khoảng mười mấy bức tranh tôi vẽ từ ngày tạm dung trên đất Mỹ. Vào năm 1991 trong Tuyển Tập Sóng Bạc Đầu tôi đã trang trọng ghi nơi trang đầu của cuốn sách “Để tưởng nhớ các bạn Cung Mi và Ngô Đình Cầu “ nhưng chắc chắn độc giả lúc bấy giờ không ai biết Cung Mi và Ngô Đình Cầu là ai: Thưa họ là những họa sĩ, là những người bạn mà tôi thương mến và nhớ mãi cho đến ngày tôi nhắm mắt lìa đời ! Vào ngày 17-11-2001 tôi đã tặng một bức tranh vẽ năm 1994 mang tên Net and Fish (Lưới và Cá) cho The Works là một trung tâm bảo trợ triển lãm nghệ thuật tại San Jose để bán đấu giá gây quỹ. Rồi vào ngày 8-3-2002 nhân kỷ niệm 25 thành lập The Works, tôi lại tham dự cuộc triển lãm tranh tại đây với bức tranh sơn dầu nhan đề Thành Phố Của Ngọc Nga khổ 24”x 30”.
Vậy nếu như không có ngày 30-4-1975 và dòng đời cứ tiếp tục trôi chảy như thế thì tôi sẽ chính thức trở thành một “Sunday Painter” tức là một họa sĩ tài tử chứ văn chương, chữ nghĩa không phải thế giới của tôi. Nhưng đâu có ai ngờ được có phải không quý vị ? Đời là một dòng sông uốn khúc với nhiều đợt sóng ngầm mà không ai có thể tiên liệu được. Thời thơ ấu cùng những ngày tháng cũ ai cũng tiếc thương nhưng không bao giờ tìm lại được và cũng dần mờ phai trong ký ức.
Đào Văn Bình
(Trích sách 20 Năm Viết Văn xb năm 2004)