Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

48. Thiền sư Huệ Viễn Hạt Đường Linh Ẩn

04/09/201102:42(Xem: 4331)
48. Thiền sư Huệ Viễn Hạt Đường Linh Ẩn

THIỀNSƯ TRUNG HOA
HTThích Thanh Từ

TẬP 3
ĐỜI THỨMƯỜI SÁU SAU LỤC TỔ

48.THIỀN SƯ HUỆ VIỄN HẠT ĐƯỜNG LINH ẨN
PhủLâm An

Sư họ Bành, quê ở trấn Kim Lưu My Sơn. Năm 13 tuổi, Sư theotăng Tông Biện viện Dược Sư xuất gia. Sau đó đến Thànhđô học kinh luận. Sư lại trở về Nga My tại chùa Vân Nham,là nơi Thiền sư Trưng trụ trì. Thiền sư Trưng là cháu đờithứ tư của Thiền sư Huệ Nam Hoàng Long, tri kiến khá cao.Sư mới vào cửa gặp Trưng thọ trai xong đi dạo hành langchùa. Vừa gặp, Sư liền để túi vải xuống hỏi: - Văn-thùlà thầy bảy đức Phật, chưa biết người nào là thầy Văn-thù?

Trưng đáp: - Cát vàng bờ khe Mã Lang về.

Khi ấy có Thiết Phất Khởi làm Thủ tọa, Sư cũng đến thâncận. Khởi thường nhắc nhở Sư, trải qua hai năm mà khôngsở đắc. Một hôm, Sư tĩnh tọa có một vị Tăng đi mộtmình tự nói: - Mượn tứ đại để che đậy, duyên sáu trầnmà sanh tâm, chợt gặp sáu trần liền dứt, gọi cái gì làtâm? Sư nghe bỗng dưng có tỉnh. Sư đứng dậy trình vớiThủ tọa, Thủ tọa nhận đó, đến phương trượng trìnhvới Trưng, Trưng cũng nhận đó. Ngày sau liền từ giã đi,đồng học giữ lại. Sư không chịu nói: - Thầy tôi cho làđược, mà tôi trọn chưa hài lòng.

*

Bấy giờ Viên Ngộ từ Vân Cư trở về Thục trụ ở ChiêuGiác, Sư liền đến đó. Mỗi khi hỏi thoại ý chỉ rất caovót, Viên Ngộ thầm nhận. Một hôm Viên Ngộ phổ thuyếtnhắc Bàng Cư sĩ hỏi Mã Tổ: - Chẳng cùng muôn pháp làm bạnlà người gì? Mã Tổ bảo: - Đợi ông hớp một ngụm cạnnước Tây Giang liền nói với ông.

Sư nghe nói bỗng nhiên đại ngộ, ngã tại trong chúng, chúngcho là trúng gió cùng dìu dậy. Sư nói: - Tôi mộng hay thức?

Đến tối Viên Ngộ tiểu tham, Sư ra hỏi: - Sạch trọi trơnrỗng không một vật, thân trần nghèo tột không một tiền,cửa nát nhà tan xin Thầy cứu giúp?

Viên Ngộ đáp: - Bảy trân tám bảo một lúc lấy.

Sư thưa: - Làm sao cướp chẳng vào nhà cẩn thận?

Viên Ngộ đáp: - Cơ chẳng rời vị rơi trong biển độc.

Sư theo tiếng liền hét. Viên Ngộ lấy cây gậy gõ giườngthiền nói: - Ăn được gậy hay chưa?

Sư lại hét. Viên Ngộ hét liên tiếp hai tiếng. Sư lễ bái.Viên Ngộ rất vui làm kệ tặng Sư. Có cựu Thiết Thiệt cólời tháo chốt cửa, chúng gọi Sư là Thiết Thiệt Viễn.Từ đây cơ phong cao vót không ai chống lại.

*

Mùa xuân năm Ất Mão hiệu Thiệu Hưng, Huyện thú My Sơn mờiSư trụ núi Tượng Nhỉ, Sư chẳng nhận. Năm ấy Viên Ngộthị tịch, Sư than: Triết nhân đã mất nối đó là ai? Sưđóng một chiếc thuyền nhỏ xuống núi. Ban đầu đến HoàiNam, Sư trụ ở Long Bàng tám năm, kế dạo Lang Nha lại sangPhổ Tế, Định Nghiệp. Từ Sư phát minh tâm yếu liền đượcdu hí, như gió đại tự tại tam-muội.

*

Sư khai pháp đăng tòa nói: Trời không cửa đất không vách,trên gác hồ lô trồng đông qua, hai tay kéo cày nước đếngối, nhảy chuồn vàng nuốt dạ gai lật, vỗ bản thổi sáokhông lỗ, thua! Thua! Sơn tiêu một chân giỏi nhảy đôi, nămrồi mùa đông không than đốt, năm nay định là không lửahơ, khi đói đói đến tròng mắt vàng, khi nghèo nghèo đếnthân trần đứng, thua! Thua! Hãy nói thua cái gì? Tại sao Giámtự, Phó tự, Duy-na, Điển-tọa, Trực-tuế? lại cùng thợbùn nước thương lượng, thả ra chim cú hai đầu, nhai nátxương sống Phật điện.

*

Sư thượng đường nhắc: "Hòa thượng Chơn Tịnh dạy chúng:Trời đất cùng ta đồng gốc, vạn vật cùng ta đồng thể,đầu gót chân đuôi gót chân ngang ba dọc bốn, Bắc Câu-lôChâu nổi lửa đốt lông mày Đế Thích, Đông Hải Long vươngkhông thể nhịn được, sấm vang một tiếng ầm ầm, liềnđược hồ nghiêng núi ngã mây đầy không dài, chữ thậpđầu đường con nhà họ Liêu họ Hồ, trong lúc ngủ mê trỗidậy vỗ tay cười hả! Hả! Nói: Trong thành Quân Dương gầnđây ít cướp. Hòa thượng cầm cây gậy nói: Cướp! Cướp!"Sư nhắc xong nói: Phải thì một trường bán buôn chẳng ít,nào ngờ lỗ mũi tròng mắt mỗi người còn có chủ. Cớ sao?Trong gò sắn bìm lấy trộm chưa phải kẻ cướp ban ngày,trước cửa quán rượu bỏ sót chẳng phải chánh cướp. Khiấy ở đông lang đường có tiếng chó sủa, Sư liền gọicư sĩ xem: Trước cửa có quan khách nào. Đại chúng đềuxoay đầu nhìn. Sư bảo: Cần thấy chánh cướp chăng? Sư bènhuýt sáo một tiếng, chao tay xuống tòa.

*

Khi ấy Đại Huệ ở Mai Châu có người truyền kệ tụng vàđề xướng của Sư đến, Đại Huệ ngạc nhiên nói: Lãosư về già có đứa con như thế ư? Nhân đây Đại Huệ biênthơ thông tin và gởi tặng pháp y của Viên Ngộ. Sư làm tụngnghênh đón, hai vị gặp nhau rất vui. Đại Huệ hết lờikhen ngợi, lại đề ảnh Sư: Cái võ Xuyên này không chân khônggiả, một cây gậy trắng Phật đến cũng đánh, lại có mộtchỗ rất hay, giỏi nhằm trên bát bồn chạy ngựa.

Kế Sư dời trụ Quang Hiếu trải mười năm. An định quânvương Triệu Biểu Chi cùng Sư làm bạn ngoài đời. Thị lang Tăng Khai theo Sư thưa hỏi. Tăng tuy là sĩ đại phu mà đãbảo tham nơi chư kỳ lão, theo Đại Huệ dạo đi rất lâumà chưa thâm giải thoát, đến gặp Sư mới dứt các nghi.

*

Sau Sư dời đến Nam Nhạc trụ ở Nam Đài. Khi đó Thiền sưLiêu ở Long Vương, Thiền sư Phương ở Quãng Hạnh đều làcao đệ của Nguyệt Am, đạo đức nổi tiếng ở Hồ, Tương.Hai vị nói với nhau: Khoảng này vách đứng ngàn nhẫn, Viễnchỗ nào tá túc ư? Nhân thỉnh Sư đang tòa, lập hơn ba mươicâu hỏi đều là hóc búa nguy hiểm, chỗ học giả khó đến.Sư tùy cơ giải đáp lời lẽ thâm áo nghĩa luận siêu việt,mọi người rất thán phục. Liêu dẫn đồ chúng đảnh lễnói: Gối này chẳng cúi nơi người đã lâu.

*

Sư lại sang Thiên Thai trải trụ trì ba chùa Hộ Quốc, QuốcThanh, Hồng Phước. Khoảng niên hiệu Càn Đạo (1165-1174) Thượngthơ Trần Đức Hòa trấn thú Bình Giang do đại đạo tràngHổ Khưu gần đây không có người, tận tâm mời Sư trụtrì. Sư đến đây hết lòng mở mang đạo pháp. Sư lại vângchiếu trụ chùa Sùng Tiên ở núi Cao Đình. Chưa bao lâu, Sưthối viện đến trụ am Nghinh Chiếu. Sư lại vâng chiếu trụLinh Ẩn. Ngày khai đường có Trung sứ niêm hương chúc Thánhxong. Sư niêm hương rằng: - Một cây hương này trời đấtkhông thể che đậy, mắt Phật không thể xem lường, đưalên diệt chủng tộc Ấn Độ, nắm lại mờ mịt giết người,lụy ta ba mươi năm, trong cỏ hoang nằm ngang, đến khiến mộtđời làm kẻ chẳng nghẹn ngào, tựu trung có chút sai lầm,đối chúng cũng phải nói phá. Sơn tăng hai mươi năm trước,bị gió nghiệp thổi đến dưới núi Dân Nga trong rừng gaigóc, chạm đến chiếc chùy không lỗ, bị kia một đập nửasay nửa tỉnh, sẽ bảo câm miệng một đời không thể mở.Hai mươi năm sau, lại bị gió nghiệp thổi đến rửa giặtở đầu Cẩm Giang, trong gò sắn bìm gặp được cái đuôiđỏ trăng trắng, khi ấy chính bị cắn một cái, liền khôngtán đảm vong hồn, mở được miệng đến nay thọ dụng chẳnghết. Hãy nói, hương này vì thiện tri thức hai mươi năm trướclà phải, vì thiện tri thức hai mươi năm sau là phải? Mộtcon hạc chẳng đậu hai cây, một người khách chẳng phiềnhai nhà. Đâu chẳng thấy nói: Trước đi chẳng đến, rốtsau vượt xa. Ngày nay thân cướp đã bày tang vật hiện tại.Phụng vì Thành đô phủ Chiêu Giác tiên Viên Ngộ Thiền sưĐại Hòa thượng. Chẳng trọng Thầy đối ngự bàn không,hoành hành hải thượng, chỉ trọng Thầy trong ngực khôngvật trong bụng không thiền, khói nhằm trong lò dùng đềupháp nhũ.

*

Khi ấy, vua Hiếu Tông để tâm về Thiền học, nhiều phenmời Sư vào triều, ban hiệu là Phật Hải Thiền sư. Vua làmbài tụng tặng Sư:

Bát bồn chạy ngựa đến thiên đình,

Quen đạp ven trời ngựa chẳng sợ,

Xoay đầu bay lại núi cao vót,

Mây trắng bao trùm đế đô xuân.

Một hôm đánh trống đăng tòa xong, Sư vẫn ngồi trong màn.Thị giả tìm Sư chẳng thấy. Sư vạch màn ra nói: - Chỉ ởtrong này vì sao chẳng thấy?

Thị giả không đáp được. Sư đáp thay: - Búa lớn bửa bacửa.

Có vị Tăng Nhật Bản tên Giác A, thông Thiên Thai giáo vàcác sách, hay nói các thứ tiếng. Ban đầu đến yết kiếnSư tỏ ra rất lanh lợi, Sư đem Thiền tông chỉ dạy. Giácở ba năm liền đốn ngộ làm tụng đầu cơ trình Sư. Nhânđây có phái thiền truyền sang Nhật Bản.

Niên hiệu Thuần Hy thứ hai (1175) năm nhuần sáng tháng chín,Sư thượng đường nói kệ:

Thuần Hy thứ hai nhuần,

Cuối thu sáng tháng chín,

Chỗ ồn chớ xuất đầu,

Đất lạnh để mắt thấy

Tối sáng chẳng tương can,

Kia đây phân một nửa,

Một thứ làm người quí,

Bảo ai bán củi than.

Nói với ông, không thể chê không thể khen, thể dường hưkhông chẳng bờ mé, gọi nhau kêu nhau về lại đi, năm tớiđịnh là tháng giêng nữa.



8.THIỀN SƯ ÐẠO NHẤT
MãTổ - (709 - 788)

Vìngười đời sau quá kính trọng Sư nên nhân Sư họ Mã gọilà Mã Tổ: ông Tổ họ Mã.

Sưhọ Mã, quê ở huyện Thập Phương, Hán Châu. Thuở nhỏ, Sưdung mạo lạ thường: đi như trâu, nhìn như cọp, lưỡi dàikhỏi mũi, dưới chân có hai khu ốc. Lúc bé, Sư đến chùaLa-hán xin xuất gia với Hòa thượng Ðường ở Từ Châu. SauSư thọ giới cụ túc nơi Luật sư Viên ở Du Châu.

Ðờèường khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-742 T.L.), Sư tậpthiền định ở Viện truyền pháp tại Hoành Nhạc, nhân Thiềnsư Hoài Nhượng giáo hóa được giải ngộ. Bạn đồng thamhọc với Sư có sáu người, chỉ riêng Sư được truyền tâmấn.

Saukhi tạm biệt thầy, Sư đến Kiến Dương ở ngọn núi PhậtTích, kế dời sang Lâm Xuyên, sau lại đến núi Cung Công NamDương. Niên hiệu Ðại Lịch (765 T.L.) Liên soái Lộ Từ Cungvà Linh Phong, Cảnh Mộ thỉnh Sư khai đường để truyền bátông phong. Từ đây học giả bốn phương tụ hội về rấtđông. Có thể nói Giang Tây là một trường thi Phật.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Cácngươi mỗi người tin tâm mình là Phật, tâm này tức là tâmPhật. Tổ Ðạt-ma từ Nam Ấn sang Trung Hoa truyền pháp Thượngthừa nhất tâm, khiến các ngươi khai ngộ. Tổ lại dẫn kinhLăng-già để ấn tâm địa chúng sanh. Sợ e các ngươi điênđảo không tự tin pháp tâm này mỗi người tự có, nên kinhLăng-già nói: "Phật nói tâm là chủ, cửa không là cửa pháp."(Phật ngữ tâm vi tông, vô môn vi pháp môn.)

Phàmngười cầu pháp nên không có chỗ cầu, ngoài tâm không riêngcó Phật, ngoài Phật không riêng có tâm, không lấy thiệnchẳng bỏ ác, hai bên nhơ sạch đều không nương cậy, đạttánh tội là không, mỗi niệm đều không thật, vì không cótự tánh nên tam giới chỉ là tâm, sum la vạn tượng đềulà cái bóng của một pháp, thấy sắc tức là thấy tâm, tâmkhông tự là tâm, nhân sắc mới có.

Cácngươi chỉ tùy thời nói năng tức sự là lý, trọn khôngcó chỗ ngại, đạo quả Bồ-đề cũng như thế. Nơi tâm sanhra thì gọi là sắc, vì biết sắc không, nên sanh tức chẳngsanh. Nếu nhận rõ tâm này, mới có thể tùy thời ăn cơmmặc áo nuôi lớn thai thánh, mặc tình tháng ngày trôi qua,đâu còn có việc gì.

Cácngươi nhận ta dạy hãy nghe bài kệ này:

Tâm địa tùy thời thuyết

Bồ-đề diệc chỉ ninh

Sự lý câu vô ngại

Ðương sanh tức bất sanh.

Dịch:

Ðất tâm tùy thời nói

Bồ-đề cũng thế thôi

Sự lý đều không ngại

Chính sanh là chẳng sanh.

*

Cóvị Tăng hỏi:- Hòa thượng vì cái gì nói tức tâm tức Phật?

Sưđáp:- Vì vỗ con nít khóc.

- Connít nín rồi thì thế nào?

- Phitâm phi Phật.

- Ngườitrừ được hai thứ này rồi, phải dạy thế nào?

- Nóivới y là "phi vật".

- Khichợt gặp người thế ấy đến thì phải làm sao?

- Hãydạy y thể hội đại đạo.

*

Cóvị Tăng hỏi:

- Lytứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Thầy chỉ thẳng ý Tổ sư từẤn Ðộ sang?

Sưđáp:

- Hômnay ta mệt nhọc không thể vì ngươi nói, ngươi đến hỏiTrí Tạng. Vị Tăng ấy đến hỏi Trí Tạng.

TríTạng bảo:- Sao không hỏi Hòa thượng?

Tăngđáp:- Hòa thượng dạy đến hỏi Thầy.

TríTạng hỏi:

- Hômnay tôi đau đầu, không thể vì ông nói, đến hỏi Sư huynhHải.

Tăngđến hỏi Hoài Hải, Hoài Hải bảo:- Ðến chỗ ấy tôi cũngchẳng hội.

Tăngtrở lại trình Sư, Sư bảo:- Tạng đầu bạch, Hải đầuhắc.

*

Cưsĩ Long Uẩn đến hỏi:

- Nướckhông gân xương hay thắng chiếc thuyền muôn hộc, lý nàythế nào?

Sưđáp:- Trong ấy không nước cũng không thuyền, nói gì là gânxương?

Uẩnbảo:- Người không lầm xưa nay, thỉnh Thầy để mắt nhìnlên!

Sưliền nhìn thẳng xuống.

Uẩnnói:- Một cây đàn cầm không dây, mà Thầy đàn rất hay.

Sưliền nhìn thẳng lên. Uẩn lễ bái. Sư trở về phương trượng.Uẩn theo sau thưa:- Vừa rồi muốn làm khéo trở thành vụng.

*

Mộtđêm, Trí Tạng, Hoài Hải, Phổ Nguyện theo hầu Sư xem trăng.

Sưhỏi:- Ngay bây giờ nên làm gì?

TríTạng thưa:- Nên cúng dường.

HoàiHải thưa:- Nên tu hành.

PhổNguyện phủi áo ra đi.

Sưbảo:- Kinh vào Tạng, Thiền về Hải, chỉ có Phổ Nguyệnvượt ngoài sự vật.

*

HoàiHải hỏi:- Thế nào là chỉ thú Phật pháp?

Sưđáp:- Chính là chỗ ngươi bỏ thân mạng.

Sưlại hỏi Hoài Hải:- Ngươi lấy pháp gì chỉ dạy người?

HoàiHải dựng đứng cây phất tử.

Sưbảo:- Chỉ thế thôi hay còn gì khác?

HoàiHải ném cây phất tử xuống.

*

Tănghỏi:- Thế nào được hiệp đạo?

Sưđáp:- Ta sớm chẳng hiệp đạo.

Tănghỏi:- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?

Sưliền đánh và nói:- Ta nếu không đánh ngươi, các nơi sẽcười ta.

*

ÐặngẨn Phong từ biệt Sư đi nơi khác, Sư hỏi:- Ði đến đâu?

ẨnPhong thưa:- Ði đến Thạch Ðầu.

- ÐườngThạch Ðầu trơn.

- Cócây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.

ẨnPhong vừa đi đến Thạch Ðầu đi nhiễu giường thiền mộtvòng, dựng tích trượng động đất một tiếng, hỏi:

- Ấylà tông chỉ gì?

ThạchÐầu nói:- Trời xanh! trời xanh!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về thưa với Sư. Sư bảo:

- Ngươinên đi lại bên ấy, nếu Thạch Ðầu nói "trời xanh!" ngươi"hư! hư!"

ẨnPhong lại đi đến Thạch Ðầu làm như trước.

ThạchÐầu bèn: Hư! hư!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về trình với Sư. Sư bảo:

- Tađã nói với ngươi "đường Thạch Ðầu trơn".

*

Cóvị Giảng sư đến hỏi:- Thiền tông truyền giữ pháp gì?

Sưhỏi lại:- Tọa chủ truyền giữ pháp gì?

- Tôigiảng được hơn hai mươi bản kinh luận.

- Ðâukhông phải là sư tử con?

- Khôngdám.

Sưthốt ra tiếng: Hư! hư!

Giảngsư nói:- Ðây là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ra khỏi hang.

Sưbèn im lặng.

Giảngsư nói:- Ðây cũng là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ở trong hang.

- Khôngra không vào là pháp gì?

Giảngsư không đáp được, bèn từ giã đi ra đến cửa, Sư gọi:

- Chủtọa!

Giảngsư xoay đầu lại.

Sưhỏi:- Là pháp gì?

Giảngsư cũng không đáp được.

Sưbảo:- Ông thầy độn căn.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Ðạokhông dụng tu, chỉ đừng ô nhiễm. Sao là ô nhiễm? - Có tâmsanh tử, tạo tác, thú hướng đều là ô nhiễm. Nếu muốnhội thẳng đạo ấy, tâm bình thường là đạo. Sao gọi làtâm bình thường? -Không tạo tác, không thị phi, không thủxả, không đoạn thường, không phàm thánh. Kinh nói: "Chẳngphải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh thánh hiền, là hạnhBồ-tát." Chỉ như hiện nay đi đứng ngồi nằm, ứng cơ tiếpvật đều là đạo. Ðạo tức là pháp giới, cho đến diệudụng như hà sa đều không ngoài pháp giới. Nếu chẳng phảivậy, tại sao nói "pháp môn tăng địa", tại sao nói "vô tậnđăng"? Tất cả pháp đều là pháp của tâm, tất cả tênđều là tên của tâm. Muôn pháp đều từ tâm sanh, tâm làcội gốc của muôn pháp. Kinh nói: "Biết tâm đạt cội nguồnnên hiệu là Sa-môn." Tên đồng nghĩa đồng, tất cả phápđều đồng thuần nhất không lẫn lộn.

Nếuở trong giáo môn được tùy thời tự tại thì dựng lậppháp giới trọn là pháp giới, lập chân như là chân như,lập lý tất cả pháp trọn là lý, lập sự tất cả pháptrọn là sự, nắm giở một thì ngàn theo, sự lý không khác,toàn là diệu dụng. Lại không có lý riêng, đều do xoay lạicủa tâm. Ví như bao nhiêu bóng mặt trăng thì có, mà bao nhiêumặt trăng thật thì không, bao nhiêu nguồn nước thì có, màbao nhiêu tánh nước thì không, bao nhiêu sum la vạn tượngthì có, mà bao nhiêu hư không thì không, bao nhiêu lời nóiđạo lý thì có, mà bao nhiêu Tuệ vô ngại thì không; bao nhiêucác thứ thành lập đều do một tâm. Dựng lập cũng được,dẹp hết cũng được, thảy là diệu dụng. Diệu dụng trọnlà nhà mình, chẳng phải lìa chân mà có, nơi nơi đều chân,thảy đều là thể của nhà mình.

Nếuchẳng vậy, lại là người nào? Tất cả pháp đều là Phậtpháp, các pháp tức là giải thoát, giải thoát tức là chânnhư, các pháp không ngoài chân như, đi đứng ngồi nằm thảylà dụng bất tư nghì, không đợi thời tiết. Kinh nói: "Chỗchỗ nơi nơi đều có Phật." Phật là năng nhân, có trí tuệkhéo hợp lòng người, hay phá lưới nghi cho tất cả chúngsanh, vượt ra vòng trói buộc của có và không v.v... tình chấpphàm thánh hết, nhân pháp đều không, chuyển bánh xe khônggì hơn, vượt các số lượng, việc làm không ngại, sự lýđều thông, như trời hiện mây, chợt có lại không, chẳngđể dấu vết. Ví như vẽ nước thành lằn, không sanh khôngdiệt. Ðại tịch diệt tại triền gọi là Như lai tàng, xuấttriền gọi là Pháp thân thanh tịnh. Thể không tăng giảm,hay lớn hay nhỏ, hay vuông hay tròn, hợp vật hiện hình nhưtrăng trong nước, vận dụng mênh mông, không lập mầm gốcchẳng hết hữu vi, không trụ vô vi. Hữu vi là dụng củavô vi, vô vi là chỗ nương của hữu vi, chẳng trụ chỗ nương,nên nói: "Như không chẳng chỗ nương." Nghĩa tâm sanh diệt,nghĩa tâm chân như: Tâm chân như dụ như gương sáng soi vậttượng. Gương dụ tâm, vật tượng dụ pháp. Nếu tâm chấppháp là dính với cái nhân bên ngoài, tức là nghĩa sanh diệt.Tâm không chấp pháp tức là nghĩa chân như.

Thanhvăn tai nghe Phật tánh. Bồ-tát mắt thấy Phật tánh. Liễuđạt không hai gọi là bình đẳng tánh. Tánh không có khác,dụng thì chẳng đồng. Tại mê là thức, tại ngộ là trí.Thuận lý là ngộ, theo sự là mê. Mê tức là mê bản tâmmình, ngộ là ngộ bản tánh mình. Một phen ngộ là hằng ngộchẳng trở lại mê. Như đang khi mặt trời mọc lên khôngtrở lại tối. Mặt trời trí tuệ xuất hiện, không chungcùng cái tối phiền não. Liễu đạt cảnh giới của tâm liềntrừ vọng tưởng. Vọng tưởng đã trừ tức là vô sanh. Pháptánh sẵn có, có chẳng nhờ tu. Thiền không thuộc ngồi, ngồitức có chấp trước. Nếu thấy lý này là chân chánh hiệpđạo, tùy duyên qua ngày, đứng ngồi theo nhau, giới hạnhhuân thêm, nhóm nơi tịnh nghiệp. Chỉ hay như thế, lo gì chẳngthông.

Ðệtử của Sư được nhập thất (được vào thiền thất, làđã ngộ đạo) có đến tám mươi bốn vị, mỗi người làmchủ một phương truyền hóa vô cùng.

Ðờèường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ tư (788 T.L.) khoảngtháng giêng, Sư lên núi Thạch Môn, Kiến Xương, đi kinh hànhtrong rừng thấy chỗ hang động bằng phẳng, bèn bảo thịgiả:

- Thâncũ mục của ta sẽ ở tháng sau và trở về nơi này. Nói xong,Sư trở về.

Ðếnngày mùng bốn tháng hai, Sư có chút bệnh, tắm gội xong, ngồikiết già nhập diệt, thọ tám mươi tuổi, được sáu mươituổi hạ.

Sauvua sắc ban hiệu Ðại Tịch.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn