23. Chậu Rửa Chân

29/11/201115:17(Xem: 6635)
23. Chậu Rửa Chân
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 3
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương
xuất bản 2004

(23)

CHẬU RỬA CHÂN

Thời gian đầu mới xuất gia

La Hầu La quả thật là đáng chê

Thân chưa thuần thục mọi bề

Lời thời thô thiển người nghe buồn lòng

Ý thời ô nhiễm vô cùng

Phật Đà hay biết tìm đường giúp thêm

Đưa về tịnh xá kề bên

Tu tâm, sửa tánh ngài khuyên hàng ngày.

*

Một hôm Phật ghé nơi này

La Hầu La vội đứng ngay bên hầu

Ngài bèn dạy: "Tu đạo mầu

Phải cho tinh tấn chớ đâu lơ là

Ngươi vào bưng chậu nước ra

Ta cần nước sạch để mà rửa chân!"

La Hầu La chẳng ngại ngần

Tuân lời, mang nước, rửa chân hầu ngài

Rửa xong Phật hỏi khoan thai:

"Nước này nhìn lại còn ai muốn dùng?"

La Hầu La: "Bạch Thế Tôn!

Nước nay nhơ nhớp có còn sạch đâu

Nấu ăn dùng chẳng được nào

Dù cho súc miệng thấy sao khó lòng!"

Phật bèn dạy: "Đúng vô cùng

Nhà ngươi cũng vậy so không khác gì

Cung vàng điện ngọc xa lìa

Tìm về núp bóng từ bi tu hành

Không chuyên cần, không tinh anh

Thân mình ô nhiễm, miệng mình nhớp nhơ

Thời ba món độc bất ngờ

Tham, sân, si đó đón chờ hại ta

Đưa tâm ý vào đường tà

So cùng nước rửa chân mà khác chi!"

*

Tiếp theo Phật dạy: "Nước kia

Bẩn rồi đem đổ ngay đi tiếc gì!"

La Hầu La vội đổ đi

Phật bèn nói tiếp: "Vậy thì giờ đây

Nếu mang đựng thức ăn này

Chậu còn dùng được nữa hay hết rồi?"

La Hầu La vội trả lời:

"Thưa rằng nước bẩn đựng nơi chậu này

Dù cho đã đổ hết ngay

Đồ ăn thức uống chứa đây khó lòng!"

Phật bèn dạy: "Đúng vô cùng

Nhà ngươi cũng vậy so không khác gì

Làm sa môn vẫn sân si

Miệng không thành tín, tâm thì u minh

Chẳng hề tinh tấn tu hành

Tiếng đồn không tốt quả tình vang đi

Tựa như chậu nước dơ kia

Đồ ăn thức uống đựng chi được nào!"

Phật dùng chân hất nhẹ vào

Khiến cho cái chậu lăn nhào qua bên

Nghiêng qua, nghiêng lại trên thềm

Phật bèn lên tiếng hỏi thêm: "Chậu này

Nếu mà bị bể ra ngay

Thì ngươi có tiếc chậu này hay không?"

La Hầu La: "Bạch Thế Tôn

Chậu này dùng để rửa chân dơ rồi

Bể thời chỉ tiếc chút thôi

Chậu đâu còn quý như hồi xưa kia!"

Phật bèn dạy: "Ngươi khác chi

Thân không gìn giữ, lời thì ác thô

Mang bao ý tưởng nhiễm ô

Khác chi cái chậu vì vô ích rồi

Chẳng còn ai tiếc thương ngươi

Một khi ngươi chết tức thời khổ đau

Thân ngươi luân chuyển qua mau

Trong ba đường dữ trước sau quay cuồng!"

La Hầu La hối vô cùng

Nghe xong hổ thẹn trong lòng biết bao

Lỡ gây lầm lỗi thuở nào

Giờ nghe Phật dạy dạt dào từ bi

Cõi lòng bừng sáng tức thì

Thành tâm sám hối, vội quỳ lạy ngay.

Ngẫm xem trong cõi đời này

Thợ rèn dùng sắt, hàng ngày chăm lo

Cạo đi sét rỉ sét dơ

Mới mong sắt trở thành đồ tốt đây,

Người học đạo giống vậy thay

Thói hư tật xấu thẳng tay loại trừ

Giữ cho trong sạch tâm tư

Mới mong đi trọn đường tu tốt lành.

(phỏng theo bản văn xuôi của MINH CHÂU)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 563)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 795)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1936)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1277)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1637)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1220)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1824)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3385)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4603)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4214)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S