Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

14. Thiền sư Phổ Nguyện (Nam Tuyền)

03/09/201109:39(Xem: 2285)
14. Thiền sư Phổ Nguyện (Nam Tuyền)

THIỀNSƯ TRUNG HOA
HTThích Thanh Từ

TẬP 1

ĐỜI THỨ BA SAU LỤC TỔ

B.Phái Hoài Nhượng

14.THIỀN SƯ PHỔ NGUYỆN
NamTuyền - (749 - 834)

Sưhọ Vương, quê ở Tân Trịnh, Trịnh Châu. Ðời Ðường niênhiệu Chí Ðức thứ hai (758 T.L.), Sư theo Thiền sư Ðại Huệở núi Ðại Ngung xuất gia học đạo. Năm ba mươi tuổi, Sưlên núi Cao Nhạc thọ giới cụ túc. Lúc đầu, Sư học tậpTướng tông và Luật tông, kế tìm đến các nơi giảng KinhLuận thọ học. Sư đã học được kinh Lăng-già, Hoa Nghiêm,Trung Luận, Bách Luận...

*

Sau,Sư đến Mã Tổ bỗng nhiên "được cá quên nôm" (đạt lýquên lời), được du hí tam-muội (chánh định ngao du tự tại).Một hôm, Sư bưng cháo cho chúng Tăng, Mã Tổ hỏi:

- Trongthùng thông là cái gì?

Sưthưa:- Ông già nên ngậm miệng, nói năng làm gì?

MãTổ bèn thôi.

Từđây về sau, những bạn đồng tham học không ai dám gạn hỏiSư điều gì.

*

Niênhiệu Trinh Nguyên thứ mười một (795 T.L.), Sư tạm biệt MãTổ đi tìm nơi cất am. Sau khi rời Mã Tổ, Sư đồng đi vớiThiền sư Bảo Vân, Trí Thường, Trí Kiên cả thảy bốn người.Ðến giữa đường, sắp từ biệt nhau, Sư cắm gậy xuốngđất bảo:

- Nóiđược cũng bị cái ấy ngại, nói không được cũng bị cáiấy ngại.

TríThường liền nhổ gậy, đập Sư một gậy, rồi nói:

- Cũngchỉ cái ấy, Vương lão sư (thầy già họ Vương) nói cáigì ngại, chẳng ngại?

BảoVân nói:- Chỉ một câu này truyền khắp thiên hạ.

TríThường hỏi:- Lại có cái chẳng khắp chăng?

BảoVân đáp:- Có.

TríThường hỏi:- Thế nào là cái chẳng khắp?

BảoVân ra bộ tát tai.

*

Bốnvị ngồi uống trà. Bảo Vân đưa chung trà lên nói:

- Khithế giới chưa thành vẫn có cái ấy.

Sưbảo:- Người nay chỉ biết cái ấy, chưa biết thế giới.

TríThường nói:- Phải.

Sưbảo:- Sư huynh đâu đồng cái thấy này.

TríThường lại đưa cái chung trà lên bảo:

- Khithế giới chưa thành nói được chăng?

Sưra bộ tát tai, Trí Thường đưa mặt nhận tát tai.

*

Sưđến núi Nam Tuyền cất am, ở mãi hơn ba mươi năm chưa từngxuống núi. Niên hiệu Thái Hòa năm đầu (827 T.L.), Liêm sứthành Tuyền Châu là Lục Công Tuyên nghe đạo phong của Sưbèn cùng Giám quân đồng đến thỉnh Sư xuống núi, với tưcách đệ tử thỉnh thầy. Từ đây, Sư mở rộng đạo huyền,số người tham học không khi nào dưới vài trăm. Các nơigọi Sư là "người mô phạm đất Dĩnh".

*

Dướinúi Nam Tuyền có một Am chủ, có người nói: "Gần đây cóHòa thượng Nam Tuyền ra đời, sao ông không đến yết kiến?"Am chủ bảo: "Chẳng những Nam Tuyền ra đời, dù có ngàn đứcPhật xuất thế, tôi cũng chẳng đến." Sư nghe lời này, bènsai Tùng Thẩm (Triệu Châu) đi khám phá. Tùng Thẩm đến làmlễ, Am chủ chẳng thèm nhìn. Tùng Thẩm từ Ðông qua Tây,lại từ Tây qua Ðông, Am chủ cũng chẳng nhìn. Tùng Thẩmbảo: "giặc cỏ đại bại", bèn bỏ tấm mành xuống ra về.Tùng Thẩm về thuật lại Sư nghe. Sư bảo:

- Tatừ lâu nghi lão ấy.

Mộthôm, Sư đến Trang sở, Trang chủ dự bị đón tiếp. Sư hỏi:

- Lãotăng ra vào thường không cho người biết, sao Trang chủ biếttrước mà bày biện như vậy?

Trangchủ thưa:

- Ðêmqua thổ địa mách ngày nay Hòa thượng đến.

Sưbảo:- Vương lão sư tu hành vô lực bị quỉ thần xem thấy.

Thịgiả hỏi:- Hòa thượng đã là thiện tri thức, vì sao bịquỉ thần xem thấy?

Sưbảo:- Trước thổ địa để một phần cơm.

*

TùngThẩm hỏi:

- Ðạochẳng ngoài vật, ngoài vật chẳng đạo, thế nào là đạongoài vật?

Sưliền đánh. Tùng Thẩm nắm gậy lại, nói:

- Từđây về sau chớ có đánh lầm người.

Sưbảo:- Rồng rắn dễ phân biệt, nạp tử (tăng sĩ) khó lường.

*

Mộthôm, Sư đóng cửa phương trượng (nhà thầy trụ trì ở vuôngvức một trượng), lấy tro rắc ngoài cửa, bảo:

- Nếucó người nói được liền mở cửa.

Cónhiều vị Tăng nói, mà không hợp ý Sư.

TùngThẩm nói:- Trời xanh.

Sưliền mở cửa.

*

Sưdạy chúng:

- MãTổ ở Giang Tây nói "tức tâm tức Phật", Vương lão sư chẳngnói thế ấy, mà nói "chẳng phải tâm, chẳng phải Phật,chẳng phải vật", nói thế có lỗi chăng?

TùngThẩm lễ bái đi ra.

Khiấy có vị Tăng theo hỏi Tùng Thẩm:

- Thượngtọa lễ bái đi ra, ý thế nào?

TùngThẩm bảo:- Thầy nên hỏi Hòa thượng.

VịTăng ấy đến hỏi Sư:

- Hànhđộng vừa rồi của Thượng tọa Thẩm, ý thế nào?

Sưbảo:- Ông ấy đã nhận được ý chỉ của Lão tăng.

*

NhàÐông, nhà Tây tranh nhau con mèo. Sư trông thấy, liền bảochúng:

- Nóiđược là cứu con mèo, nói không được thì chém nó.

ChúngTăng đều ngơ ngác không nói được. Sư liền chém con mèo.Tùng Thẩm ở ngoài đi vào, Sư dùng câu nói trước hỏi. TùngThẩm liền cổi giày để trên đầu đi ra. Sư bảo:

- Giákhi nãy có ngươi ở đây, đã cứu được con mèo.

*

Lụcđại phu hỏi Sư:

- Trongnhà đệ tử có một phiến đá, hoặc khi ngồi, hoặc khi nằm,nay tính đem làm tượng Phật được chăng?

Sưđáp:- Ðược.

Ðạiphu hỏi:- Chẳng được chăng?

Sưđáp:- Chẳng được.

Ðạiphu hỏi:- Ðại Bi Bồ-tát dùng nhiều mắt tay như thế đểlàm gì?

Sưhỏi lại:- Quốc gia dùng Ðại phu để làm gì?

*

Sưthượng đường dạy chúng:

- Vươnglão sư từ nhỏ nuôi một con trâu đực, tính thả ăn ở khầông sợ e không khỏi phạm nước cỏ của quốc vương, tínhthả ăn ở khe Tây cũng sợ e không khỏi phạm nước cỏ củaquốc vương, chi bằng tùy thời nhận chút ít trọn chẳngthấy được.

*

Sưthượng đường bảo:

- PhậtNhiên Ðăng nói "nếu tâm tướng khởi nghĩ sanh ra các pháplà hư giả chẳng thật". Vì cớ sao? Vì tâm còn không có,lấy gì sanh ra các pháp, ví như bóng phân biệt hư không, nhưngười lấy tiếng để trong rương, cũng như thổi lưới muốnđược đầy hơi. Cho nên Lão túc bảo "chẳng phải tâm, chẳngphải Phật, chẳng phải vật". Nói thế là dạy các huynh đệchỗ đi vững chắc. Nói: "Bồ-tát Thập địa trụ chánh địnhThủ Lăng Nghiêm được pháp tạng bí mật của chư Phật,tự nhiên được tất cả thiền định giải thoát thần thôngdiệu dụng, đến tất cả thế giới khắp hiện sắc thân,hoặc thị hiện thành Phật chuyển bánh xe đại pháp, vàoNiết-bàn, khiến vô lượng vào một lỗ chân lông, nói mộtcâu trải vô lượng kiếp cũng không hết nghĩa, giáo hóa vôlượng ngàn ức chúng sanh được vô sanh pháp nhẫn, còn gọilà sở tri ngu vi tế." Sở tri ngu cùng đạo trái nhau. Rấtkhó! rất khó! trân trọng.

*

Sưthượng đường dạy chúng:

- Cácngươi! Lão tăng lúc mười tám tuổi đã biết kế sống, cóai biết kế sống ra trình, sẽ cùng ngươi thương lượng,người ấy mới đáng ở núi.

Sưlặng thinh giây lâu, nhìn đại chúng chấp tay, nói:

- Vôsự! Trân trọng! Mỗi người tự tu hành.

Ðạichúng vẫn ngồi yên.

Sưbảo:

- Huynhđệ người thời nay gánh Phật để trên vai mà đi, nghe Lãotăng nói: "tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo", bènhội họp suy nghĩ. Lão tăng không có chỗ để các ngươi suynghĩ. Nếu các ngươi trói hư không lấy gậy đập được,Lão tăng sẽ cho suy nghĩ.

Cóvị Tăng ra hỏi:

- TừThượng Tổ cho đến Ðại sư ở Giang Tây đều nói: "tứctâm là Phật", "tâm bình thường là đạo". Nay Hòa thượngnói "tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo", học nhânchắc sanh nghi ngờ, xin Hòa thượng từ bi chỉ dạy.

Sưđáp:

- Ngươinếu là Phật thì đâu còn phải nghi, lại hỏi Lão tăng chỗgì? Có nhà bên cạnh nghi Phật như thế đến, Lão tăng chẳngphải Phật cũng chẳng từng thấy Tổ sư, ngươi nói như thế,tự tìm Tổ sư đi!

Tăngthưa:- Hòa thượng nói như thế, dạy học nhân làm sao phùtrì được?

Sưbảo:- Ngươi mau lấy tay bắt hư không đi!

Tăngthưa:- Hư không không tướng không động, làm sao mà bắt?

Sưbảo:

- Ngươinói không tướng không động tức là động vậy. Hư khôngđâu biết nói "ta không tướng không động". Ðây đều làtình kiến của ngươi.

Tăngthưa:

- Hưkhông không tướng không động còn là tình kiến, trước Hòathượng dạy con bắt hư không là còn vật gì?

Sưbảo:

- Ngươiđã biết không nên nói bắt, mà lại nghĩ làm sao phù trì?

Tăngthưa:

- Tứctâm là Phật đã chẳng được, thị tâm tức Phật đượcchăng?

Sưbảo:

- Thịtâm thị Phật, thị tâm tác Phật, do tình chấp mà có, đềubởi tưởng mà thành. Phật là người trí, tâm là chủ nhómphân biệt, khi đối vật phát ra diệu dụng. Ðại đức chớnhận tâm, nhận Phật, dù nhận được cảnh ấy vẫn cònbị người gọi là Sở tri ngu. Cho nên Ðại sư ở Giang Tâybảo: "Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật."Vả lại đã dạy người sau các ngươi chỗ đi như thế. Ngườihọc thời nay mặc y phục nhà bên cạnh nghi như thế, muốnđược rảnh việc có được chăng?

- Ðãchẳng phải tâm chẳng phải Phật chẳng phải vật, nay Hòathượng lại nói "tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo",chưa biết thế nào?

- Ngươichẳng nhận tâm là Phật, trí là đạo, Lão tăng chợt đượctâm lại để chỗ nào?

- Ðãhoàn toàn chẳng được thì đâu khác hư không?

- Ðãchẳng phải vật làm sao so với hư không, lại nói cái gìlà khác chẳng khác?

- Chẳnglẽ không cái chẳng phải tâm chẳng phải Phật, chẳng phảivật?

- Ngươinếu nhận cái ấy, lại thành tâm Phật rồi.

- ThỉnhHòa thượng nói.

- Lãotăng tự chẳng biết.

- Tạisao chẳng biết?

- Bảota nói làm sao?

- Ðànhchẳng cho học nhân hội đạo sao?

- Hộiđạo gì? Lại làm sao hội?

- Conkhông biết.

- Khôngbiết lại tốt. Nếu lấy lời Lão tăng cho là người nươngtựa thông suốt, dù thấy Phật Di-lặc ra đời vẫn bị Ngàinhổ hết lông đầu.

- Dạyngười sau thế nào?

- Ngươitự xem, chớ lo những người sau.

- TrướcHòa thượng chẳng cho con hội thông, giờ lại bảo con tựxem, chưa biết thế nào?

- Thầmhội, diệu hội, làm sao cho ngươi hội?

- Thếnào là diệu hội?

- Lạimuốn học ngữ của Lão tăng, dù có nói, là Lão tăng nói,Ðại đức thế nào?

- Connếu tự hội thì đâu phiền xin Hòa thượng từ bi chỉ dạy?

- Khôngthể chỉ Ðông chỉ Tây lừa người, ngươi khi còn khóc tuoa! tu oa! Sao chẳng đến hỏi Lão tăng? Bây giờ khôn ngoanmới nói con chẳng hội, mong cái gì? Nếu người đời nàylọt lòng mẹ bèn nói ta xuất gia làm Thiền sư, vậy khi chưaxuất gia từng làm việc gì, hãy nói xem, ta sẽ cùng ngươithương lượng?

- Khiấy con chẳng biết.

- Ðãchẳng biết thì hiện nay nhận được, có thể phải sao?

- Nhậnđược đã chẳng phải, không nhận được phải chăng?

- Nhận,chẳng nhận là lời nói gì?

- Ðếntrong ấy con càng chẳng hội.

- Ngươinếu chẳng hội, ta cũng chẳng hội.

- Conlà học nhân tức chẳng hội, Hòa thượng là thiện tri thứcphải hội.

- Chỉnói với ngươi chẳng hội, ai luận thiện tri thức.

Chớkhôn xảo, xem như Mã Tổ lúc còn tại tiền, có một họcsĩ đến hỏi: "Như nước không gân xương, hay thắng thuyềnmuôn đấu, lý này thế nào?" Mã Tổ bảo: "Trong ấy khôngnước cũng không thuyền, luận gì gân xương." Huynh đệ! họcsĩ ấy bèn thôi, đâu không tỉnh lực. Sở dĩ thường thườngnói với các ngươi Phật không hội đạo, ta tự tu hành, dùngbiết để làm gì?

- Thếnào là tu hành?

- Khôngthể nghĩ lường, đâu thể nói với ngươi tu thế này, hànhthế này, đại nạn!

- Lạicho học nhân tu hành chăng?

- Lãotăng không thể ngăn ngươi.

- Conlàm sao tu hành?

- Cầnhành thì hành, không nên chuyên tầm bọn khác.

- Nếukhông nhờ thiện tri thức chỉ dạy thì không do đâu đượchội? Như Hòa thượng mọi khi nói "tu hành phải hiểu mớiđược, nếu không hiểu thì rơi vào nhân quả, không có phầntự do", chưa biết tu hành thế nào khỏi vào nhân quả?

- Lạichẳng cần thương lượng. Nếu luận tu hành thì chỗ nàochẳng hành được?

- Thếnào hành được?

- Ngươikhông thể theo bọn kia tìm được.

- Hòathượng chưa nói dạy, con làm sao tìm?

- Giảsử nói chỗ tìm đó, vả như ngươi từ sáng đến tối chợtđi Ðông, đi Tây, ngươi còn không suy nghĩ nói, đi đượcchẳng được, người khác không thể biết được ngươi.

- Ngaykhi đi Ðông đi Tây toàn không suy nghĩ, là phải chăng?

- Khiấy, ai nói là phải chẳng phải?

*

Cóvị Tăng hỏi:

- Tronghư không có một hạt châu làm sao lấy được?

Sưbảo:

- Chặttre làm thang bắc trong hư không lấy.

- Tronghư không làm sao bắc thang?

- Ngươinghĩ thế nào lấy?

*

Sưdạy chúng:

- Chỉhội được tánh từ vô lượng kiếp đến giờ không biếnđổi tức tu hành, diệu dụng mà chẳng trụ tức là hạnhBồ-tát. Ðạt các pháp không, diệu dụng tự tại, sắc thântam-muội rõ ràng. Hành lục ba-la-mật không, thì nơi nơi khôngngại, dạo trong địa ngục như xem vườn đẹp, không thểnói y chẳng được tác dụng. Chúng sanh từ vô lượng kiếpđến giờ quên bản tánh, chẳng tự liễu ngộ chân thể,bị mây trần che lấp, đắm mê sắc dục, như mây bay thấytrăng chạy, thuyền đi thấy bờ dời, tạm thời chia đường,chẳng được tự tại, thọ các thứ khổ chẳng tự hiểubiết. Ðến hôm nay hội được tánh bản lai, tánh ấy cùnghiện giờ không khác.

*

Sưsắp tịch, đệ nhất tọa hỏi:

- Saukhi Hòa thượng trăm tuổi đi về chỗ nào?

Sưbảo:- Làm con trâu dưới núi.

Tănghỏi:- Con theo Hòa thượng được chăng?

Sưbảo:- Nếu ngươi muốn theo ta phải ngậm theo một bó cỏ.

Niênhiệu Thái Hòa thứ tám (834 T.L.) ngày rằm tháng hai, Sư cóchút bệnh. Sáng hôm sau, Sư bảo chúng:

- Saoche đèn huyễn lâu vậy, chớ bảo ta có đi lại. Sư nói xongliền tịch, thọ tám mươi bảy tuổi.

8.THIỀN SƯ ÐẠO NHẤT
MãTổ - (709 - 788)

Vìngười đời sau quá kính trọng Sư nên nhân Sư họ Mã gọilà Mã Tổ: ông Tổ họ Mã.

Sưhọ Mã, quê ở huyện Thập Phương, Hán Châu. Thuở nhỏ, Sưdung mạo lạ thường: đi như trâu, nhìn như cọp, lưỡi dàikhỏi mũi, dưới chân có hai khu ốc. Lúc bé, Sư đến chùaLa-hán xin xuất gia với Hòa thượng Ðường ở Từ Châu. SauSư thọ giới cụ túc nơi Luật sư Viên ở Du Châu.

Ðờèường khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-742 T.L.), Sư tậpthiền định ở Viện truyền pháp tại Hoành Nhạc, nhân Thiềnsư Hoài Nhượng giáo hóa được giải ngộ. Bạn đồng thamhọc với Sư có sáu người, chỉ riêng Sư được truyền tâmấn.

Saukhi tạm biệt thầy, Sư đến Kiến Dương ở ngọn núi PhậtTích, kế dời sang Lâm Xuyên, sau lại đến núi Cung Công NamDương. Niên hiệu Ðại Lịch (765 T.L.) Liên soái Lộ Từ Cungvà Linh Phong, Cảnh Mộ thỉnh Sư khai đường để truyền bátông phong. Từ đây học giả bốn phương tụ hội về rấtđông. Có thể nói Giang Tây là một trường thi Phật.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Cácngươi mỗi người tin tâm mình là Phật, tâm này tức là tâmPhật. Tổ Ðạt-ma từ Nam Ấn sang Trung Hoa truyền pháp Thượngthừa nhất tâm, khiến các ngươi khai ngộ. Tổ lại dẫn kinhLăng-già để ấn tâm địa chúng sanh. Sợ e các ngươi điênđảo không tự tin pháp tâm này mỗi người tự có, nên kinhLăng-già nói: "Phật nói tâm là chủ, cửa không là cửa pháp."(Phật ngữ tâm vi tông, vô môn vi pháp môn.)

Phàmngười cầu pháp nên không có chỗ cầu, ngoài tâm không riêngcó Phật, ngoài Phật không riêng có tâm, không lấy thiệnchẳng bỏ ác, hai bên nhơ sạch đều không nương cậy, đạttánh tội là không, mỗi niệm đều không thật, vì không cótự tánh nên tam giới chỉ là tâm, sum la vạn tượng đềulà cái bóng của một pháp, thấy sắc tức là thấy tâm, tâmkhông tự là tâm, nhân sắc mới có.

Cácngươi chỉ tùy thời nói năng tức sự là lý, trọn khôngcó chỗ ngại, đạo quả Bồ-đề cũng như thế. Nơi tâm sanhra thì gọi là sắc, vì biết sắc không, nên sanh tức chẳngsanh. Nếu nhận rõ tâm này, mới có thể tùy thời ăn cơmmặc áo nuôi lớn thai thánh, mặc tình tháng ngày trôi qua,đâu còn có việc gì.

Cácngươi nhận ta dạy hãy nghe bài kệ này:

Tâm địa tùy thời thuyết

Bồ-đề diệc chỉ ninh

Sự lý câu vô ngại

Ðương sanh tức bất sanh.

Dịch:

Ðất tâm tùy thời nói

Bồ-đề cũng thế thôi

Sự lý đều không ngại

Chính sanh là chẳng sanh.

*

Cóvị Tăng hỏi:- Hòa thượng vì cái gì nói tức tâm tức Phật?

Sưđáp:- Vì vỗ con nít khóc.

- Connít nín rồi thì thế nào?

- Phitâm phi Phật.

- Ngườitrừ được hai thứ này rồi, phải dạy thế nào?

- Nóivới y là "phi vật".

- Khichợt gặp người thế ấy đến thì phải làm sao?

- Hãydạy y thể hội đại đạo.

*

Cóvị Tăng hỏi:

- Lytứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Thầy chỉ thẳng ý Tổ sư từẤn Ðộ sang?

Sưđáp:

- Hômnay ta mệt nhọc không thể vì ngươi nói, ngươi đến hỏiTrí Tạng. Vị Tăng ấy đến hỏi Trí Tạng.

TríTạng bảo:- Sao không hỏi Hòa thượng?

Tăngđáp:- Hòa thượng dạy đến hỏi Thầy.

TríTạng hỏi:

- Hômnay tôi đau đầu, không thể vì ông nói, đến hỏi Sư huynhHải.

Tăngđến hỏi Hoài Hải, Hoài Hải bảo:- Ðến chỗ ấy tôi cũngchẳng hội.

Tăngtrở lại trình Sư, Sư bảo:- Tạng đầu bạch, Hải đầuhắc.

*

Cưsĩ Long Uẩn đến hỏi:

- Nướckhông gân xương hay thắng chiếc thuyền muôn hộc, lý nàythế nào?

Sưđáp:- Trong ấy không nước cũng không thuyền, nói gì là gânxương?

Uẩnbảo:- Người không lầm xưa nay, thỉnh Thầy để mắt nhìnlên!

Sưliền nhìn thẳng xuống.

Uẩnnói:- Một cây đàn cầm không dây, mà Thầy đàn rất hay.

Sưliền nhìn thẳng lên. Uẩn lễ bái. Sư trở về phương trượng.Uẩn theo sau thưa:- Vừa rồi muốn làm khéo trở thành vụng.

*

Mộtđêm, Trí Tạng, Hoài Hải, Phổ Nguyện theo hầu Sư xem trăng.

Sưhỏi:- Ngay bây giờ nên làm gì?

TríTạng thưa:- Nên cúng dường.

HoàiHải thưa:- Nên tu hành.

PhổNguyện phủi áo ra đi.

Sưbảo:- Kinh vào Tạng, Thiền về Hải, chỉ có Phổ Nguyệnvượt ngoài sự vật.

*

HoàiHải hỏi:- Thế nào là chỉ thú Phật pháp?

Sưđáp:- Chính là chỗ ngươi bỏ thân mạng.

Sưlại hỏi Hoài Hải:- Ngươi lấy pháp gì chỉ dạy người?

HoàiHải dựng đứng cây phất tử.

Sưbảo:- Chỉ thế thôi hay còn gì khác?

HoàiHải ném cây phất tử xuống.

*

Tănghỏi:- Thế nào được hiệp đạo?

Sưđáp:- Ta sớm chẳng hiệp đạo.

Tănghỏi:- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?

Sưliền đánh và nói:- Ta nếu không đánh ngươi, các nơi sẽcười ta.

*

ÐặngẨn Phong từ biệt Sư đi nơi khác, Sư hỏi:- Ði đến đâu?

ẨnPhong thưa:- Ði đến Thạch Ðầu.

- ÐườngThạch Ðầu trơn.

- Cócây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.

ẨnPhong vừa đi đến Thạch Ðầu đi nhiễu giường thiền mộtvòng, dựng tích trượng động đất một tiếng, hỏi:

- Ấylà tông chỉ gì?

ThạchÐầu nói:- Trời xanh! trời xanh!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về thưa với Sư. Sư bảo:

- Ngươinên đi lại bên ấy, nếu Thạch Ðầu nói "trời xanh!" ngươi"hư! hư!"

ẨnPhong lại đi đến Thạch Ðầu làm như trước.

ThạchÐầu bèn: Hư! hư!

ẨnPhong không đáp được, lại trở về trình với Sư. Sư bảo:

- Tađã nói với ngươi "đường Thạch Ðầu trơn".

*

Cóvị Giảng sư đến hỏi:- Thiền tông truyền giữ pháp gì?

Sưhỏi lại:- Tọa chủ truyền giữ pháp gì?

- Tôigiảng được hơn hai mươi bản kinh luận.

- Ðâukhông phải là sư tử con?

- Khôngdám.

Sưthốt ra tiếng: Hư! hư!

Giảngsư nói:- Ðây là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ra khỏi hang.

Sưbèn im lặng.

Giảngsư nói:- Ðây cũng là pháp.

- Làpháp gì?

- Phápsư tử ở trong hang.

- Khôngra không vào là pháp gì?

Giảngsư không đáp được, bèn từ giã đi ra đến cửa, Sư gọi:

- Chủtọa!

Giảngsư xoay đầu lại.

Sưhỏi:- Là pháp gì?

Giảngsư cũng không đáp được.

Sưbảo:- Ông thầy độn căn.

*

Mộthôm Sư dạy chúng:

- Ðạokhông dụng tu, chỉ đừng ô nhiễm. Sao là ô nhiễm? - Có tâmsanh tử, tạo tác, thú hướng đều là ô nhiễm. Nếu muốnhội thẳng đạo ấy, tâm bình thường là đạo. Sao gọi làtâm bình thường? -Không tạo tác, không thị phi, không thủxả, không đoạn thường, không phàm thánh. Kinh nói: "Chẳngphải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh thánh hiền, là hạnhBồ-tát." Chỉ như hiện nay đi đứng ngồi nằm, ứng cơ tiếpvật đều là đạo. Ðạo tức là pháp giới, cho đến diệudụng như hà sa đều không ngoài pháp giới. Nếu chẳng phảivậy, tại sao nói "pháp môn tăng địa", tại sao nói "vô tậnđăng"? Tất cả pháp đều là pháp của tâm, tất cả tênđều là tên của tâm. Muôn pháp đều từ tâm sanh, tâm làcội gốc của muôn pháp. Kinh nói: "Biết tâm đạt cội nguồnnên hiệu là Sa-môn." Tên đồng nghĩa đồng, tất cả phápđều đồng thuần nhất không lẫn lộn.

Nếuở trong giáo môn được tùy thời tự tại thì dựng lậppháp giới trọn là pháp giới, lập chân như là chân như,lập lý tất cả pháp trọn là lý, lập sự tất cả pháptrọn là sự, nắm giở một thì ngàn theo, sự lý không khác,toàn là diệu dụng. Lại không có lý riêng, đều do xoay lạicủa tâm. Ví như bao nhiêu bóng mặt trăng thì có, mà bao nhiêumặt trăng thật thì không, bao nhiêu nguồn nước thì có, màbao nhiêu tánh nước thì không, bao nhiêu sum la vạn tượngthì có, mà bao nhiêu hư không thì không, bao nhiêu lời nóiđạo lý thì có, mà bao nhiêu Tuệ vô ngại thì không; bao nhiêucác thứ thành lập đều do một tâm. Dựng lập cũng được,dẹp hết cũng được, thảy là diệu dụng. Diệu dụng trọnlà nhà mình, chẳng phải lìa chân mà có, nơi nơi đều chân,thảy đều là thể của nhà mình.

Nếuchẳng vậy, lại là người nào? Tất cả pháp đều là Phậtpháp, các pháp tức là giải thoát, giải thoát tức là chânnhư, các pháp không ngoài chân như, đi đứng ngồi nằm thảylà dụng bất tư nghì, không đợi thời tiết. Kinh nói: "Chỗchỗ nơi nơi đều có Phật." Phật là năng nhân, có trí tuệkhéo hợp lòng người, hay phá lưới nghi cho tất cả chúngsanh, vượt ra vòng trói buộc của có và không v.v... tình chấpphàm thánh hết, nhân pháp đều không, chuyển bánh xe khônggì hơn, vượt các số lượng, việc làm không ngại, sự lýđều thông, như trời hiện mây, chợt có lại không, chẳngđể dấu vết. Ví như vẽ nước thành lằn, không sanh khôngdiệt. Ðại tịch diệt tại triền gọi là Như lai tàng, xuấttriền gọi là Pháp thân thanh tịnh. Thể không tăng giảm,hay lớn hay nhỏ, hay vuông hay tròn, hợp vật hiện hình nhưtrăng trong nước, vận dụng mênh mông, không lập mầm gốcchẳng hết hữu vi, không trụ vô vi. Hữu vi là dụng củavô vi, vô vi là chỗ nương của hữu vi, chẳng trụ chỗ nương,nên nói: "Như không chẳng chỗ nương." Nghĩa tâm sanh diệt,nghĩa tâm chân như: Tâm chân như dụ như gương sáng soi vậttượng. Gương dụ tâm, vật tượng dụ pháp. Nếu tâm chấppháp là dính với cái nhân bên ngoài, tức là nghĩa sanh diệt.Tâm không chấp pháp tức là nghĩa chân như.

Thanhvăn tai nghe Phật tánh. Bồ-tát mắt thấy Phật tánh. Liễuđạt không hai gọi là bình đẳng tánh. Tánh không có khác,dụng thì chẳng đồng. Tại mê là thức, tại ngộ là trí.Thuận lý là ngộ, theo sự là mê. Mê tức là mê bản tâmmình, ngộ là ngộ bản tánh mình. Một phen ngộ là hằng ngộchẳng trở lại mê. Như đang khi mặt trời mọc lên khôngtrở lại tối. Mặt trời trí tuệ xuất hiện, không chungcùng cái tối phiền não. Liễu đạt cảnh giới của tâm liềntrừ vọng tưởng. Vọng tưởng đã trừ tức là vô sanh. Pháptánh sẵn có, có chẳng nhờ tu. Thiền không thuộc ngồi, ngồitức có chấp trước. Nếu thấy lý này là chân chánh hiệpđạo, tùy duyên qua ngày, đứng ngồi theo nhau, giới hạnhhuân thêm, nhóm nơi tịnh nghiệp. Chỉ hay như thế, lo gì chẳngthông.

Ðệtử của Sư được nhập thất (được vào thiền thất, làđã ngộ đạo) có đến tám mươi bốn vị, mỗi người làmchủ một phương truyền hóa vô cùng.

Ðờèường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ tư (788 T.L.) khoảngtháng giêng, Sư lên núi Thạch Môn, Kiến Xương, đi kinh hànhtrong rừng thấy chỗ hang động bằng phẳng, bèn bảo thịgiả:

- Thâncũ mục của ta sẽ ở tháng sau và trở về nơi này. Nói xong,Sư trở về.

Ðếnngày mùng bốn tháng hai, Sư có chút bệnh, tắm gội xong, ngồikiết già nhập diệt, thọ tám mươi tuổi, được sáu mươituổi hạ.

Sauvua sắc ban hiệu Ðại Tịch.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn