Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

46. Thiền sư Văn Ích hiệu Tịnh Huệ khai Tổ tông Pháp Nhãn

04/09/201102:42(Xem: 4051)
46. Thiền sư Văn Ích hiệu Tịnh Huệ khai Tổ tông Pháp Nhãn

THIỀNSƯ TRUNG HOA
HTThích Thanh Từ

TẬP 2
ĐỜI THỨCHÍN SAU LỤC TỔ

46.THIỀN SƯ VĂN ÍCH - Hiệu Tịnh Huệ
KhaiTổ tông Pháp Nhãn - (885 - 958)

Sưhọ Lỗ quê ở Dư Hàn, lúc bảy tuổi đã theo Thiền sư ToànVĩ ở viện Trí Thông xuất gia. Năm hai mươi tuổi, Sư thọgiới cụ túc ở chùa Khai Nguyên tại Việt Châu. Sư chú mụcvào giới luật, nghe Luật sư Hy Giác giảng dạy ở chùa DụcVương tại Mậu Sơn Minh Châu, bèn đến đây học tập nghiêncứu chỗ ý chỉ u vi. Sư lại xem sách Nho, đến trường VănNhã. Hy Giác bảo: kẻ này là du hạ trong môn của ta.

*

Dohuyền cơ một phen dấy lên, những việc tạp nhạp đều buônghết, Sư chống gậy sang phương nam hành khước. Đến PhướcChâu ở trong hội của Trường Khánh, Sư tuy chưa phát minhđại sự, mà chúng vẫn kính nể. Sư bèn kết bạn với ThiệuTu, Hồng Tiến ba người cùng dẫn nhau đi tham cứu.

Điđến viện Địa Tạng gặp trời trở tuyết, ba người cùngxin ngụ tại đây. Trời lạnh, cùng vây quanh lò sưởi, Thiềnsư Quế Sâm (trụ trì viện Địa Tạng) thấy hỏi: Đây làđi làm gì? Sư thưa: Đi hành khước. Quế Sâm hỏi: Việc hànhkhước là thế nào? Sư thưa: Chẳng biết. Quế Sâm bảo: Chẳngbiết rất là thân thiết. Quế Sâm lại hỏi cả ba người:Trong Triệu Luận nói: "trời đất cùng ta đồng gốc", vậysơn hà đại địa cùng chính mình Thượng tọa là đồng haykhác? Sư thưa: Khác. Quế Sâm đưa hai ngón tay. Sư nói: Đồng.

QuếSâm cũng đưa hai ngón tay, rồi đứng dậy đi.

Đếntuyết tan, ba người cùng đến từ biệt đi nơi khác, QuếSâm đưa ra đến cửa, hỏi: Bình thường Thượng tọa nói "tam giới duy tâm vạn pháp duy thức", vậy phiến đá dướisân này, là ở trong tâm hay ở ngoài tâm? Sư thưa: Ở trongtâm. Quế Sâm bảo: Người hành khước mắc cớ gì lại đểphiến đá trên đầu tâm? Sư bí không có lời để đáp, bèndẹp hành lý vào chùa, xin ở lại tham cứu.

Hơnmột tháng, Sư trình kiến giải nói đạo lý, vẫn bị QuếSâm bảo: Phật pháp không phải thế ấy. Sư thưa: Con đãhết lời cùng lý rồi. Quế Sâm bảo: Nếu luận Phật phápthì tất cả hiện thành. Qua câu nói ấy, Sư đại ngộ.

Saukhi khai ngộ, ba huynh đệ mỗi người trụ một nơi. RiêngSư lập am ở châu Cam Giá. Hồng Tiến và Thiệu Tu muốn dạokhắp các tòng lâm ở miền Giang Biểu nên rủ Sư đồng đi.Đi đến Lâm Xuyên, Châu Mục thỉnh Sư trụ viện Sùng Thọ.Khai đường trong ngày đầu, tiệc trà chưa xong, bốn chúngđã vây quanh pháp tòa. Vị Tăng đại diện đến bạch Sư:Bốn chúng đã vây quanh dưới pháp tòa của Hòa thượng. Sưnói: Chúng nhân đến tham chân thiện tri thức. Chốc lát, Sưlên tòa. Chúng đảnh lễ thỉnh xong, Sư bảo:

- Chúngnhân trọn đã đến đây, Sơn tăng chẳng lẽ không nói, cùngđại chúng nhắc một phương tiện của người xưa. Trân trọng!Liền xuống tòa.

Cóvị Tăng bước ra lễ bái. Sư bảo: Khéo hỏi đi. Vị Tăngtrình lên ý hỏi. Sư bảo: Trưởng lão chưa khai đường chẳngđáp thoại.

*

Thượngtọa Tử Phương từ Trường Khánh đến. Sư nhắc lại bàikệ của Hòa thượng Huệ Lăng ở Trường Khánh mà hỏi: Thếnào là ở trong vạn tượng riêng bày thân? Tử Phương dởphất tử. Sư nói: Hội thế ấy sao được? Tử Phương hỏi:Tôn ý Hòa thượng thế nào? Sư bảo: Gọi cái gì là vạntượng? Tử Phương nói: Người xưa chẳng vạch vạn tượng.Sư bảo: Ở trong vạn tượng riêng bày thân, nói cái gì làvạch chẳng vạch? Tử Phương bỗng nhiên ngộ giải, thuậtkệ đầu thành.

*

Sưhỏi Thiệu Tu: "Có sai hào ly cách xa trời đất", huynh hộithế nào? Thiệu Tu đáp: Có sai hào ly cách xa trời đất. Sưbảo: Hội thế ấy sao được? Thiệu Tu hỏi: Hòa thượngthế nào? Sư đáp: Có sai hào ly cách xa trời đất. ThiệuTu liền lễ bái.

*

Sưthượng đường, đại chúng đứng lâu, Sư bèn bảo chúng:

- Chỉthế ấy thì giải tán đi, lại có Phật pháp hay không, thửnói xem? Nếu không lại đến trong ấy làm gì? Nếu có, thìtrong chợ chỗ nhiều người tụ hội cũng có, cần gì phảiđến trong ấy?

Chưvị! mỗi người đã từng xem Hoàn Nguyên quán, Bách Môn nghĩahải, Hoa Nghiêm luận, Niết-bàn kinh, các kinh sách rất nhiều,cái gì trong kinh có thời tiết ấy? Nếu có, thử nêu ra xem!chẳng là trong kinh thế ấy, có những lời thế ấy, đó làthời tiết chăng? Có cái gì là giao thiệp. Sở dĩ lời haykẹt ở đầu tâm, thường làm môi trường cho duyên lự, thậttế ở ngay trước mắt, đổi làm cảnh danh tướng, lại làmsao được đổi? Nếu đã đổi rồi thì làm sao được chánh?Hội chăng? Nếu chỉ niệm kinh sách thế ấy, có dùng vàochỗ gì?

*

Cóvị Tăng hỏi:- Thế nào là vạch bày thì được cùng đạotương ưng?

- Khinào ông vạch bày tức cùng đạo chẳng tương ưng.

- Khisáu chỗ không tri âm thì thế nào?

- Nhàông quyến thuộc một đàn.

Sưlại nói:

- Làmsao hội? Chớ nói, đến hỏi thế ấy, bèn chẳng được đạocủa ông. Sáu chỗ chẳng tri âm, chỗ mắt chẳng tri âm? chỗtai chẳng tri âm? Nếu vậy chỗ căn bản có tìm hiểu là khôngđược. Người xưa nói: "lìa thanh sắc mắc thanh sắc, lìadanh tự mắc danh tự". Do đó, cõi trời Vô tưởng tu đượctrải qua tám muôn đại kiếp, một hôm cũng phải thối đọa,các việc rõ ràng. Bởi vì chẳng biết căn bản chân thật,tu hành theo thứ lớp, ba đời sáu mươi kiếp, bốn đời mộttrăm kiếp, như thế thẳng đến ba a-tăng-kỳ quả mới trònđầy. Người xưa vẫn nói "chẳng bằng một niệm duyên khởivô sanh, vượt khỏi cái thấy của tam thừa quyền học kiav.v..." Lại nói "khảy móng tay tròn thành tám vạn môn, sát-nadiệt hết nghiệp ba kỳ". Phải cần thể cứu. Nếu như thếdùng khí lực bao nhiêu?

*

Quốcchủ Giang Nam quí trọng đạo đức của Sư, thỉnh Sư vàotrụ thự Tịnh Huệ Thiền sư trong Báo Ân thiền viện. Sưthượng đường bảo chúng:

- Ngườixưa nói "ta đứng đợi ông nhìn", hôm nay Sơn tăng ngồi đợicác ông nhìn. Lại có đạo lý cùng chăng? cái nào thân, cáinào sơ? thử xét đoán xem!

*

Cóvị Tăng hỏi:

- Mườiphương hiền thánh đều vào tông này, thế nào là tông này?

Sưđáp:- Mười phương hiền thánh đều vào.

- Thếnào là Phật, người hướng thượng?

- Phươngtiện gọi là Phật.

- Haichữ thanh sắc, người nào thấu được?

Sưlại bảo chúng:

- ChưThượng tọa! vị Tăng này lại thấu được hay chưa? Nếuhội được chỗ hỏi này thì thấu thanh sắc chẳng khó.

*

Sau,Sư dời về ở viện Thanh Lương, thượng đường dạy chúng:

- Ngườixuất gia chỉ tùy thời và tiết, liền được lạnh thì lạnh,nóng thì nóng, muốn biết nghĩa Phật tánh phải quán thờitiết nhân duyên, xưa nay phương tiện chẳng ít. Đâu chẳngthấy Hòa thượng Thạch Đầu nhân xem Triệu Luận, trong ấynói: "hội muôn vật về nơi mình, kia chỉ là người Thánhvậy", Ngài liền nói: "thánh nhân không mình, cái gì chẳngmình", liền làm mấy lời gọi là Đồng tham khế, trong ấycâu mở đầu nói: "tâm đại tiên trúc độ" không qua lờinày vậy khoảng giữa chỉ tùy thời nói thoại.

Thượngtọa! nay muốn hội vạn vật là mình chăng? Bởi vì đạiđịa không có một vật có thể thấy. Ngài lại dặn dò rằng: "ngày tháng chớ qua suông". Vừa rồi, nói với các Thượngtọa chỉ tùy thời và tiết liền được. Nếu là đổi thờimất hậu tức là qua suông ngày tháng, ở trong cái phi sắckhởi hiểu sắc. Thượng tọa! ở trong cái phi sắc khởi hiểusắc tức là đổi thời mất hậu? Hãy nói sắc khởi hiểuphi sắc lại đúng chẳng đúng? Thượng tọa! nếu hội thếấy tức là không giao thiệp, chính là si cuồng chạy theo haiđầu có dùng được chỗ gì? Thượng tọa! chỉ giữ phầntùy thời qua là tốt. Trân trọng.

*

Cóvị Tăng hỏi:- Thế nào là gia phong của Thanh Lương?

Sưđáp:- Ngươi đến chỗ khác, chỉ nói đến Thanh Lương rồi.

- Thếnào được các pháp không chống lại?

- Cópháp gì chống lại Thượng tọa?

*

Sưdạy chúng:

- Thấyđạo là gốc, sáng đạo là công, liền hay được sức đạitrí tuệ. Nếu chưa được như thế thì, việc đáng yêu thíchtrong tam giới phải dạy dẹp hết, vừa có một mảy may lạilà chưa được. Như các ông khi ngủ chẳng sân bèn hỉ, đâylà cảnh giới hôn loạn huân tập đã thuần thục ở trongtam giới. Không tỉnh táo thì hôn loạn, bởi duyên các ôngtạp loạn gây nên. Cổ nhân gọi đó là đến vàng hóa ramà lầm cho là vàng ròng, nó còn chẳng bằng vàng trong mỏ.Nếu nhìn thấy tột xương thấu tủy, ấy là sức siêu thoátcủa các ông. Nếu chưa được như thế, nên xem xét cái gìlà lầu đài điện các? Chư Thánh chưa hẳn thường nắm tayông, ông chưa hẳn nương theo mà đi, xưa nay như thế vậy.

*

Sưthượng đường bảo:

- ChưThượng tọa! thời tiết lạnh cần gì đến đây? Hãy nóiđến đây là tốt hay chẳng đến đây là tốt? Hoặc có Thượngtọa nói "chẳng đến đây là tốt, vì chỗ nào chẳng phải,lại cần đến đây làm gì". Hoặc có Thượng tọa nói "ycũng chẳng đặng một chiều, cần đến chỗ Hòa thượngmới được". Chư Thượng tọa! hãy nói hai người ấy đốitrong Phật pháp lại có tiến thú hay không? Thượng tọa! thậtlà chẳng được đồng, không có một tí có thể tiến thú.Người xưa gọi là "chùy sắt không lỗ", mù từ bé, điếctừ bé, không khác. Nếu lại có một Thượng tọa bước ranói "hai người kia đều không được". Vì sao như thế? Vìy còn chấp trước, cho nên chẳng được.

ChưThượng tọa! như thế thật giống hành khước như thế thậtgiống thương lượng, còn mong làm gì? hay là chỉ cần khuamôi múa mỏ? hay là riêng có chỗ mong? Sợ e y chấp trướclà chấp trước cái gì? Hay là chấp trước lý, chấp trướcsự, chấp trước sắc, chấp trước không? Nếu chấp lý,lý là cái gì mà chấp? Nếu chấp sự, sự là cái gì mà chấp?Chấp sắc chấp không cũng như thế.

Sởdĩ bình thường, Sơn tăng nói với chư Thượng tọa mườiphương chư Phật, mười phương thiện tri thức luôn luôn duỗitay; chư Thượng tọa luôn luôn nắm tay. Mười phương chưPhật luôn luôn duỗi tay, là duỗi ở chỗ nào? Chư Thượngtọa luôn luôn nắm tay, lại có chỗ hội, hội lấy là tốt.Nếu chưa hội được, chớ nói: đều phải, đồng đến,toàn lấy.

ChưThượng tọa! người hành khước nhà bên cần phải xét kỹ,phải để hết tinh thần, không nên trông cậy vào trí tuệchút ít, qua mất thời đẹp đẽ.

*

Sưcó làm bài tụng:

Lý cực vong tình vị

Như hà hữu dụ tề

Đáo sầu sương dạ nguyệt

Nhậm vận lạc tiền khê.

Quả thục kiêm viên trọng

Sơn trường tợ lộ mê

Cử đầu tàn chiếu tại

Nguyên thị trụ cư tê.

Lý tột quên tình nói

Làm sao có dụ bằng

Đến cùng sương đêm sáng

Dần dà rơi trước khe.

Trái chín cùng vượn nặng

Núi dài giống đường quên

Xoay đầu toàn chiếu hiện

Nguyên là ở phương tây.

*

Sưlàm bài tụng tam giới duy tâm:

Tam giới duy tâm

Vạn pháp duy thức

Duy thức duy tâm

Nhãn thanh nhĩ sắc.

Sắc bất đáo nhĩ

Thanh hà xúc nhãn

Nhãn sắc nhĩ thanh

Vạn pháp thành biện.

Vạn pháp phỉ duyên

Khởi quán như huyễn

Đại địa sơn hà

Thùy kiên thùy biến

Tam giới duy tâm

Vạn pháp duy thức

Duy thức duy tâm

Mắt thanh tai sắc.

Sắc chẳng đến tai

Thanh nào chạm mắt

Mắt sắc tai thanh

Muôn pháp thành xong.

Muôn pháp chẳng duyên

Đâu quán như huyễn

Đại địa sơn hà

Gì bền gì đổi?

*

Sưlàm bài tụng Hoa Nghiêm lục tướng nghĩa:

Hoa Nghiêm lục tướng nghĩa

Đồng trung hoàn hữu dị

Dị nhược dị ư đồng

Toàn phi chư Phật ý.

Chư Phật ý tổng biệt.

Hà tằng hữu đồng dị.

Nam tử thân trung nhập định thời.

Nữ tử thân trung bất lưu ý.

Bất lưu ý, tuyệt danh tự.

Vạn tượng minh minh vô lý sự.

Dịch:

Nghĩa sáu tướng Hoa Nghiêm

Trong đồng lại có dị

Dị nếu dị nơi đồng

Toàn chẳng phải ý Phật.

Ý chư Phật thảy biệt

Đâu từng có đồng dị?

Trong thân kẻ nam khi vào định

Trong thân người nữ chẳng lưu ý,

Chẳng lưu ý, bặt danh tự

Vạn tượng rõ ràng không lý sự.

*

Sưở mấy nơi, nơi nào đồ chúng theo tham vấn thường xuyênkhông dưới một ngàn (1000) người. Sư làm cho chánh tông củaHuyền Sa hưng thạnh miền Giang Biểu. Sư theo cơ thuận vậtgỡ kẹt dẹp tối, phàm nói tam-muội các nơi, hoặc nhậpthất trình kiến giải, hoặc đứng ra thưa hỏi, đều theobệnh cho thuốc, tùy căn cơ ngộ nhập không thể ghi hết.

*

Đếnniên hiệu Hiển Đức năm thứ năm (993) nhà Châu, ngày mườibảy tháng bảy năm Mậu Ngọ, Sư có chút bệnh. Quốc chủđích thân đến thăm hỏi. Ngày mùng năm tháng nhuần, Sư tắmgội xong, từ giã chúng ngồi kiết già thị tịch, nhan mạonhư lúc bình thường. Sư thọ bảy mươi bốn tuổi, năm mươibốn tuổi hạ. Vua ban sắc thụy là Đại Pháp Nhãn Thiềnsư, tháp hiệu Vô Tướng.



8.THIỀN SƯ ÐẠO NHẤT
MãTổ - (709 - 788)

Vìngười đời sau quá kính trọng Sư nên nhân Sư họ Mã gọilà Mã Tổ: ông Tổ họ Mã.

Sưhọ Mã, quê ở huyện Thập Phương, Hán Châu. Thuở nhỏ, Sưdung mạo lạ thường: đi như trâu, nhìn như cọp, lưỡi dàikhỏi mũi, dưới chân có hai khu ốc. Lúc bé, Sư đến chùaLa-hán xin xuất gia với Hòa thượng Ðường ở Từ Châu. SauSư thọ giới cụ túc nơi Luật sư Viên ở Du Châu.

Ðờèường khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-742 T.L.), Sư tậpthiền định ở Viện truyền pháp tại Hoành Nhạc, nhân Thiềnsư Hoài Nhượng giáo hóa được giải ngộ. Bạn đồng thamhọc với Sư có sáu người, chỉ riêng Sư được truyền tâmấn.

Saukhi tạm biệt thầy, Sư đến Kiến Dương ở ngọn núi PhậtTích, kế dời sang Lâm Xuyên, sau lại đến núi Cung Công NamDương. Niên hiệu Ðại Lịch (765 T.L.) Liên soái Lộ Từ Cungvà Linh Phong, Cảnh Mộ thỉnh Sư khai đường để truyền bátông phong. Từ đây học giả bốn phương tụ hội về rấtđông. Có thể nói Giang Tây là một trường thi Phật.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Cácngươi mỗi người tin tâm mình là Phật, tâm này tức là tâmPhật. Tổ Ðạt-ma từ Nam Ấn sang Trung Hoa truyền pháp Thượngthừa nhất tâm, khiến các ngươi khai ngộ. Tổ lại dẫn kinhLăng-già để ấn tâm địa chúng sanh. Sợ e các ngươi điênđảo không tự tin pháp tâm này mỗi người tự có, nên kinhLăng-già nói: "Phật nói tâm là chủ, cửa không là cửa pháp."(Phật ngữ tâm vi tông, vô môn vi pháp môn.)

Phàmngười cầu pháp nên không có chỗ cầu, ngoài tâm không riêngcó Phật, ngoài Phật không riêng có tâm, không lấy thiệnchẳng bỏ ác, hai bên nhơ sạch đều không nương cậy, đạttánh tội là không, mỗi niệm đều không thật, vì không cótự tánh nên tam giới chỉ là tâm, sum la vạn tượng đềulà cái bóng của một pháp, thấy sắc tức là thấy tâm, tâmkhông tự là tâm, nhân sắc mới có.

Cácngươi chỉ tùy thời nói năng tức sự là lý, trọn khôngcó chỗ ngại, đạo quả Bồ-đề cũng như thế. Nơi tâm sanhra thì gọi là sắc, vì biết sắc không, nên sanh tức chẳngsanh. Nếu nhận rõ tâm này, mới có thể tùy thời ăn cơmmặc áo nuôi lớn thai thánh, mặc tình tháng ngày trôi qua,đâu còn có việc gì.

Cácngươi nhận ta dạy hãy nghe bài kệ này:

Tâm địa tùy thời thuyết

Bồ-đề diệc chỉ ninh

Sự lý câu vô ngại

Ðương sanh tức bất sanh.

Dịch:

Ðất tâm tùy thời nói

Bồ-đề cũng thế thôi

Sự lý đều không ngại

Chính sanh là chẳng sanh.

*

Cóvị Tăng hỏi:- Hòa thượng vì cái gì nói tức tâm tức Phật?

Sưđáp:- Vì vỗ con nít khóc.

- Connít nín rồi thì thế nào?

- Phitâm phi Phật.

- Ngườitrừ được hai thứ này rồi, phải dạy thế nào?

- Nóivới y là "phi vật".

- Khichợt gặp người thế ấy đến thì phải làm sao?

- Hãydạy y thể hội đại đạo.

*

Cóvị Tăng hỏi:

- Lytứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Thầy chỉ thẳng ý Tổ sư từẤn Ðộ sang?

Sưđáp:

- Hômnay ta mệt nhọc không thể vì ngươi nói, ngươi đến hỏiTrí Tạng. Vị Tăng ấy đến hỏi Trí Tạng.

TríTạng bảo:- Sao không hỏi Hòa thượng?

Tăngđáp:- Hòa thượng dạy đến hỏi Thầy.

TríTạng hỏi:

- Hômnay tôi đau đầu, không thể vì ông nói, đến hỏi Sư huynhHải.

Tăngđến hỏi Hoài Hải, Hoài Hải bảo:- Ðến chỗ ấy tôi cũngchẳng hội.

Tăngtrở lại trình Sư, Sư bảo:- Tạng đầu bạch, Hải đầuhắc.

*

Cưsĩ Long Uẩn đến hỏi:

- Nướckhông gân xương hay thắng chiếc thuyền muôn hộc, lý nàythế nào?

Sưđáp:- Trong ấy không nước cũng không thuyền, nói gì là gânxương?

Uẩnbảo:- Người không lầm xưa nay, thỉnh Thầy để mắt nhìnlên!

Sưliền nhìn thẳng xuống.

Uẩnnói:- Một cây đàn cầm không dây, mà Thầy đàn rất hay.

Sưliền nhìn thẳng lên. Uẩn lễ bái. Sư trở về phương trượng.Uẩn theo sau thưa:- Vừa rồi muốn làm khéo trở thành vụng.

*

Mộtđêm, Trí Tạng, Hoài Hải, Phổ Nguyện theo hầu Sư xem trăng.

Sưhỏi:- Ngay bây giờ nên làm gì?

TríTạng thưa:- Nên cúng dường.

HoàiHải thưa:- Nên tu hành.

PhổNguyện phủi áo ra đi.

Sưbảo:- Kinh vào Tạng, Thiền về Hải, chỉ có Phổ Nguyệnvượt ngoài sự vật.

*

HoàiHải hỏi:- Thế nào là chỉ thú Phật pháp?

Sưđáp:- Chính là chỗ ngươi bỏ thân mạng.

Sưlại hỏi Hoài Hải:- Ngươi lấy pháp gì chỉ dạy người?

HoàiHải dựng đứng cây phất tử.

Sưbảo:- Chỉ thế thôi hay còn gì khác?

HoàiHải ném cây phất tử xuống.

*

Tănghỏi:- Thế nào được hiệp đạo?

Sưđáp:- Ta sớm chẳng hiệp đạo.

Tănghỏi:- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?

Sưliền đánh và nói:- Ta nếu không đánh ngươi, các nơi sẽcười ta.

*

ÐặngẨn Phong từ biệt Sư đi nơi khác, Sư hỏi:- Ði đến đâu?

ẨnPhong thưa:- Ði đến Thạch Ðầu.

- ÐườngThạch Ðầu trơn.

- Cócây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.

ẨnPhong vừa đi đến Thạch Ðầu đi nhiễu giường thiền mộtvòng, dựng tích trượng động đất một tiếng, hỏi:

- Ấylà tông chỉ gì?

ThạchÐầu nói:- Trời xanh! trời xanh!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về thưa với Sư. Sư bảo:

- Ngươinên đi lại bên ấy, nếu Thạch Ðầu nói "trời xanh!" ngươi"hư! hư!"

ẨnPhong lại đi đến Thạch Ðầu làm như trước.

ThạchÐầu bèn: Hư! hư!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về trình với Sư. Sư bảo:

- Tađã nói với ngươi "đường Thạch Ðầu trơn".

*

Cóvị Giảng sư đến hỏi:- Thiền tông truyền giữ pháp gì?

Sưhỏi lại:- Tọa chủ truyền giữ pháp gì?

- Tôigiảng được hơn hai mươi bản kinh luận.

- Ðâukhông phải là sư tử con?

- Khôngdám.

Sưthốt ra tiếng: Hư! hư!

Giảngsư nói:- Ðây là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ra khỏi hang.

Sưbèn im lặng.

Giảngsư nói:- Ðây cũng là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ở trong hang.

- Khôngra không vào là pháp gì?

Giảngsư không đáp được, bèn từ giã đi ra đến cửa, Sư gọi:

- Chủtọa!

Giảngsư xoay đầu lại.

Sưhỏi:- Là pháp gì?

Giảngsư cũng không đáp được.

Sưbảo:- Ông thầy độn căn.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Ðạokhông dụng tu, chỉ đừng ô nhiễm. Sao là ô nhiễm? - Có tâmsanh tử, tạo tác, thú hướng đều là ô nhiễm. Nếu muốnhội thẳng đạo ấy, tâm bình thường là đạo. Sao gọi làtâm bình thường? -Không tạo tác, không thị phi, không thủxả, không đoạn thường, không phàm thánh. Kinh nói: "Chẳngphải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh thánh hiền, là hạnhBồ-tát." Chỉ như hiện nay đi đứng ngồi nằm, ứng cơ tiếpvật đều là đạo. Ðạo tức là pháp giới, cho đến diệudụng như hà sa đều không ngoài pháp giới. Nếu chẳng phảivậy, tại sao nói "pháp môn tăng địa", tại sao nói "vô tậnđăng"? Tất cả pháp đều là pháp của tâm, tất cả tênđều là tên của tâm. Muôn pháp đều từ tâm sanh, tâm làcội gốc của muôn pháp. Kinh nói: "Biết tâm đạt cội nguồnnên hiệu là Sa-môn." Tên đồng nghĩa đồng, tất cả phápđều đồng thuần nhất không lẫn lộn.

Nếuở trong giáo môn được tùy thời tự tại thì dựng lậppháp giới trọn là pháp giới, lập chân như là chân như,lập lý tất cả pháp trọn là lý, lập sự tất cả pháptrọn là sự, nắm giở một thì ngàn theo, sự lý không khác,toàn là diệu dụng. Lại không có lý riêng, đều do xoay lạicủa tâm. Ví như bao nhiêu bóng mặt trăng thì có, mà bao nhiêumặt trăng thật thì không, bao nhiêu nguồn nước thì có, màbao nhiêu tánh nước thì không, bao nhiêu sum la vạn tượngthì có, mà bao nhiêu hư không thì không, bao nhiêu lời nóiđạo lý thì có, mà bao nhiêu Tuệ vô ngại thì không; bao nhiêucác thứ thành lập đều do một tâm. Dựng lập cũng được,dẹp hết cũng được, thảy là diệu dụng. Diệu dụng trọnlà nhà mình, chẳng phải lìa chân mà có, nơi nơi đều chân,thảy đều là thể của nhà mình.

Nếuchẳng vậy, lại là người nào? Tất cả pháp đều là Phậtpháp, các pháp tức là giải thoát, giải thoát tức là chânnhư, các pháp không ngoài chân như, đi đứng ngồi nằm thảylà dụng bất tư nghì, không đợi thời tiết. Kinh nói: "Chỗchỗ nơi nơi đều có Phật." Phật là năng nhân, có trí tuệkhéo hợp lòng người, hay phá lưới nghi cho tất cả chúngsanh, vượt ra vòng trói buộc của có và không v.v... tình chấpphàm thánh hết, nhân pháp đều không, chuyển bánh xe khônggì hơn, vượt các số lượng, việc làm không ngại, sự lýđều thông, như trời hiện mây, chợt có lại không, chẳngđể dấu vết. Ví như vẽ nước thành lằn, không sanh khôngdiệt. Ðại tịch diệt tại triền gọi là Như lai tàng, xuấttriền gọi là Pháp thân thanh tịnh. Thể không tăng giảm,hay lớn hay nhỏ, hay vuông hay tròn, hợp vật hiện hình nhưtrăng trong nước, vận dụng mênh mông, không lập mầm gốcchẳng hết hữu vi, không trụ vô vi. Hữu vi là dụng củavô vi, vô vi là chỗ nương của hữu vi, chẳng trụ chỗ nương,nên nói: "Như không chẳng chỗ nương." Nghĩa tâm sanh diệt,nghĩa tâm chân như: Tâm chân như dụ như gương sáng soi vậttượng. Gương dụ tâm, vật tượng dụ pháp. Nếu tâm chấppháp là dính với cái nhân bên ngoài, tức là nghĩa sanh diệt.Tâm không chấp pháp tức là nghĩa chân như.

Thanhvăn tai nghe Phật tánh. Bồ-tát mắt thấy Phật tánh. Liễuđạt không hai gọi là bình đẳng tánh. Tánh không có khác,dụng thì chẳng đồng. Tại mê là thức, tại ngộ là trí.Thuận lý là ngộ, theo sự là mê. Mê tức là mê bản tâmmình, ngộ là ngộ bản tánh mình. Một phen ngộ là hằng ngộchẳng trở lại mê. Như đang khi mặt trời mọc lên khôngtrở lại tối. Mặt trời trí tuệ xuất hiện, không chungcùng cái tối phiền não. Liễu đạt cảnh giới của tâm liềntrừ vọng tưởng. Vọng tưởng đã trừ tức là vô sanh. Pháptánh sẵn có, có chẳng nhờ tu. Thiền không thuộc ngồi, ngồitức có chấp trước. Nếu thấy lý này là chân chánh hiệpđạo, tùy duyên qua ngày, đứng ngồi theo nhau, giới hạnhhuân thêm, nhóm nơi tịnh nghiệp. Chỉ hay như thế, lo gì chẳngthông.

Ðệtử của Sư được nhập thất (được vào thiền thất, làđã ngộ đạo) có đến tám mươi bốn vị, mỗi người làmchủ một phương truyền hóa vô cùng.

Ðờèường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ tư (788 T.L.) khoảngtháng giêng, Sư lên núi Thạch Môn, Kiến Xương, đi kinh hànhtrong rừng thấy chỗ hang động bằng phẳng, bèn bảo thịgiả:

- Thâncũ mục của ta sẽ ở tháng sau và trở về nơi này. Nói xong,Sư trở về.

Ðếnngày mùng bốn tháng hai, Sư có chút bệnh, tắm gội xong, ngồikiết già nhập diệt, thọ tám mươi tuổi, được sáu mươituổi hạ.

Sauvua sắc ban hiệu Ðại Tịch.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn