Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Tập 2

03/09/201113:53(Xem: 6159)
Tập 2

THIỀNSƯ TRUNG HOA
HTThích Thanh Từ

TẬP 2
LỜINÓI ĐẦU

TậpII Thiền sư Trung Hoa này, chúng tôi chú mục vào Ngũ gia Tôngphái. Muốn độc giả thấy rõ sự kế thừa của năm Tôngphái, chúng tôi soạn dịch những vị có trọng trách trongviệc truyền bá sau này, với những vị tuy không quan trọngmà vẫn có mặt trong việc kế thừa của tông phái ấy. Cònlắm vị có nhiều đặc sắc, nhưng không phải nằm trong haiđiều kiện trên chúng tôi lược bớt.

Sửchư Thiền đức ở Trung hoa còn quá nhiều, song chúng tôi chỉsoạn dịch đến đây tạm ngưng. Thấy rằng độc giả cầntìm hiểu đạo lý thâm sâu và những gương cao đẹp, qua bấynhiêu vị ấy cũng đã đủ lắm rồi. Nếu cố dịch nhiềuthêm nữa, chỉ có thêm người thêm lời, chớ đạo lý cũngkhông có gì khác lạ. Cốt chúng ta lãnh hội được thâm lýqua lời nói hành động của các ngài, không phải cần đọcnhiều để thêm kiến giải.

Sởnguyện chúng tôi soạn dịch các tập sử này nhằm vào nhữngngười đang tu thiền mà không biết nguồn gốc manh mối thiềnthế nào, và những người ngưỡng mộ Thiền tông mà khôngđủ phương tiện tham khảo. Chớ chúng tôi không cung ứngtheo xu hướng những người đọc sách thiền để tỏ ra mìnhlà trí thức.

Chúngtôi được biết hiện thời là phong trào giới trí thức trẻtuổi tìm hiểu thiền. Bởi muốn tìm hiểu thiền nên quyểnsách nào nói về thiền mà dễ hiểu thì độc giả đông nhất.Song những quyển sách chúng tôi soạn dịch đây thật là côđọng khô khan, hẳn độc giả không hài lòng và sẽ ít ngườimó tới. Biết trước số phận của nó là thế, nhưng chúngtôi vẫn giữ nguyên lập trường cũ không đổi thay. Bởivì Thiền là một phương pháp tu cao tột, những kẻ căn cơchậm lụt, ý chí yếu kém khó mà tu nổi. Nên chi, chư Tổdùng lời khó khăn để lọc lựa người.

ChưTổ đã biết chúng sanh có bệnh khinh thường, hèn nhát vàdễ chán. Dù một vật quí vô giá mà trao cho họ một cáchdễ dàng, họ sẽ khinh thường, đã khinh thường thì dễ quênmất. Cho nên các ngài khéo dùng những lời lẽ bí yếu, nhữnghành động lạ thường, khiến người lãnh nhận những lờiấy phải chết sống với nó năm mười năm rồi sẽ ngộ.Một khi ngộ, suốt đời không lúc nào quên lãng. Đó là mộtđặc điểm trong Thiền tông.

Thiềntông cốt dạy người làm Tổ làm Phật, chớ không phải chỉdạy tu phước đức cõi người cõi trời. Làm Tổ làm Phậtđâu phải là việc dung dị. Cho nên, người bước vào cửathiền phải là sư tử con phải gầm phải hét, không phảinhư những con nai tơ nhút nhát kia. Vì thế, một Thiền sinhkhi ngộ đạo thường có những hành động xem như ngang ngượcđối với bậc thầy. Nhưng với con mắt Thiền sư thấy thếrất hài lòng, biết đệ tử mình đã thoát khỏi vòng khuônsáo, tập quán.

Conđường làm Tổ, làm Phật xa diệu vợi và đầy gian nguy,nếu con người dễ chán làm sao tiến đến mục đích cứukính. Vì thế, cần có những con người sắt đá, dù thânnát mà chí không mòn, mới đủ tư cách đảm đang trọng tráchnày. Phải vượt khỏi đầu sào trăm trượng, phải buôngtay đi trên vực thẳm đó là lời thường nhắc của các Thiềnsư.

Nhưthế, những câu nói điếc tai của các ngài không phải khôngchỗ nhằm. Nếu chúng ta cố giải thích cho nó dễ hiểu, đâukhông phản bội lại các ngài. Nhiều vị Đại đức tănghiện tại thường nói: “người tu thiền dễ rơi vào chấpkhông”. Câu nói này, đứng về phương diện cảnh tỉnh thìquí giá, đứng về phương diện chân thật thì sai lầm. VìThiền là phá chấp, còn chấp không làm sao gọi là hội thiền,đã không hội thì lấy gì mà tu. Như thế, nói người tu thiềnchấp không thật không thể có.

Tuynhiên, vẫn có một số người không hội được thâm lý củathiền, chỉ nói thiền qua ngôn ngữ rồi sanh bệnh cố chấp.Như hiện tại có một số thanh niên trí thức đọc sách thiềnthấy nói “không có thiện không có ác”, liền chấp rằngmọi hành động đều không. Họ không hiểu Thiền nói “khôngthiện không ác” là cố phá chấp có hai, tương đối. Bởivì mầm gốc sanh tử luân hồi là tâm yêu ghét. Còn khen ngợithiện là yêu thiện, còn mạt sát ác là ghét ác. Yêu ghétcòn làm sao giải thoát sanh tử. Hơn nữa, yêu mà xa thì khổ,ghét mà gặp cũng khổ. Thế thì tu đến bao giờ mới hếtkhổ? Cho nên, khi nói không thiện không ác là lúc tâm đãbình đẳng như như. Tuy nói không thiện mà lúc nào cũng làmtất cả việc lành. Tuy nói không ác mà lúc nào cũng xa lìatất cả tội lỗi. Đó là tư cách của người đạt đượclý thiền. Khổ thay! hiện tại người ta không hiểu như thế,nói không thiện không ác để rồi ăn xổi ở thì, hay thậmtệ hơn là làm tất cả việc ác.

Hoặcđọc sách thiền thấy các Thiền đức nói “đói thì ăn,mệt thì ngủ” họ mặc tình buông lung theo bản năng, ưngnói thì nói ưng làm thì làm, không cần biết phải quấy tốtxấu. Đó là hạng người sa đọa tột độ, mượn lời nóicủa thiền để nuôi dưỡng những tham vọng điên cuồng củahọ. Khi các Thiền đức nói “đói thì ăn mệt thì ngủ”là tâm các ngài đã sạch vọïng tưởng, mọi hành độngđều hợp với đạo. Như nước đã lọc sạch rồi thì sansớt cách nào cũng là nước trong. Tâm đã thanh tịnh thì mọihành động đều là diệu dụng.

Thiềncốt dạy tu chớ không phải lý thuyết suông. Thế nên, cácvị Thiền sư sau khi hội thiền, liền lên núi vào rừng ởnăm năm mười năm có khi hai ba mươi năm. Do sự luyện lọcấy mới gột sạch hết vọng tưởng, tâm thể như như, tựtại trong việc sanh tử. Cốt tủy của đạo Phật là giácngộ nguồn gốc sanh tử và giải thoát chúng. Thiền sư đãthực hiện được điều đó trong đời sống hiện tại. Ưngsống các ngài sống, ưng chết các ngài chết. Đó là bằngchứng cụ thể nói lên sự trung thực của Thiền đốivới đạo Phật.

Thiềndạy người tu một cách thực tế, tìm lại “bản lai diệnmục” của mình. Bởi quá thực tế nên người ta không hiểunổi, con người là hướng ngoại, con người là cầu xin, conngười là ỷ lại. Ở đây Thiền đập tan ba tánh ươn hènấy. Ba tánh ấy đã chôn vùi chúng ta từ vô lượng kiếp.Chúng ta phải cương quyết quả cảm đập nát chúng, đểrồi chúng ta tìm lại cái mặt thật của chúng ta. Chúng talà chủ nhân ông của chúng ta từ vô lượng kiếp. Chúng taphải khôi phục lại quyền năng của ông chủ bản hữu nơichính mình. Đó là chúng ta tu thiền.

Tuthiền là vượt qua những thành quách tập quán, ngôn ngữ,văn tự. Bởi vì những cái ấy đều do vọng tưởng củangười đặt ra. Còn mắc kẹt trong ấy là chúng ta còn làmtôi đòi của vọng tưởng, sẽ bị nó lôi chúng ta vào vòngsanh tử liên miên. Dù là những ngôn ngữ văn tự diễn đạtchân lý đi nữa, nó cũng chỉ là chân lý chết. Chúng ta phảisống với chân lý linh hoạt hiện hữu nơi chúng ta. Chân lýấy không cho phép chúng ta mắc kẹt bất cứ cái gì bên ngoài,dù là tập quán của ngàn xưa. Còn mắc kẹt là còn chấp,còn chấp thì không đạt được chân lý viên mãn. Như cònmây che thì không thấy được ánh sáng toàn vẹn của mặttrăng, dù một áng mây mỏng ánh sáng cũng vẫn bị mờ.

Đạolý thiền là đạo lý tu chứng. Có tu chứng mới gọi là thiền,không tu chứng mà nói thiền, ấy gọi là “khẩu đầuthiền”, thiền ngoài môi. Tuy nhiên, tu chứng mà không cótướng tu chứng. Còn thấy có tướng tu chứng thì gọi làbệnh, chớ chẳng phải thiền. Có lắm người nghe nói tu thiềnliền hỏi đã chứng gì chưa, thế là không hiểu gì về thiền.Người tu thiền mà khoe mình chứng quả này quả nọ, ấylà ma chớ không phải Thiền sư. Thiền sư là những ngườithâm trầm, tám gió thổi không lay, tự tại trước ngưỡngcửa sanh tử.

Mongkhi đọc những tập sử của chúng tôi soạn dịch, độc giảsẽ phát minh được “bản lai diện mục” của chính mình.Bằng chưa phát minh được, độc giả hãy bám vào một câunào không hiểu để sống chết với nó, một ngày kia sẽphát minh được.

Kínhghi
THÍCHTHANH TỪ
Tuviện CHÂN KHÔNG, Đầu mùa đông 1972

8.THIỀN SƯ ÐẠO NHẤT
MãTổ - (709 - 788)

Vìngười đời sau quá kính trọng Sư nên nhân Sư họ Mã gọilà Mã Tổ: ông Tổ họ Mã.

Sưhọ Mã, quê ở huyện Thập Phương, Hán Châu. Thuở nhỏ, Sưdung mạo lạ thường: đi như trâu, nhìn như cọp, lưỡi dàikhỏi mũi, dưới chân có hai khu ốc. Lúc bé, Sư đến chùaLa-hán xin xuất gia với Hòa thượng Ðường ở Từ Châu. SauSư thọ giới cụ túc nơi Luật sư Viên ở Du Châu.

Ðờèường khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-742 T.L.), Sư tậpthiền định ở Viện truyền pháp tại Hoành Nhạc, nhân Thiềnsư Hoài Nhượng giáo hóa được giải ngộ. Bạn đồng thamhọc với Sư có sáu người, chỉ riêng Sư được truyền tâmấn.

Saukhi tạm biệt thầy, Sư đến Kiến Dương ở ngọn núi PhậtTích, kế dời sang Lâm Xuyên, sau lại đến núi Cung Công NamDương. Niên hiệu Ðại Lịch (765 T.L.) Liên soái Lộ Từ Cungvà Linh Phong, Cảnh Mộ thỉnh Sư khai đường để truyền bátông phong. Từ đây học giả bốn phương tụ hội về rấtđông. Có thể nói Giang Tây là một trường thi Phật.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Cácngươi mỗi người tin tâm mình là Phật, tâm này tức là tâmPhật. Tổ Ðạt-ma từ Nam Ấn sang Trung Hoa truyền pháp Thượngthừa nhất tâm, khiến các ngươi khai ngộ. Tổ lại dẫn kinhLăng-già để ấn tâm địa chúng sanh. Sợ e các ngươi điênđảo không tự tin pháp tâm này mỗi người tự có, nên kinhLăng-già nói: "Phật nói tâm là chủ, cửa không là cửa pháp."(Phật ngữ tâm vi tông, vô môn vi pháp môn.)

Phàmngười cầu pháp nên không có chỗ cầu, ngoài tâm không riêngcó Phật, ngoài Phật không riêng có tâm, không lấy thiệnchẳng bỏ ác, hai bên nhơ sạch đều không nương cậy, đạttánh tội là không, mỗi niệm đều không thật, vì không cótự tánh nên tam giới chỉ là tâm, sum la vạn tượng đềulà cái bóng của một pháp, thấy sắc tức là thấy tâm, tâmkhông tự là tâm, nhân sắc mới có.

Cácngươi chỉ tùy thời nói năng tức sự là lý, trọn khôngcó chỗ ngại, đạo quả Bồ-đề cũng như thế. Nơi tâm sanhra thì gọi là sắc, vì biết sắc không, nên sanh tức chẳngsanh. Nếu nhận rõ tâm này, mới có thể tùy thời ăn cơmmặc áo nuôi lớn thai thánh, mặc tình tháng ngày trôi qua,đâu còn có việc gì.

Cácngươi nhận ta dạy hãy nghe bài kệ này:

Tâm địa tùy thời thuyết

Bồ-đề diệc chỉ ninh

Sự lý câu vô ngại

Ðương sanh tức bất sanh.

Dịch:

Ðất tâm tùy thời nói

Bồ-đề cũng thế thôi

Sự lý đều không ngại

Chính sanh là chẳng sanh.

*

Cóvị Tăng hỏi:- Hòa thượng vì cái gì nói tức tâm tức Phật?

Sưđáp:- Vì vỗ con nít khóc.

- Connít nín rồi thì thế nào?

- Phitâm phi Phật.

- Ngườitrừ được hai thứ này rồi, phải dạy thế nào?

- Nóivới y là "phi vật".

- Khichợt gặp người thế ấy đến thì phải làm sao?

- Hãydạy y thể hội đại đạo.

*

Cóvị Tăng hỏi:

- Lytứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Thầy chỉ thẳng ý Tổ sư từẤn Ðộ sang?

Sưđáp:

- Hômnay ta mệt nhọc không thể vì ngươi nói, ngươi đến hỏiTrí Tạng. Vị Tăng ấy đến hỏi Trí Tạng.

TríTạng bảo:- Sao không hỏi Hòa thượng?

Tăngđáp:- Hòa thượng dạy đến hỏi Thầy.

TríTạng hỏi:

- Hômnay tôi đau đầu, không thể vì ông nói, đến hỏi Sư huynhHải.

Tăngđến hỏi Hoài Hải, Hoài Hải bảo:- Ðến chỗ ấy tôi cũngchẳng hội.

Tăngtrở lại trình Sư, Sư bảo:- Tạng đầu bạch, Hải đầuhắc.

*

Cưsĩ Long Uẩn đến hỏi:

- Nướckhông gân xương hay thắng chiếc thuyền muôn hộc, lý nàythế nào?

Sưđáp:- Trong ấy không nước cũng không thuyền, nói gì là gânxương?

Uẩnbảo:- Người không lầm xưa nay, thỉnh Thầy để mắt nhìnlên!

Sưliền nhìn thẳng xuống.

Uẩnnói:- Một cây đàn cầm không dây, mà Thầy đàn rất hay.

Sưliền nhìn thẳng lên. Uẩn lễ bái. Sư trở về phương trượng.Uẩn theo sau thưa:- Vừa rồi muốn làm khéo trở thành vụng.

*

Mộtđêm, Trí Tạng, Hoài Hải, Phổ Nguyện theo hầu Sư xem trăng.

Sưhỏi:- Ngay bây giờ nên làm gì?

TríTạng thưa:- Nên cúng dường.

HoàiHải thưa:- Nên tu hành.

PhổNguyện phủi áo ra đi.

Sưbảo:- Kinh vào Tạng, Thiền về Hải, chỉ có Phổ Nguyệnvượt ngoài sự vật.

*

HoàiHải hỏi:- Thế nào là chỉ thú Phật pháp?

Sưđáp:- Chính là chỗ ngươi bỏ thân mạng.

Sưlại hỏi Hoài Hải:- Ngươi lấy pháp gì chỉ dạy người?

HoàiHải dựng đứng cây phất tử.

Sưbảo:- Chỉ thế thôi hay còn gì khác?

HoàiHải ném cây phất tử xuống.

*

Tănghỏi:- Thế nào được hiệp đạo?

Sưđáp:- Ta sớm chẳng hiệp đạo.

Tănghỏi:- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?

Sưliền đánh và nói:- Ta nếu không đánh ngươi, các nơi sẽcười ta.

*

ÐặngẨn Phong từ biệt Sư đi nơi khác, Sư hỏi:- Ði đến đâu?

ẨnPhong thưa:- Ði đến Thạch Ðầu.

- ÐườngThạch Ðầu trơn.

- Cócây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.

ẨnPhong vừa đi đến Thạch Ðầu đi nhiễu giường thiền mộtvòng, dựng tích trượng động đất một tiếng, hỏi:

- Ấylà tông chỉ gì?

ThạchÐầu nói:- Trời xanh! trời xanh!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về thưa với Sư. Sư bảo:

- Ngươinên đi lại bên ấy, nếu Thạch Ðầu nói "trời xanh!" ngươi"hư! hư!"

ẨnPhong lại đi đến Thạch Ðầu làm như trước.

ThạchÐầu bèn: Hư! hư!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về trình với Sư. Sư bảo:

- Tađã nói với ngươi "đường Thạch Ðầu trơn".

*

Cóvị Giảng sư đến hỏi:- Thiền tông truyền giữ pháp gì?

Sưhỏi lại:- Tọa chủ truyền giữ pháp gì?

- Tôigiảng được hơn hai mươi bản kinh luận.

- Ðâukhông phải là sư tử con?

- Khôngdám.

Sưthốt ra tiếng: Hư! hư!

Giảngsư nói:- Ðây là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ra khỏi hang.

Sưbèn im lặng.

Giảngsư nói:- Ðây cũng là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ở trong hang.

- Khôngra không vào là pháp gì?

Giảngsư không đáp được, bèn từ giã đi ra đến cửa, Sư gọi:

- Chủtọa!

Giảngsư xoay đầu lại.

Sưhỏi:- Là pháp gì?

Giảngsư cũng không đáp được.

Sưbảo:- Ông thầy độn căn.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Ðạokhông dụng tu, chỉ đừng ô nhiễm. Sao là ô nhiễm? - Có tâmsanh tử, tạo tác, thú hướng đều là ô nhiễm. Nếu muốnhội thẳng đạo ấy, tâm bình thường là đạo. Sao gọi làtâm bình thường? -Không tạo tác, không thị phi, không thủxả, không đoạn thường, không phàm thánh. Kinh nói: "Chẳngphải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh thánh hiền, là hạnhBồ-tát." Chỉ như hiện nay đi đứng ngồi nằm, ứng cơ tiếpvật đều là đạo. Ðạo tức là pháp giới, cho đến diệudụng như hà sa đều không ngoài pháp giới. Nếu chẳng phảivậy, tại sao nói "pháp môn tăng địa", tại sao nói "vô tậnđăng"? Tất cả pháp đều là pháp của tâm, tất cả tênđều là tên của tâm. Muôn pháp đều từ tâm sanh, tâm làcội gốc của muôn pháp. Kinh nói: "Biết tâm đạt cội nguồnnên hiệu là Sa-môn." Tên đồng nghĩa đồng, tất cả phápđều đồng thuần nhất không lẫn lộn.

Nếuở trong giáo môn được tùy thời tự tại thì dựng lậppháp giới trọn là pháp giới, lập chân như là chân như,lập lý tất cả pháp trọn là lý, lập sự tất cả pháptrọn là sự, nắm giở một thì ngàn theo, sự lý không khác,toàn là diệu dụng. Lại không có lý riêng, đều do xoay lạicủa tâm. Ví như bao nhiêu bóng mặt trăng thì có, mà bao nhiêumặt trăng thật thì không, bao nhiêu nguồn nước thì có, màbao nhiêu tánh nước thì không, bao nhiêu sum la vạn tượngthì có, mà bao nhiêu hư không thì không, bao nhiêu lời nóiđạo lý thì có, mà bao nhiêu Tuệ vô ngại thì không; bao nhiêucác thứ thành lập đều do một tâm. Dựng lập cũng được,dẹp hết cũng được, thảy là diệu dụng. Diệu dụng trọnlà nhà mình, chẳng phải lìa chân mà có, nơi nơi đều chân,thảy đều là thể của nhà mình.

Nếuchẳng vậy, lại là người nào? Tất cả pháp đều là Phậtpháp, các pháp tức là giải thoát, giải thoát tức là chânnhư, các pháp không ngoài chân như, đi đứng ngồi nằm thảylà dụng bất tư nghì, không đợi thời tiết. Kinh nói: "Chỗchỗ nơi nơi đều có Phật." Phật là năng nhân, có trí tuệkhéo hợp lòng người, hay phá lưới nghi cho tất cả chúngsanh, vượt ra vòng trói buộc của có và không v.v... tình chấpphàm thánh hết, nhân pháp đều không, chuyển bánh xe khônggì hơn, vượt các số lượng, việc làm không ngại, sự lýđều thông, như trời hiện mây, chợt có lại không, chẳngđể dấu vết. Ví như vẽ nước thành lằn, không sanh khôngdiệt. Ðại tịch diệt tại triền gọi là Như lai tàng, xuấttriền gọi là Pháp thân thanh tịnh. Thể không tăng giảm,hay lớn hay nhỏ, hay vuông hay tròn, hợp vật hiện hình nhưtrăng trong nước, vận dụng mênh mông, không lập mầm gốcchẳng hết hữu vi, không trụ vô vi. Hữu vi là dụng củavô vi, vô vi là chỗ nương của hữu vi, chẳng trụ chỗ nương,nên nói: "Như không chẳng chỗ nương." Nghĩa tâm sanh diệt,nghĩa tâm chân như: Tâm chân như dụ như gương sáng soi vậttượng. Gương dụ tâm, vật tượng dụ pháp. Nếu tâm chấppháp là dính với cái nhân bên ngoài, tức là nghĩa sanh diệt.Tâm không chấp pháp tức là nghĩa chân như.

Thanhvăn tai nghe Phật tánh. Bồ-tát mắt thấy Phật tánh. Liễuđạt không hai gọi là bình đẳng tánh. Tánh không có khác,dụng thì chẳng đồng. Tại mê là thức, tại ngộ là trí.Thuận lý là ngộ, theo sự là mê. Mê tức là mê bản tâmmình, ngộ là ngộ bản tánh mình. Một phen ngộ là hằng ngộchẳng trở lại mê. Như đang khi mặt trời mọc lên khôngtrở lại tối. Mặt trời trí tuệ xuất hiện, không chungcùng cái tối phiền não. Liễu đạt cảnh giới của tâm liềntrừ vọng tưởng. Vọng tưởng đã trừ tức là vô sanh. Pháptánh sẵn có, có chẳng nhờ tu. Thiền không thuộc ngồi, ngồitức có chấp trước. Nếu thấy lý này là chân chánh hiệpđạo, tùy duyên qua ngày, đứng ngồi theo nhau, giới hạnhhuân thêm, nhóm nơi tịnh nghiệp. Chỉ hay như thế, lo gì chẳngthông.

Ðệtử của Sư được nhập thất (được vào thiền thất, làđã ngộ đạo) có đến tám mươi bốn vị, mỗi người làmchủ một phương truyền hóa vô cùng.

Ðờèường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ tư (788 T.L.) khoảngtháng giêng, Sư lên núi Thạch Môn, Kiến Xương, đi kinh hànhtrong rừng thấy chỗ hang động bằng phẳng, bèn bảo thịgiả:

- Thâncũ mục của ta sẽ ở tháng sau và trở về nơi này. Nói xong,Sư trở về.

Ðếnngày mùng bốn tháng hai, Sư có chút bệnh, tắm gội xong, ngồikiết già nhập diệt, thọ tám mươi tuổi, được sáu mươituổi hạ.

Sauvua sắc ban hiệu Ðại Tịch.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn