12. Món nợ truyền kiếp

29/11/201115:17(Xem: 5678)
12. Món nợ truyền kiếp
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 2
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(12)

Món nợ truyền kiếp

Hồi xưa trong cánh rừng bên

Họa mi làm tổ ở trên cây đào

Hàng ngày Chim hót ngọt ngào

Véo von ca tụng trăng sao đất trời

Gốc cây phía dưới thảnh thơi

Có chàng Rắn nọ nằm chơi, lành hiền

Nghe Chim hót, Rắn mê liền

Đôi bên kết bạn ngày thêm mặn nồng.

Hồi xưa loài vật nói chung

Trời sinh một mắt để dùng mà thôi.

*

Một hôm Bướm ghé qua chơi

Báo tin đám cưới sẽ mời Chim đi,

Mong rằng tiếng hót họa mi

Giúp cho đôi cánh bướm kia nhịp nhàng

Múa may uyển chuyển dịu dàng

Thêm phần khởi sắc cho bàn tiệc hoa.

*

Chim mừng, nhưng lại lo xa

Sợ rằng tiệc cưới người ta chê mình

Lông không đẹp, dáng chẳng xinh

So cùng anh Bướm đa tình lẳng lơ.

Thở dài than ngắn hàng giờ

Chim bay tìm Rắn, trông chờ ý hay.

Rắn khuyên: "Yên chí! Đi ngay!

Giọng anh quyến rũ đắm say tuyệt vời

Bà con mê mẩn mất rồi

Không còn để ý đến người anh đâu!"

*

Cúi đầu ngẫm nghĩ hồi lâu

Mơ màng Chim nói: "Tôi cầu có thêm

Một con mắt đẹp dịu hiền

Thành hai con mắt thêm duyên mặn mà

Bà con chú ý thêm ra,

Anh cho mượn mắt thật là quý thay

Mượn đi ăn cưới một ngày

Anh nằm quanh gốc cây này nghỉ ngơi

Tiệc xong trả lại anh rồi

Mình thân nhau quá! Giúp tôi! Bạn hiền!"

Thoạt tiên Rắn chẳng chịu liền

Họa mi nài nỉ, van xin đủ điều

Rắn ta cảm động xuôi chiều

Hứa cho mượn mắt vì xiêu lòng rồi!

*

Đến ngày tiệc cưới đẹp trời

Mượn thêm một mắt, nhìn đời đẹp thêm

Chim vui, chải chuốt làm duyên

Điểm trang óng mượt xong liền bay đi.

Rắn nằm ẩn gốc cây kia

Mắt mù tăm tối nên chi rụt rè.

*

Tiệc tùng đám cưới thỏa thê

Khách vui cùng Bướm, không hề hỏi Chim

Đến khi Chim được mời lên

Trổ tài ca hát êm đềm du dương

Mọi người thán phục giọng vàng

Cùng nhau xúm lại rộn ràng ngợi khen,

Khen thêm lông đẹp như tiên

Khen đôi mắt lạ, dịu hiền như nhung.

Lời qua tiếng lại tưng bừng

Chim nghe ca tụng vui mừng, ba hoa:

"Trời sinh tôi khác người ta

Mắt nguyên một cặp thật là mộng mơ,

Giọng thời quyến rũ vang đưa

Giúp cho thiên hạ được nhờ biết bao

Rắn mù kia dưới gốc đào

Chán đời. Muốn chết. Nghe vào mê ngay

Tôi an ủi Rắn hàng ngày

Giải sầu bằng giọng hót hay giúp người

Lại bay đi khắp mọi nơi

Kiếm về lương thực giúp hoài cho ăn!"

Chim nói khoác, khách phục lăn

Khen lòng hào phóng, khen tâm nhân từ.

*

Tiệc tàn. Theo cánh gió đưa

Chim ôm danh vọng say sưa bay về,

Rắn nằm cuộn dưới trăng thề

Mù lòa, sợ hãi, yên bề ngủ đây

Chim không đánh thức Rắn ngay

Nghĩ mai trả lại mắt này được thôi!

*

Chim bay lên tổ nằm chơi

Suy tư trằn trọc rối bời tâm can:

"Ta giờ danh vọng vẻ vang

Có đôi mắt đẹp, giọng vàng, từ tâm

Mọi người thán phục vô ngần

Ngày mai trả mắt lỡ làng tiếng tăm,

Rắn kia dưới gốc cây nằm

Chỉ bò quanh quẩn có cần mắt đâu!"

Thế là tội lỗi hố sâu

Kéo Chim phản bạn lao đầu xuống đây,

Họa mi dời tổ đi ngay

Đêm khuya lén lút khẽ bay xa rừng.

*

Rắn mù tội nghiệp vô cùng

Bò quanh dò dẫm truy lùng họa mi

Nghe Chim hót, vội bò đi

Muốn đòi cho được mắt về mới thôi

Tiếc thay thấy Rắn tới nơi

Chim kia bay trốn mất rồi còn chi.

*

Một đêm Chim ngủ say mê

Giật mình tỉnh giấc thấy kề cạnh bên

Lắc lư đầu Rắn như điên

Chim ta sợ hãi la lên kinh hoàng

Bay đi trốn vội trốn vàng,

Kể từ đêm đó hoang mang trong lòng

Chẳng còn say ngủ giấc nồng

Chẳng còn yên tĩnh tâm hồn như xưa.

Những mùa lạnh lẽo gió mưa

Rắn thường sợ lạnh chẳng ưa ra ngoài

Chim yên, ngủ một giấc dài,

Nhưng mùa Xuân đến đất trời ấm êm

Chim đành bay hót liên miên

Xua cơn buồn ngủ, suốt đêm canh chừng.

*

Đêm Xuân rừng núi chập chùng

Họa mi tấu khúc vang lừng vui tươi

Tiếng Chim bay bổng tuyệt vời

Như mang hạnh phúc cho người trần gian,

Buồn thay hạnh phúc chóng tàn

Mong manh sương khói vì mang nỗi niềm

Thoáng vương hối hận, ưu phiền:

"Lòng tham nổi dậy, tâm hiền mất đi!".

(phỏng theo bản văn xuôi

của Bảo Liên)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 45)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 106)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1018)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 643)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1140)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 954)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1364)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 2423)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4012)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 3684)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S