Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

4. Tướng ngôn thuyết vọng tưởng

03/05/201119:55(Xem: 3215)
4. Tướng ngôn thuyết vọng tưởng

KINHLĂNG GIÀ
LĂNGGIÀA BẠT ĐA LA BỬU KINH
PhápSư Tam Tạng Ấn Độ Cầu Na Bạt Đà La dịch từ Phạn sangHán đời nhà Tống.
ViệtDịch: Tỳ Kheo Thích Duy Lực

PHẨMNHẤT THIẾT PHẬT NGỮ TÂM
(Phần 2)
QUYỂNTHỨ NHÌ

Khi ấy,Đại Huệ Bồ Tát lại bạch Phật rằng :

-Bạch Thế Tôn! Cúi xin vì chúng con nói tướng của Tâm Kinhvà ngôn thuyết của vọng tưởng. Con và các Đại Bồ Tátnếu khéo biết tướng Tâm Kinh và ngôn thuyết của vọng tưởng,thì được thông đạt hai nghĩa năng thuyết và sở thuyết,chóng chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, dùnghai thứ năng thuyết và sở thuyết tẩy sạch trần cấu củatất cả chúng sanh.

Phậtbảo Đại Huệ :

- Hãychú ý nghe và khéo ghi nhớ, ta sẽ vì ngươi mà thuyết.

ĐạiHuệ Bồ Tát bạch Phật rằng :

- Lànhthay! Thế Tôn! Con xin thọ giáo.

Phậtbảo Đại Huệ :

- Cóbốn thứ tướng ngôn thuyết vọng tưởng là : Tướng ngônthuyết, Mộng ngôn thuyết, Vọng tưởng chấp trước ngônthuyết, và vô thỉ vọng tưởng ngôn thuyết.

1.Tướng Ngôn Thuyết : Là từ tự tâm vọng tưởng chấp trướcsắc tướng mà sanh.

2.Mộng Ngôn Thuyết : Là cảnh giới xưa kia đã trải qua, naytùy niệm tưởng nhớ mà sanh, Nếu giác ngộ rồi thì cảnhgiới '' Vô Tánh '' được sanh.

3.Vọng Tưởng Chấp Trước Ngôn Thuyết : Là như trước kiado oán ghét tạo thành nghiệp, nay tùy niệm tưởng nhớ màsanh.

4.Vô Thỉ Vọng Tưởng Ngôn Thuyết : Là lỗi từ vô thỉ hưngụy, chấp trước tạp khí của tự chủng mà sanh. Ấy gọilà bốn thứ tướng của vọng tưởng ngôn thuyết.

Khiấy, Đại Huệ Bồ Tát lại dùng nghĩa này khuyến thỉnh ThếTôn :

- Cúixin Phật thuyết lại cảnh giới sở hiện của vọng tưởngngôn thuyết. Bạch Thế Tôn! Ấy là ở nơi nào? Do cớ gì?Tại sao? Nhân gì mà sanh ra ngôn thuyết vọng tưởng của chúngsanh?

Phậtbảo Đại Huệ :

- Dođầu, ngực, cổ họng, mũi, môi, lưỡi, nướu răng, hòa hợpmà phát ra âm thanh.

ĐạiHuệ Bồ Tát bạch Phật rằng :

- ThếTôn! Ngôn thuyết với vọng tưởng là khác hay chẳng khác?

Phậtbảo Đại Huệ :

- Ngônthuyết và vọng tưởng, chẳng phải khác hay chẳng khác. Tạisao? Vì là vọng tưởng làm nhân sanh ra tướng ngôn thuyết.Nếu ngôn thuyết với vọng tưởng khác nhau thì vọng tưởngchẳng nên làm nhân; nếu chẳng khác thì lời nói chẳng hiểnbày nghĩa lý. Nhưng sự thật thì chẳng như vậy. Cho nên chẳngphải khác hay chẳng khác.

ĐạiHuệ Bồ Tát lại bạch Phật rằng :

- Vậyngôn thuyết là Đệ Nhất Nghĩa hay sở thuyết là Đệ NhấtNghĩa?

Phậtbảo Đại Huệ :

- Chẳngphải ngôn thuyết là Đệ Nhất Nghĩa, cũng chẳng phải sởthuyết là Đệ Nhất Nghĩa. Tại sao? Nói '' ĐỆ NHẤT NGHĨA" là do ngôn thuyết sở nhập, nghĩa là sự an vui của bậcThánh, mới gọi là Đệ Nhất Nghĩa, chẳng phải ngôn thuyếtlà Đệ Nhất Nghĩa. Đệ Nhất Nghĩa là do Thánh Trí tự giácsở chứng đắc, chẳng phải cảnh giới của ngôn thuyếtvọng tưởng, cho nên, ngôn thuyết vọng tưởng chẳng hiệnthị Đệ Nhất Nghĩa. Lại nữa, Đại Huệ! Vì do tự tâmhiện lượng sở nhập nên mổi mổi tướng ngoài tánh phitánh. Thì vọng tưởng ngôn thuyết chẳng hiển thị Đệ NhấtNghĩa. cho nên, Đại Huệ! phải lìa tướng ngôn thuyết vàvọng tưởng, mới có thể hiển bày được Đệ Nhất Nghĩa.

Khiấy, Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

CácPháp chẳng tự tánh,

Cũngchẳng phải ngôn thuyết.

KhôngKhông nghĩa sâu tột,

Phàmphu chẳng thể liễu.

Tựtánh của pháp tánh,

Lìangôn thuyết phân biệt.

Sanhtử và Niết Bàn,

Cácpháp như mộng huyễn.

Nhưvua và Trưởng giả,

Vìmuốn các con vui.

Trướccho vật tương tự,

Sauban đồ chơn thật.

Nayta cũng như thế,

Trướcthuyết pháp tương tự,

Saumới vì họ giảng,

Phápthật tế tự chứng.

Khiấy, Đại Huệ Bồ Tát lại bạch Thế Tôn rằng :

-Cúi xin Phật thuyết tướng nhân duyên của tất cả các pháp,do giác đựơc tướng nhân duyên, khiến con và các Bồ Tátđược lìa tất cả tánh của vọng kiến hữu vô, chẳng vọngchấp các pháp tiệm sanh, hoặc đốn sanh, hoặc tiệm đốncộng sanh.

Phậtbảo Đại Huệ :

- Tấtcả pháp có hai thứ duyên tướng, là ngoại duyên và nộiduyên. Ngoại Duyên là : Cục đất, cây cọc, bánh xe, sợidây, nước, gỗ, nhân công, các thứ phương tiện làm duyên,sanh ra cái bình như bình đất, còn các thứ tơ, lụa, látchiếu, giống mầm, tô lạc v.v... do ngoại duyên phương tiệnsanh ra cũng như thế. Ấy gọi là tướng Ngoại Duyên.

- Thếnào là Nội Duyên? Vì có vô minh ái nghiệp các pháp hòa hợpgọi là năng duyên, từ đó sanh khởi các pháp ấm, giới,nhập, gọi là sở duyên. Các pháp do tự tâm sở hiện vốnchẳng sai biệt, mà phàm phu vọng chấp, thành có sai biệt,ấy gọi là pháp Nội Duyên.

- ĐạiHuệ! Nói về Nhân gồm có sáu thứ, ấy là : Đương hữunhân, Tương tục nhân, Tướng nhân, Tác nhân, Hiển thị nhân,Đối đãi nhân.

1.Đương Hữu Nhân : Vì thức thứ tám từ vô thỉ đến nayhay làm nhân cho tất cả pháp, từ nhân sanh quả, bất khảtư nghì, đương lúc đó làm nhân, nên gọi là Đương HữuNhân.

2.Tương Tục Nhân : Vì bên trong nương thức thứ tám và thứcthứ sáu, phan duyên ngoại cảnh, từ đó pháp trong ngoài làmnhân sanh quả như ngũ ấm chủng tử v.v... do hiện hành huântập chủng tử, lại do chủng tử huân tập hiện hành, màquả nhiễm tịnh theo đó liên tục sanh khởi chẳng dừng,nên gọi là Tương Tục Nhân.

3.Tướng Nhân : Do cái đẳng Vô Gián Duyên ( duyên chẳng giánđoạn ) làm ra tướng Vô Gián, sanh ra quả tương tục. Nơitương tục có tướng Vô Gián đã lìa nơi nhân mà chưa đếnnơi quả, vì nó chẳng gián đoạn cho nên tương tục. Vì ởnơi chính giữa của nhân và quả mà có tướng,, nên gọilà Tướng Nhân.

4.Tác Nhân : Tức là tăng thượng duyên, ấy là tạo nghiệptăng thượng mà sanh ra quả, cũng như Chuyển Luân Vương, dothân thể chứng đắc Luân Vương làm bản nhân mà bánh xeThất Bửu từ hư không bay đến, ấy là sự tăng thượng.Vì cảnh chẳng thể sanh quả, phải nhờ tâm làm tăng thượng,Luân Vương mới có thể làm ra thắng nhân. Vì tâm làm tăngthượng duyên cho cảnh ( bánh xe bay ), nên gọi là Tác Nhân.

5.Hiển Thị Nhân : Sự vọng tưởng sanh rồi thì hiện cái tướngnăng tác, sở tác, như cây đèn chiếu soi hiển thị sắc tướngv. v... gọi là Hiển Thị Nhân.

6.Đối Đãi Nhân : Là lúc pháp diệt thì sự tương tục đoạnđứt, mà ngay đó tánh ''chẳng vọng tướng'' sanh khởi. ĐạiHuệ! Tự tướng vọng tưởng của phàm phu chẳng lần lượtsanh, chẳng cùng chúng sanh. Tại sao? Nếu cùng lúc sanh thìchẳng phân biệt được năng tác, sở tác, vì chẳng có tướngnhân. Nếu lần lượt sanh thì chẳng có tự tướng, cho nênchẳng thể có lần lượt sanh, như chẳng sanh con thì khôngđược gọi là cha. Đại Huệ! Vì cha với con làm nhân đốiđãi với nhau, không có cha thì không sanh được con, khôngcó con thì không được gọi là cha; cha con đối đãi nhau màsanh, nên gọi là Đối Đãi Nhân.

- ĐạiHuệ! nói tóm lại, các thứ tướng sanh đều do các thứ nhâncủa tự tánh vọng tưởng chấp tướng mà sanh. Vì tự tâmhiện ra thọ dụng mà có tự tướng, cộng tướng, ngoạitánh, phi tánh; thực ra Lần Lượt Sanh và Cùng Lúc Sanh haithứ đều chẳng thể sanh. Cho nên phải lìa hai thứ kiếnchấp đó.

Khiấy, Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Tấtcả đều Vô sanh,

Cũngkhông nhân duyên diệt.

Ởnơi tướng sanh diệt,

Màkhởi nhân duyên tưởng.

Phápdiệt rồi lại sanh,

Donhân duyên tương tục.

Vìđoạn dứt si mê,

Củatất cả chúng sanh.

Nênthuyết pháp duyên khởi,

Cácpháp thật Vô Sanh.

Dotập khí mê hoặc,

Từđó hiện tam giới.

Duyênthật vốn Vô Sanh,

Lạicũng chẳng có diệt.

Tấtcả pháp hữu vi,

Nhưhoa đốm trên không.

Nếulìa bỏ kiến chấp,

Năngnhiếp và sở nhiếp.

Chẳngcó Vô nhân sanh,

Vàđã sanh, sẽ sanh.

Sựsanh vốn chẳng có,

Thảychỉ là ngôn thuyết.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn