Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

2. Các Kiến Giải Về Vô Thường

03/05/201119:55(Xem: 3234)
2. Các Kiến Giải Về Vô Thường

KINHLĂNG GIÀ
LĂNGGIÀA BẠT ĐA LA BỬU KINH
PhápSư Tam Tạng Ấn Độ Cầu Na Bạt Đà La dịch từ Phạn sangHán đời nhà Tống.
ViệtDịch: Tỳ Kheo Thích Duy Lực

QUYỂNBỐN

Khiấy, Đại huệ Bồ Tát lại bạch Phật rằng:

- ThếTôn! Tất cả ngoại đạo đều khởi vọng tưởng vô thường,Thế Tôn cũng thuyết tất cả hành, vô thường, là pháp sanhdiệt. Thế Tôn! Nghĩa này thế nào? Là tà hay chánh? Có mấythứ vô thường?

Phậtbảo Đại huệ :

-Tất cả ngoại đạo có bảy thứ vô thường, chẳng phảipháp Ta thuyết vậy. Thế nào là bảy? Họ hoặc nói "tạorồi lui bỏ" gọi là vô thường; hoặc nói bình xứ hoạigọi là vô thường; hoặc nói ngay sắc thể đó là vô thường;hoặc nói giữa quá trình biến chuyển gọi là vô thường,các vật tự thể tan hoại chẳng gián đoạn, như sự chuyểnbiến của sữa thành tô lạc, ngay giữa chuyển biến chẳngthể thấy, tất cả tánh chuyển biến vô thường hủy hoạicũng như thế. Hoặc nói tánh, vô thường, hoặc nói tánh,vô tánh, vô thường, hoặc nói tất cả pháp bất sanh, vôthường, v.v... Họ đem những kiến chấp vô thường này vàotất cả pháp.

1.-Đại Huệ! Ngoại đạo nói TẠO RỔI LIỀN BỎ Là VÔ THƯỜNG.Ta nói lìa kẻ bắt đầu tạo ra vô thường thì chẳng phảitứ đại. Vì tứ đại bất sanh là nghĩa THƯỜNG, nếu còncó pháp khác với tứ đại, mỗi mỗi tự tướng khác nhauthì chẳng có sai biệt để đắc, vì sai biệt ấy đều chẳngthể tạo nữa. Hai thứ phân biệt chẳng thể tạo (chẳngcó kẻ bắt đầu tạo vô thường, cũng chẳng có kẻ bắtđầu tạo thường), nên biết vô thường tức là thường.

2.-Ngoại đạo nói HÌNH XỨ HOẠI Là VÔ THƯỜNG. Ta nói tứ đạivà tứ đại tạo sắc chẳng hoại, cứu cánh chẳng hoại.Đại Huệ! Nói "Cứu cánh" là phân tích cho đến vi trần,quán sát sự hoại của tứ đại và tứ đại tạo sắc, thấyhình xứ dài ngắn và khác biệt đều bất khả đắc thìchẳng phải tứ đại, nên nói tứ đại chẳng hoại. Hiện"hình xứ hoại" là đọa nơi Số Luận.

3.-Ngoại đạo nói NGAY SẮC THỂ TỨC Là VÔ THƯỜNG, ấy cũnglà hình xứ vô thường, chẳng phải tứ đại. Nếu tứ đạivô thường thì chẳng phải ngôn thuyết thế tục, vì ngônthuyết thế tục phi tánh. Thấy tất cả tánh chỉ có ngônthuyết, chẳng thấy tự tướng sanh, là đoạ nơi Thế Luận.

4.-Ngoại đạo nói CHUYỂN BIẾN VÔ THƯỜNG. Ta nói sắc thểhiện khác với tánh, chẳng phải tứ đại có khác. Như vànglàm ra nhiều đồ trang sức, hiện chuyển biến khác nhau nhưngchẳng phải tánh vàng có khác, chỉ là những đồ trang sứckhác nhau thôi. Vậy các tánh kia chuyển biến cũng như thế.

5.-Đại Huệ! Nói TÁNH VÔ THƯỜNG là tự tâm vọng tưởng, chấptánh phi thường là vô thường. Tại sao? Nói vô thường củatự tánh bất hoại. Đại Huệ! Đây là tất cả tánh vô tánh,là sự vô thường. Ngoài sự vô thường, chẳng có gì cóthể khiến tất cả pháp tánh vô tánh; như gậy, ngói, đá,dù có tướng khác biệt, phá hoại rồi thì thấy mỗi mỗichẳng khác, ấy là sự tánh vô thường, chẳng phải năngtác sở tác có sai biệt, đây là sự vô thường. Vì năngtác sở tác chẳng khác thì tất cả tánh vô nhân. Tánh vônhân là thường. Đại Huệ! Tất cả tánh vô tánh hữu nhân,chẳng phải phàm phu có thể biết. Phi nhân thì sự bất tươngtự sanh khởi (cũng như cây lý có thể sanh ra cây đào, câyđào có thể sanh ra cây xoài, v.v...), nếu sanh khởi thì nóitất cả tánh thảy đều vô thường là có lỗi.

- Việcbất tương tự này, năng tác sở tác chẳng có sai biệt màlại thấy có khác. Nếu nói tánh vô thường thì đọa tánhtướng có nhân, tác, có tác thì tất cả tánh chẳng cứucánh. Nếu tất cả tánh đọa tướng có năng tác, thì năngtác vô thường, sở tác cũng vô thường; năng vô thường,sở vô thường thì tất cả tánh chẳng vô thường, vì vôthường thường sanh vô thường, tức là thường vậy.

- Nếuchấp vô thường vào tất cả tánh thì hoại nghĩa tam thế.Như sắc quá khứ vô thường ắt chẳng lìa hoại; nếu đãhoại thì vị lai bất sanh, nếu sắc bất sanh thì tướng sắchiện tại cũng đồng như hoại. Nói SẮC là do tứ đại tíchtụ, có tánh sai biệt, tứ đại và tứ đại tạo sắc tựtánh chẳng hoại, lìa khác và chẳng khác. Tất cả ngoạiđạo đối với nghĩa chẳng hoại, tứ đại và tứ đạitạo sắc nơi tất cả tam giới chẳng thể biết tánh vốnchẳng hoại, nên có sanh diệt. Nếu lìa tứ đại tạo sắc,thì tất cả ngoại đạo dựa vào đâu mà suy nghĩ tánh vôthường ư? Tướng tự tánh bất hoại thì tướng tự tánhbất sanh.

6.-Đại Huệ! Nói TÁNH VÔ TÁNH VÔ THƯỜNG, là lìa tứ đạivà tứ đại sở tạo, khi tự tướng hoại, tứ đại tựtánh bất khả đắc, tức là bất sanh.

7.-Nói BẤT SANH VÔ THƯỜNG, là phi thường vô thường. Tất cảpháp hữu và vô bất sanh, phân tích cho đến vi trần thì chẳngthể thấy, ấy là nghĩa bất sanh, phi sanh, gọi là tướngVô thường Bất sanh. Nếu chẳng giác được nghĩa này thìđọa ngoại đạo sanh nghĩa vô thường.

- Mỗimỗi ngoại đạo vọng tưởng có kiến chấp vô thường nhưthế, như lúc tứ đại bị cháy mà tự tướng chẳng cháy.Nếu tướng của mỗi mỗi tự tướng thiêu hoại thì mỗimỗi tạo sắc phải đoạn dứt, mà thật thì chẳng như thế.

- ĐạiHuệ! Pháp ta nói phi thường phi vô thường. Tại sao? Vì ngoàitánh chẳng thể quyết định, nên chỉ nói tam giới duy tâm,chẳng nói mỗi mỗi tướng có sanh có diệt. Tứ đại hòahợp có sai biệt là do tứ đại và tứ đại tạo sắc sanhra vọng tưởng phân biệt. Có hai thứ năng nhiếp sở nhiếp,nếu biết hai thứ đều là vọng tưởng, lìa hai thứ kiếnchấp ngoài tánh phi tánh, giác được vọng tưởng của tựtâm hiện lượng do tự tướng tác hành sanh khởi phân biệtmới có, sở tác nghiệp tướng gọi là vọng tưởng sanh,chẳng phải không có tư tưởng tác hành mà gọi là vọngtưởng vậy. Lìa vọng tưởng của tâm, tánh, vô tánh, tấtcả pháp thế gian, xuất thế gian, cho đến siêu việt xuấtthế gian, đều phi thường phi vô thường. Nếu chẳng biếttự tâm hiện lượng, thì đọa ác kiến nhị biên tương tục.Tất cả ngoại đạo do tự vọng tưởng, chẳng biết ba thứpháp tướng thế gian, pháp tướng xuất thế gian và thắng(siêu việt) pháp tướng xuất thế gian, dựa theo ngôn ngữvọng tưởng thuyết mỗi mỗi pháp. Ta nói cảnh giới phi thườngphi vô thường, chẳng phải phàm phu có thể hiểu biết, vìhọ chẳng giác được tự tâm hiện lượng vậy.

Khiấy, Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Lìasự bắt đầu tạo,
Vàhình xứ khác biệt.
Nóitánh Sắc vô thường,
Làvọng tưởng ngoại đạo.
Cáctánh chẳng thể hoại,
Tựtrụ tánh tứ đại.
Ngoạiđạo tưởng vô thường,
Làchìm nơi kiến chấp.
Pháphoặc sanh hoặc diệt,
Tánhtứ đại tự thường.
Tạisao bọn ngoại đạo
Lạisanh tưởng vô thường?
Năngnhiếp và sở nhiếp,
Tấtcả duy tâm tạo.
Theohai tâm lưu chuyển,
Vôngã và ngã sở.
Nóigốc cây Phạm Thiên (ngã),
Nhánhlá khắp thế gian (ngã sở).
Theopháp Ta sở thuyết,
Chỉdo tâm họ tạo.Khi ấy,Đại Huệ Bồ Tát lại bạch Phật rằng:

- ThếTôn! Cúi xin vì đại chúng thuyết tướng thứ lớp tươngtục Diệt Tận Định của tất cả Bồ Tát, Thanh Văn, DuyênGiác. Nếu khéo biết tướng thứ lớp tương tục Diệt TậnĐịnh, thì khiến con và các Bồ Tát chẳng vọng xả sự vuicủa pháp môn Diệt Tận Định, cuối cùng chẳng đọa sựngu si của tất cả ngoại đạo Thanh Văn và Duyên Giác.

Phậtbảo Đại Huệ :

- Hãychú ý nghe và khéo ghi nhớ, Ta sẽ vì ngươi mà thuyết.

ĐạiHuệ Bồ Tát bạch Phật rằng :

- ThếTôn! Cúi xin thọ giáo.

Phậtbảo Đại Huệ :

- TừSơ Địa đến Lục Địa Bồ Tát đắc nhơn Vô Ngã, nhậpDiệt Tận Định với Thanh Văn, Duyên Giác chẳng khác; vìnơi định có xuất có nhập, chưa thể niệm niệm nhập. ThấtĐịa Bồ Tát nhập Diệt Tận Định lìa tất cả tướng hữuvô. Dù có tánh Niết Bàn mà chẳng trụ, chẳng như Nhị Thừacó nhiếp thọ sự vui của chánh định, cho chánh định làthiện, duyên theo hữu vi nhập Diệt Tận Định, đọa cảnhgiới năng nhiếp sở nhiếp và có hành có giác. Cho nên ThấtĐịa Bồ Tát niệm niệm nhập Diệt Tận Định mà chẳngnghĩ Diệt Tận Định là thiện, đắc tất cả pháp tướngchẳng sai biệt, chẳng phân biệt pháp hữu, pháp vô, phápthiện, pháp bất thiện.

- ĐạiHuệ! Bát Địa Bồ Tát xả lìa Tạng thức chẳng những đốivới tất cả pháp mỗi mỗi tướng diệt, cho đến tâm, ý,ý thức hư vọng phân biệt của Thanh Văn, Duyên Giác cũngdiệt. Từ Sơ Địa cho đến Thất Địa Bồ Tát sở tu quánhạnh, thấy tất cả các pháp nơi tam giới chỉ do tâm, ý,ý thức sở hiện tâm lượng, lìa ngã và ngã sở v.v... cũngchuyển diệt luôn, chẳng thấy ngoài pháp có mỗi mỗi cáctướng. Ngoại đạo ở nơi tự tâm khởi vọng tưởng phânbiệt, hư vọng tu tập, thấy ở ngoài pháp có tướng đểđắc, thì đọa mỗi mỗi tướng ngoài tánh. Ấy là hai thứcchấp trước của phàm phu ngoại đạo, dùng tự tâm nhiếptự tâm, thấy có pháp năng nhiếp sở nhiếp bèn nói tấtcả đoạn diệt, chẳng biết do tập khí hư ngụy từ vô thỉsở huân mà đoạn diệt chủng tánh Phật.

- ĐạiHuệ! Bát Địa Bồ Tát sở đắc Tam muội với Thanh Văn, DuyênGiác dù hơi giống nhau, nhưng Bồ Tát có chánh giác gia trì,nên dù có sự vui của Tam muội mà chẳng nhập Niết Bàn.Nếu chẳng có chánh giác gia trì thì như Nhị Thừa tự yênổn, chẳng thể trọn vẹn bằng Đại Như Lai, mà tự chứngNiết Bàn, xả bỏ tất cả chúng sanh, chẳng vì chúng sanhthuyết pháp hữu vi để dần dần dẫn dắt chúng sanh vàotri kiến Như Lai thì Phật chủng ấy phải đoạn dứt. ChưPhật Thế Tôn vì muốn khiến Nhị Thừa nối tiếp Phật Chủng,nên hiển thị vô lượng công đức bất khả tư nghì củaNhư Lai, nhưng hàng Thanh Văn, Duyên Giác ham trụ sự vui củaTam muội chẳng chịu hồi tâm tiến lên Đại thừa, lại tựcho là đã chứng Niết Bàn.

- ĐạiHuệ! Ta sở dĩ nhấn mạnh bộ phận "Thất Địa" là muốnhành giả khéo tu phương tiện, xa lìa các tướng tâm, ý, ýthức và kiến chấp ngã, ngã sở, nhiếp thọ nhơn vô ngã,pháp Vô Ngã và Biện tài Tứ vô ngại, đắc sức quyết địnhnơi Tam Muội Môn, từ những đạo phẩm tương tục từ trướcđến đây lần lượt tiến lên Bát Địa cho đến Thập Địa.Vì e sợ các Bồ Tát chẳng khéo liễu tri tự tướng cộngtướng và sự thứ lớp tương tục của chư Địa mà đọanơi ác kiến của ngoại đạo, nên kiến lập thứ lớp củachư Địa. Đại Huệ! Ngoại trừ tự tâm hiện lượng, thậtchẳng có pháp sanh pháp diệt, chư Địa thứ lớp tương tụcvà đoạn đứt mỗi mỗi hạnh mê hoặc rơi vào tam giới,chỉ vì phàm phu chẳng giác ngộ, nên Ta và chư Phật thuyếtchư Địa thứ lớp tương tục và thuyết pháp đoạn dứtmỗi mỗi hạnh mê hoặc nơi tam giới.

- Lạinữa, Đại Huệ! Bồ Tát Đệ Bát Địa vì muốn diệt hamtrụ sự vui nơi Tam muội của Thanh Văn, Duyên Giác, biết họchẳng khéo giác tự tâm hiện lượng của tự tướng cộngtướng, bị rươu tập khí say mê sở chướng, đọa kiếnchấp nhiếp thọ nhơn pháp Vô Ngã, vọng tưởng cho là NiếtBàn, chẳng phải trí huệ tịch diệt của tự giác. ĐạiHuệ! Bồ Tát thấy sự vui của Tam Muội Môn tịch diệt, dobổn nguyện đại bi thành tựu thương xót chúng sanh, phânbiệt liễu tri Thập Vô Tận Cú, chẳng trụ vọng tưởng NiếtBàn. Vì bậc họ biết vốn đã Niết Bàn, nên vọng tưởngchẳng sanh, lìa năng nhiếp sở nhiếp của vọng tưởng, giácliễu tự tâm hiện lượng nơi tất cả các pháp, vì vọngtưởng chẳng sanh nên chẳng đọa nơi tâm, ý, ý thức vàtướng vọng tưởng chấp trước ngoài tánh của tự tánh.Đối với Phật pháp chẳng có cái nhân bất sanh, là tùy theotrí huệ mà sanh, nên chứng đắc Như Lai Tự Giác Địa.

- Nhưngười trong mộng dùng phương tiện qua sông, nhưng chưa quađã thức, thức rồi suy nghĩ là chánh hay tà, hoặc phi chánhphi tà. Người ấy do tưởng nhớ mỗi mỗi tập khí của kiếnvăn giác tri từ vô thỉ, nên ở mỗi mỗi hình xứ đọa tướnghữu và vô, thành có giấc mơ hiển hiện nơi tâm, ý, ý thứcnên suy nghĩ như thế.

- ĐạiHuệ! Như thế, Đại Bồ Tát nơi Đệ Bát Địa thấy chỗvọng tưởng sanh, từ Sơ Địa tiến đến Thất Địa, thấytất cả pháp như huyễn, dùng phương tiện độ thoát cáitâm vọng tưởng năng nhiếp sở nhiếp xong, dùng phương tiệncủa Phật pháp khiến người chưa chứng đắc được chứngđắc. Đại Huệ! Đây là phương tiện chẳng đoạn đứtnơi Niết Bàn của Bồ Tát, lìa tâm, ý, ý thức, đắc VôSanh Pháp Nhẫn. Đại Huệ! Nơi Đệ Nhất Nghĩa chẳng có thứlớp tương tục, nói "Vọng tưởng Vô Sở Hữu" là pháp tịchdiệt.

Khiấy, Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Tamthế Chư Phật thuyết,
Tâmlượng Vô Sở Hữu.
BậcTrụ Địa Bồ Tát,
Đượcđến địa vị Phật.
Tâmlượng nơi Tạng Thức,
ThấtĐịa chưa diệt sạch.
BátĐịa mới diệt hết.
HaiĐịa Thất và Bát,
Đềugọi là Trụ Địa.
Phậtđịa gọi Tối Thắng,
Trítự giác trong sạch.
Chỗtự tại Tối Thắng,
Chiếusoi như lửa hồng,
Quangminh khắp nơi nơi,
Sánglòa chẳng chói mắt.
Giáohóa lúc hiện tại,
Hoặcgiáo hóa lúc trước,
Đếnđây diễn Nhất Thừa,
Đềuvào Địa Như Lai.
Nhấtthừa lập chư Địa,
Thậtthì chẳng thứ lớp.
ThậpĐịa như Sơ Địa,
SơĐịa như Bát Địa,
CửuĐịa như Thất Địa,
ThấtĐịa như Bát Địa,
NhịĐịa như Tam Địa,
TứĐịa như Ngũ Địa,
TamĐịa như Lục Địa,
Thôngnhau chẳng thứ lớp.Khi ấy,Đại Huệ Bồ Tát lại bạch Phật rằng :

- ThếTôn! Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác là thường hay vô thường?

Phậtbảo Đại Huệ :

- NhưLai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác phi thường phi phi thường, vìcả hai đều có lỗi. Nếu nói THƯỜNG thì có cái lỗi năngtác, tất cả ngoại đạo đều nói "thường có kẻ tác",THƯỜNG do tác mà thành thì chẳng phải chơn thường. NhưLai đối với chơn thường còn chẳng thấy có tướng Thườngđể đắc, huống là do tạo tác mà thành Thường ư? Nên nóicó lỗi.

- Nếunói Như Lai VÔ THƯỜNG thì có cái lỗi sở tác VÔ THƯỜNG.Ngoại đạo cho ngũ ấm là sở tác, nhưng tướng năng thấyvà sở thấy của ngũ ấm đều chẳng tự tánh, rốt cuộcphải đoạn diệt, mà Như Lai thì chẳng đoạn diệt. ĐạiHuệ! Tất cả sở tác đều vô thường, như cái bình, y áov.v... tất cả đều có cái lỗi vô thường. Thế thì tấtcả công đức phương tiện dùng để độ chúng sanh của NhấtThiết Trí sở tác đều thành vô nghĩa, vì có sở tác. Nếucó nghĩa thì tất cả sở tác của thế gian đều đồng nhưsở tác của Như Lai, vì chẳng có tánh sai biệt vậy. Cho nênNhư Lai nói phi thường phi vô thường.

- Lạinữa, Đại Huệ! Như Lai chẳng phải như HƯ KHÔNG THƯỜNG.Nếu như hư không thường thì thành Ngoan không Vô Tri, mà TựGiác Thánh Trí thì đầy đủ linh giác. Vậy nói "Như Hư KhôngThường" thì có cái lỗi vô nghĩa. Đại Huệ! Ví như hư khôngphi thường phi vô thường, lìa thường, vô thường, nhất,dị đồng, chẳng đồng, nên bất khả thuyết, cho nên NhưLai phi THƯỜNG.

- Lạinữa, Đại Huệ! Nếu Như Lai là VÔ SANH THỪƠNG thì như sừngcủa thỏ, ngựa cũng là Vô Sanh Thường, vậy thì pháp phươngtiện thành vô nghĩa, vì có cái lỗi "Vô Sanh Thường", nênNhư Lai phi THƯỜNG.

- Lạinữa, Đại Huệ! Còn có việc khác biết Như Lai là THƯỜNG.Tại sao? Vì trí sở đắc Thường nên Như Lai THƯỜNG.

- ĐạiHuệ! Như Lai hoặc ra đời hoặc chẳng ra đời, pháp cố địnhthường trụ. Thanh Văn, Duyên Giác, chư Phật Như Lai thườngtrụ chẳng gián đoạn, cũng chẳng phải vô tri như hư khôngthường trụ, cũng chẳng phải phàm phu có thể hiểu biết.Đại Huệ! Trí sở đắc của Như Lai là do Bát Nhã sở huân,chẳng như chỗ tâm ý, ý thức của ngoại đạo kia do ấm,giới, nhập sở huân. Đại Huệ! Tất cả tam giới đều dovọng tưởng chẳng thật sở sanh, Như Lai thì chẳng từ vọngtưởng chẳng thật sanh. Đại Huệ! Vì hai pháp đối đãinên có thường và vô thường, chẳng phải pháp bất nhị,Pháp bất nhị là tịch tịnh, vì tất cả pháp chẳng có haitướng sanh. Cho nên Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác phi thườngphi vô thường. Đại Huệ! Nếu sanh ngôn thuyết phân biệtthì có cái lỗi thường và vô thường. Nếu cái giác phânbiệt diệt thì xa lìa kiến chấp Thường, Vô Thường củaphàm phu. Kiến chấp phàm phu hư vọng phân biệt mỗi mỗipháp thường, pháp vô thường, phi thường phi vô thường,huân tập theo pháp sanh diệt, dẫu có trí huệ cũng chẳngthể tịch tịnh.

Khiấy, Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Nóiđủ thứ vô nghĩa,
Sanhlỗi thường, vô thường.
Từđó kiến lập Tông,
Cónhiều nghĩa hỗn tạp.
Nếuchẳng sanh phân biệt,
Lìahẳn thường, vô thường.
Đẳngquán lượng tự tâm,
Ngônthuyết bất khả đắc.

Khiấy, Đại Huệ Bồ Tát lại bạch Thế Tôn rằng :

-Cúi xin Phật thuyết tướng nhân duyên của tất cả các pháp,do giác đựơc tướng nhân duyên, khiến con và các Bồ Tátđược lìa tất cả tánh của vọng kiến hữu vô, chẳng vọngchấp các pháp tiệm sanh, hoặc đốn sanh, hoặc tiệm đốncộng sanh.

Phậtbảo Đại Huệ :

- Tấtcả pháp có hai thứ duyên tướng, là ngoại duyên và nộiduyên. Ngoại Duyên là : Cục đất, cây cọc, bánh xe, sợidây, nước, gỗ, nhân công, các thứ phương tiện làm duyên,sanh ra cái bình như bình đất, còn các thứ tơ, lụa, látchiếu, giống mầm, tô lạc v.v... do ngoại duyên phương tiệnsanh ra cũng như thế. Ấy gọi là tướng Ngoại Duyên.

- Thếnào là Nội Duyên? Vì có vô minh ái nghiệp các pháp hòa hợpgọi là năng duyên, từ đó sanh khởi các pháp ấm, giới,nhập, gọi là sở duyên. Các pháp do tự tâm sở hiện vốnchẳng sai biệt, mà phàm phu vọng chấp, thành có sai biệt,ấy gọi là pháp Nội Duyên.

- ĐạiHuệ! Nói về Nhân gồm có sáu thứ, ấy là : Đương hữunhân, Tương tục nhân, Tướng nhân, Tác nhân, Hiển thị nhân,Đối đãi nhân.

1.Đương Hữu Nhân : Vì thức thứ tám từ vô thỉ đến nayhay làm nhân cho tất cả pháp, từ nhân sanh quả, bất khảtư nghì, đương lúc đó làm nhân, nên gọi là Đương HữuNhân.

2.Tương Tục Nhân : Vì bên trong nương thức thứ tám và thứcthứ sáu, phan duyên ngoại cảnh, từ đó pháp trong ngoài làmnhân sanh quả như ngũ ấm chủng tử v.v... do hiện hành huântập chủng tử, lại do chủng tử huân tập hiện hành, màquả nhiễm tịnh theo đó liên tục sanh khởi chẳng dừng,nên gọi là Tương Tục Nhân.

3.Tướng Nhân : Do cái đẳng Vô Gián Duyên ( duyên chẳng giánđoạn ) làm ra tướng Vô Gián, sanh ra quả tương tục. Nơitương tục có tướng Vô Gián đã lìa nơi nhân mà chưa đếnnơi quả, vì nó chẳng gián đoạn cho nên tương tục. Vì ởnơi chính giữa của nhân và quả mà có tướng,, nên gọilà Tướng Nhân.

4.Tác Nhân : Tức là tăng thượng duyên, ấy là tạo nghiệptăng thượng mà sanh ra quả, cũng như Chuyển Luân Vương, dothân thể chứng đắc Luân Vương làm bản nhân mà bánh xeThất Bửu từ hư không bay đến, ấy là sự tăng thượng.Vì cảnh chẳng thể sanh quả, phải nhờ tâm làm tăng thượng,Luân Vương mới có thể làm ra thắng nhân. Vì tâm làm tăngthượng duyên cho cảnh ( bánh xe bay ), nên gọi là Tác Nhân.

5.Hiển Thị Nhân : Sự vọng tưởng sanh rồi thì hiện cái tướngnăng tác, sở tác, như cây đèn chiếu soi hiển thị sắc tướngv. v... gọi là Hiển Thị Nhân.

6.Đối Đãi Nhân : Là lúc pháp diệt thì sự tương tục đoạnđứt, mà ngay đó tánh ''chẳng vọng tướng'' sanh khởi. ĐạiHuệ! Tự tướng vọng tưởng của phàm phu chẳng lần lượtsanh, chẳng cùng chúng sanh. Tại sao? Nếu cùng lúc sanh thìchẳng phân biệt được năng tác, sở tác, vì chẳng có tướngnhân. Nếu lần lượt sanh thì chẳng có tự tướng, cho nênchẳng thể có lần lượt sanh, như chẳng sanh con thì khôngđược gọi là cha. Đại Huệ! Vì cha với con làm nhân đốiđãi với nhau, không có cha thì không sanh được con, khôngcó con thì không được gọi là cha; cha con đối đãi nhau màsanh, nên gọi là Đối Đãi Nhân.

- ĐạiHuệ! nói tóm lại, các thứ tướng sanh đều do các thứ nhâncủa tự tánh vọng tưởng chấp tướng mà sanh. Vì tự tâmhiện ra thọ dụng mà có tự tướng, cộng tướng, ngoạitánh, phi tánh; thực ra Lần Lượt Sanh và Cùng Lúc Sanh haithứ đều chẳng thể sanh. Cho nên phải lìa hai thứ kiếnchấp đó.

Khiấy, Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Tấtcả đều Vô sanh,

Cũngkhông nhân duyên diệt.

Ởnơi tướng sanh diệt,

Màkhởi nhân duyên tưởng.

Phápdiệt rồi lại sanh,

Donhân duyên tương tục.

Vìđoạn dứt si mê,

Củatất cả chúng sanh.

Nênthuyết pháp duyên khởi,

Cácpháp thật Vô Sanh.

Dotập khí mê hoặc,

Từđó hiện tam giới.

Duyênthật vốn Vô Sanh,

Lạicũng chẳng có diệt.

Tấtcả pháp hữu vi,

Nhưhoa đốm trên không.

Nếulìa bỏ kiến chấp,

Năngnhiếp và sở nhiếp.

Chẳngcó Vô nhân sanh,

Vàđã sanh, sẽ sanh.

Sựsanh vốn chẳng có,

Thảychỉ là ngôn thuyết.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn