Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

4. Không Một Lời Nào Do Phật Thuyết

03/05/201119:55(Xem: 3364)
4. Không Một Lời Nào Do Phật Thuyết

KINHLĂNG GIÀ
LĂNGGIÀA BẠT ĐA LA BỬU KINH
PhápSư Tam Tạng Ấn Độ Cầu Na Bạt Đà La dịch từ Phạn sangHán đời nhà Tống.
ViệtDịch: Tỳ Kheo Thích Duy Lực

QUYỂNTHỨ BA
ĐạiHuệ bồ tát lại bạch Phật rằng:

- NhưThế Tôn sở thuyết: "Ta từ đêm kia đắc Tối Chánh Giác,cho đến đêm kia nhập Niết Bàn, ở nơi khoảng giữa đóchẳng thuyết một chữ, cũng chẳng phải đã thuyết, chẳngphải sẽ thuyết, nói "chẳng thuyết là Phật thuyết". ThếTôn! Như lai Ứng Cúng Đẳng

ChánhGiác vì sao nói "Chẳng thuyết tức là Phật thuyết?".

Phậtbảo Đại Huệ:

- Tavì hai pháp nên nói như thế. Thế nào là hai pháp? Là DuyênTự Đắc pháp và Bổn Trụ pháp, gọi là hai pháp. Do hai phápnày nên ta nói như thế.

- Thếnào là DUYÊN TỰ ĐẮC PHÁP? Là pháp do chư Như Lai chứng đắc,Ta cũng chứng đắc, chẳng thêm chẳng bớt. Cảnh giới cứucánh của Duyên Tự Đắc pháp lìa hai tướng ngôn thuyết vàvăn tự, chỉ có thể tự đắc, tự biết, nên gọi là DuyênTự Đắc pháp.

- Thếnào là BỒN TRỤ PHÁP? Là đạo pháp của bậc Thánh xưa nhưtánh vàng bạc chẳng hoại, thường trụ nơi pháp giới, vôthỉ vô chung. Hoặc Như Lai ra đời, hoặc chẳng ra đời, đạopháp vẫn thường trụ nơi pháp giới như thế, gọi là BổnTrụ pháp.Ví như sĩ phu đi trong đồng vắng, thấy con đườngbằng phẳng hướng về cổ thành, liền đi theo đường đóvào thành, được thọ sự vui như ý. Đại Huệ! Ý ngươithế nào? Con đường và mỗi mỗi sự vui kia là do ngườiấy làm ra ư?

Đáprằng:

- Khôngạ, Thế Tôn.

Phậtbảo Đại Huệ:

- Tavà quá khứ tất cả chư Phật thường trụ nơi pháp giớicũng như thế. Nên nói :"Ta từ đêm kia đắc Tối Chánh Giác,cho đến đêm kia nhập Niết Bàn, ở nơi khoảng giữa chẳngthuyết một chữ, cũng chẳng phải đã thuyết, chẳng phảisẽ thuyết".

Khiấy, Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Tatừ đêm thành đạo,

Đếnđêm nhập Niết Bàn.

Nơikhoảng chính giữa này,

Chẳngthuyết một chữ nào.

VìDuyên Tự Đắc Pháp,

VàPháp Bổn Trụ kia,

NênTa và chư Phật,

Thuyếtpháp chẳng sai biệt.

Khiấy, Đại Huệ Bồ Tát lại bạch Thế Tôn rằng :

-Cúi xin Phật thuyết tướng nhân duyên của tất cả các pháp,do giác đựơc tướng nhân duyên, khiến con và các Bồ Tátđược lìa tất cả tánh của vọng kiến hữu vô, chẳng vọngchấp các pháp tiệm sanh, hoặc đốn sanh, hoặc tiệm đốncộng sanh.

Phậtbảo Đại Huệ :

- Tấtcả pháp có hai thứ duyên tướng, là ngoại duyên và nộiduyên. Ngoại Duyên là : Cục đất, cây cọc, bánh xe, sợidây, nước, gỗ, nhân công, các thứ phương tiện làm duyên,sanh ra cái bình như bình đất, còn các thứ tơ, lụa, látchiếu, giống mầm, tô lạc v.v... do ngoại duyên phương tiệnsanh ra cũng như thế. Ấy gọi là tướng Ngoại Duyên.

- Thếnào là Nội Duyên? Vì có vô minh ái nghiệp các pháp hòa hợpgọi là năng duyên, từ đó sanh khởi các pháp ấm, giới,nhập, gọi là sở duyên. Các pháp do tự tâm sở hiện vốnchẳng sai biệt, mà phàm phu vọng chấp, thành có sai biệt,ấy gọi là pháp Nội Duyên.

- ĐạiHuệ! Nói về Nhân gồm có sáu thứ, ấy là : Đương hữunhân, Tương tục nhân, Tướng nhân, Tác nhân, Hiển thị nhân,Đối đãi nhân.

1.Đương Hữu Nhân : Vì thức thứ tám từ vô thỉ đến nayhay làm nhân cho tất cả pháp, từ nhân sanh quả, bất khảtư nghì, đương lúc đó làm nhân, nên gọi là Đương HữuNhân.

2.Tương Tục Nhân : Vì bên trong nương thức thứ tám và thứcthứ sáu, phan duyên ngoại cảnh, từ đó pháp trong ngoài làmnhân sanh quả như ngũ ấm chủng tử v.v... do hiện hành huântập chủng tử, lại do chủng tử huân tập hiện hành, màquả nhiễm tịnh theo đó liên tục sanh khởi chẳng dừng,nên gọi là Tương Tục Nhân.

3.Tướng Nhân : Do cái đẳng Vô Gián Duyên ( duyên chẳng giánđoạn ) làm ra tướng Vô Gián, sanh ra quả tương tục. Nơitương tục có tướng Vô Gián đã lìa nơi nhân mà chưa đếnnơi quả, vì nó chẳng gián đoạn cho nên tương tục. Vì ởnơi chính giữa của nhân và quả mà có tướng,, nên gọilà Tướng Nhân.

4.Tác Nhân : Tức là tăng thượng duyên, ấy là tạo nghiệptăng thượng mà sanh ra quả, cũng như Chuyển Luân Vương, dothân thể chứng đắc Luân Vương làm bản nhân mà bánh xeThất Bửu từ hư không bay đến, ấy là sự tăng thượng.Vì cảnh chẳng thể sanh quả, phải nhờ tâm làm tăng thượng,Luân Vương mới có thể làm ra thắng nhân. Vì tâm làm tăngthượng duyên cho cảnh ( bánh xe bay ), nên gọi là Tác Nhân.

5.Hiển Thị Nhân : Sự vọng tưởng sanh rồi thì hiện cái tướngnăng tác, sở tác, như cây đèn chiếu soi hiển thị sắc tướngv. v... gọi là Hiển Thị Nhân.

6.Đối Đãi Nhân : Là lúc pháp diệt thì sự tương tục đoạnđứt, mà ngay đó tánh ''chẳng vọng tướng'' sanh khởi. ĐạiHuệ! Tự tướng vọng tưởng của phàm phu chẳng lần lượtsanh, chẳng cùng chúng sanh. Tại sao? Nếu cùng lúc sanh thìchẳng phân biệt được năng tác, sở tác, vì chẳng có tướngnhân. Nếu lần lượt sanh thì chẳng có tự tướng, cho nênchẳng thể có lần lượt sanh, như chẳng sanh con thì khôngđược gọi là cha. Đại Huệ! Vì cha với con làm nhân đốiđãi với nhau, không có cha thì không sanh được con, khôngcó con thì không được gọi là cha; cha con đối đãi nhau màsanh, nên gọi là Đối Đãi Nhân.

- ĐạiHuệ! nói tóm lại, các thứ tướng sanh đều do các thứ nhâncủa tự tánh vọng tưởng chấp tướng mà sanh. Vì tự tâmhiện ra thọ dụng mà có tự tướng, cộng tướng, ngoạitánh, phi tánh; thực ra Lần Lượt Sanh và Cùng Lúc Sanh haithứ đều chẳng thể sanh. Cho nên phải lìa hai thứ kiếnchấp đó.

Khiấy, Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Tấtcả đều Vô sanh,

Cũngkhông nhân duyên diệt.

Ởnơi tướng sanh diệt,

Màkhởi nhân duyên tưởng.

Phápdiệt rồi lại sanh,

Donhân duyên tương tục.

Vìđoạn dứt si mê,

Củatất cả chúng sanh.

Nênthuyết pháp duyên khởi,

Cácpháp thật Vô Sanh.

Dotập khí mê hoặc,

Từđó hiện tam giới.

Duyênthật vốn Vô Sanh,

Lạicũng chẳng có diệt.

Tấtcả pháp hữu vi,

Nhưhoa đốm trên không.

Nếulìa bỏ kiến chấp,

Năngnhiếp và sở nhiếp.

Chẳngcó Vô nhân sanh,

Vàđã sanh, sẽ sanh.

Sựsanh vốn chẳng có,

Thảychỉ là ngôn thuyết.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn