Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

5. Nhất hay dị, đồng hay chẳng đồng

03/05/201119:55(Xem: 2647)
5. Nhất hay dị, đồng hay chẳng đồng

KINHLĂNG GIÀ
LĂNGGIÀA BẠT ĐA LA BỬU KINH
PhápSư Tam Tạng Ấn Độ Cầu Na Bạt Đà La dịch từ Phạn sangHán đời nhà Tống.
ViệtDịch: Tỳ Kheo Thích Duy Lực

PHẨMNHẤT THIẾT PHẬT NGỮ TÂM
(Phần 2)
QUYỂNTHỨ NHÌ

Khiấy, Đại Huệ Bồ Tát bạch Phật rằng:

-Cúi xin Thế Tôn thuyết những pháp: Nhất hay dị, đồng haychẳng đồng, hữu và vô, hay chẳng hữu chẳng vô, thườnghay vô thường, chổ chẳng hành của tất cả ngoại đạo,là chỗ hành của Tự Giác Thánh Trí, lìa vọng tưởng tựtướng cộng tướng, vào Đệ Nhất Nghĩa chơn thật. Các địatương tục, dần dần tiến lên, đến chổ tướng cùng tộtthanh tịnh, liền vào tướng địa của Như Lai, chẳng mởmang bản nguyện. Ví như hạt châu Ma Ni có nhiều hình sắccảnh giới vô biên tướng hạnh, nay chỉ hiện tượng bộphận trong tự tâm, nơi tất cả các pháp, nếu con và cácvị Đại Bồ Tát, lìa kiến chấp tự tướng cộng tướngcủa vọng tưởng tự tánh như trên, sẽ chứng được VôThượng Bồ Đề, khiến tất cả chúng sanh đầy đủ sungmãn tất cả an lạc.

Phậtbảo Đại Huệ :

- Lànhthay! Lành thay! Ngươi khéo hỏi ta các nghĩa như thế, là thươngmến tất cả chư Thiên, người đời, khiến họ được nhiềuan lạc và nhiều lợi ích. Đại Huệ! hãy chú ý nghe và khéoghi nhớ, Ta sẽ vì ngươi phân biệt giải thuyết.

ĐạiHuệ Bồ Tát bạch Phật rằng :

- Lànhthay! Thế Tôn, con xin thọ giáo.

Phậtbảo Đại Huệ :

- Phàmphu ngu si, chẳng biết tâm lượng, chấp lấy tánh trong ngoài,dựa theo vọng tưởng chấp trước nhất, dị, đồng, và chẳngđồng, hữu và vô, và phi hữu phi vô, thường và vô thườngv.v... làm nhân, huân tập tự tánh, ví như bày nai khát nước,thấy dương diệm tưởng là nước, mê hoặc đuổi theo màkhông biết chẳng phải nước. Phàm phu cũng thế, do vọngtưởng hư ngụy từ vô thỉ sở huân tập mà bị tam độcđốt tâm, ham cảnh giới sắc, thấy sanh, trụ, diệt, chấptánh trong ngoài, nên đọa nơi vọng kiến nhiếp thọ, sanhra tư tưởng nhất, dị, đồng, chẳng đồng, hữu, vô, phihữu phi vô, thường và vô thường v. v... Như thành Càn ThátBà vốn chẳng phải thành, mà phàm phu vô trí lại cho là cóthành thiệt, ấy là do tập khí chấp trước từ vô thỉ màhiện tướng, thật ra chẳng phải có thành, cũng chẳng phảikhông có thành. Như thế, ngoại đạo do tập khí chấp trướchư ngụy từ vô thỉ, mà nương theo kiến chấp nhất, dị,đồng, chẳng đồng... chẳng khéo liễu tri tự tâm hiện lượng.Ví như có người nằm mơ, thấy nam nữ, voi ngựa xe cộ, thànhấp, vườn rừng, núi sông, ao hồ, đủ thứ trang nghiêm, tựthân thọ dụng trong đó, sau khi thức rồi vẫn cò tưởngnhớ. Đại Huệ! Ý ngươi thế nào? Người ấy tưởng nhớviệc mộng trước kia mãi mãi chẳng bỏ như thế, là có tríhuệ chăng?

ĐạiHuệ Bồ Tát bạch Phật rằng :

- Khôngạ,Thế Tôn!

Phậtbảo Đại Huệ :

- Phàmphu như thế, chẳng biết tánh do tự tâm hiện như mộng huyễn,nương nơi kiến chấp nhất, dị, đồng, chẳng đồng v.v...Ví như bức tranh vốn chẳng cao thấp mà phàm phu cho là cócao thấp, vì bị ác kiến ăn nuốt, hoặc chấp trí huệ củangoại đạo. Như thế, từ ngoại đạo xưa cho đến ngoạiđạo đời vị lai, tập khí ác kiến sung mãn, do đó tự hoạihoại tha. Ngoại đạo cũng lập luận Vô Sanh, mà lọt vàoác kiến, phỉ báng nhân quả, cũng nói là vô, lại nhổ gốcthiện căn, hoại nhân thanh tịnh. Họ đọa vào kiến chấptự sanh, tha sanh, cộng sanh và tư tưởng hữu vô, chìm nơikiến lập và phỉ báng, do ác kiến này nên đoại địa ngục.

- Vínhư mắt nhặm, thấy có hoa đốm mà nói với chúng rằng:''Các ngươi xem đây, ấy là hoa đốm, cứu cánh Phi tánh Phivô tánh, thấy như chẳng thấy." Vì ngoại đạo này vọngsanh hy vọng, dựa theo kiến chấp nhất, dị, đồng hay chẳngđồng v.v... mà phỉ báng chánh pháp, tự đọa và khiến ngườikhác đạo theo.

- Vínhư vòng lửa chẳng phải vòng mà phàm phu tưởng là vòng.Ngoại đạo ác kiến hy vọng như thế, do đó tất cả tánhsanh. Ví như bọt nước giống như hạt châu Ma Ni, phàm phuTiểu thừa chẳng có trí huệ lại tưởng là châu Ma Ni, vàphi châu Ma Ni, chấp trước đuổi theo. Nhưng bọt nước kiachẳng phải châu Ma Ni, chẳng phải lấy hay chẳng lấy. Chỉvì ác kiến của ngoại đạo do tập khí huân tập như thế,ở nơi Vô Sở Hữu mà nói có sự sanh, do duyên theo hữu lạinói có sự diệt.

Khiấy, Đại Huệ Bồ Tát lại bạch Thế Tôn rằng :

-Cúi xin Phật thuyết tướng nhân duyên của tất cả các pháp,do giác đựơc tướng nhân duyên, khiến con và các Bồ Tátđược lìa tất cả tánh của vọng kiến hữu vô, chẳng vọngchấp các pháp tiệm sanh, hoặc đốn sanh, hoặc tiệm đốncộng sanh.

Phậtbảo Đại Huệ :

- Tấtcả pháp có hai thứ duyên tướng, là ngoại duyên và nộiduyên. Ngoại Duyên là : Cục đất, cây cọc, bánh xe, sợidây, nước, gỗ, nhân công, các thứ phương tiện làm duyên,sanh ra cái bình như bình đất, còn các thứ tơ, lụa, látchiếu, giống mầm, tô lạc v.v... do ngoại duyên phương tiệnsanh ra cũng như thế. Ấy gọi là tướng Ngoại Duyên.

- Thếnào là Nội Duyên? Vì có vô minh ái nghiệp các pháp hòa hợpgọi là năng duyên, từ đó sanh khởi các pháp ấm, giới,nhập, gọi là sở duyên. Các pháp do tự tâm sở hiện vốnchẳng sai biệt, mà phàm phu vọng chấp, thành có sai biệt,ấy gọi là pháp Nội Duyên.

- ĐạiHuệ! Nói về Nhân gồm có sáu thứ, ấy là : Đương hữunhân, Tương tục nhân, Tướng nhân, Tác nhân, Hiển thị nhân,Đối đãi nhân.

1.Đương Hữu Nhân : Vì thức thứ tám từ vô thỉ đến nayhay làm nhân cho tất cả pháp, từ nhân sanh quả, bất khảtư nghì, đương lúc đó làm nhân, nên gọi là Đương HữuNhân.

2.Tương Tục Nhân : Vì bên trong nương thức thứ tám và thứcthứ sáu, phan duyên ngoại cảnh, từ đó pháp trong ngoài làmnhân sanh quả như ngũ ấm chủng tử v.v... do hiện hành huântập chủng tử, lại do chủng tử huân tập hiện hành, màquả nhiễm tịnh theo đó liên tục sanh khởi chẳng dừng,nên gọi là Tương Tục Nhân.

3.Tướng Nhân : Do cái đẳng Vô Gián Duyên ( duyên chẳng giánđoạn ) làm ra tướng Vô Gián, sanh ra quả tương tục. Nơitương tục có tướng Vô Gián đã lìa nơi nhân mà chưa đếnnơi quả, vì nó chẳng gián đoạn cho nên tương tục. Vì ởnơi chính giữa của nhân và quả mà có tướng,, nên gọilà Tướng Nhân.

4.Tác Nhân : Tức là tăng thượng duyên, ấy là tạo nghiệptăng thượng mà sanh ra quả, cũng như Chuyển Luân Vương, dothân thể chứng đắc Luân Vương làm bản nhân mà bánh xeThất Bửu từ hư không bay đến, ấy là sự tăng thượng.Vì cảnh chẳng thể sanh quả, phải nhờ tâm làm tăng thượng,Luân Vương mới có thể làm ra thắng nhân. Vì tâm làm tăngthượng duyên cho cảnh ( bánh xe bay ), nên gọi là Tác Nhân.

5.Hiển Thị Nhân : Sự vọng tưởng sanh rồi thì hiện cái tướngnăng tác, sở tác, như cây đèn chiếu soi hiển thị sắc tướngv. v... gọi là Hiển Thị Nhân.

6.Đối Đãi Nhân : Là lúc pháp diệt thì sự tương tục đoạnđứt, mà ngay đó tánh ''chẳng vọng tướng'' sanh khởi. ĐạiHuệ! Tự tướng vọng tưởng của phàm phu chẳng lần lượtsanh, chẳng cùng chúng sanh. Tại sao? Nếu cùng lúc sanh thìchẳng phân biệt được năng tác, sở tác, vì chẳng có tướngnhân. Nếu lần lượt sanh thì chẳng có tự tướng, cho nênchẳng thể có lần lượt sanh, như chẳng sanh con thì khôngđược gọi là cha. Đại Huệ! Vì cha với con làm nhân đốiđãi với nhau, không có cha thì không sanh được con, khôngcó con thì không được gọi là cha; cha con đối đãi nhau màsanh, nên gọi là Đối Đãi Nhân.

- ĐạiHuệ! nói tóm lại, các thứ tướng sanh đều do các thứ nhâncủa tự tánh vọng tưởng chấp tướng mà sanh. Vì tự tâmhiện ra thọ dụng mà có tự tướng, cộng tướng, ngoạitánh, phi tánh; thực ra Lần Lượt Sanh và Cùng Lúc Sanh haithứ đều chẳng thể sanh. Cho nên phải lìa hai thứ kiếnchấp đó.

Khiấy, Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Tấtcả đều Vô sanh,

Cũngkhông nhân duyên diệt.

Ởnơi tướng sanh diệt,

Màkhởi nhân duyên tưởng.

Phápdiệt rồi lại sanh,

Donhân duyên tương tục.

Vìđoạn dứt si mê,

Củatất cả chúng sanh.

Nênthuyết pháp duyên khởi,

Cácpháp thật Vô Sanh.

Dotập khí mê hoặc,

Từđó hiện tam giới.

Duyênthật vốn Vô Sanh,

Lạicũng chẳng có diệt.

Tấtcả pháp hữu vi,

Nhưhoa đốm trên không.

Nếulìa bỏ kiến chấp,

Năngnhiếp và sở nhiếp.

Chẳngcó Vô nhân sanh,

Vàđã sanh, sẽ sanh.

Sựsanh vốn chẳng có,

Thảychỉ là ngôn thuyết.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn