Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

11. Phẩm “Thí Dụ” (Biên soạn: Lão Cư Sĩ Thiện Bửu, Diễn đọc: Phật tử Hoàng Lan Quảng Thiện Duyên, Lồng nhạc: Jordan Lê Quảng Thiện Hùng)

17/05/202015:17(Xem: 750)
11. Phẩm “Thí Dụ” (Biên soạn: Lão Cư Sĩ Thiện Bửu, Diễn đọc: Phật tử Hoàng Lan Quảng Thiện Duyên, Lồng nhạc: Jordan Lê Quảng Thiện Hùng)

 

TỔNG LUẬN 

KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thin Bu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2020

***

Buddha-321

 

PHẨM “THÍ DỤ”

Quyển 42 cho đến đầu quyển 45, Hội thứ I, ĐBN.

(Tương đương với phẩm “Ảo Học” quyển thứ 04, MHBNBLM)

Biên soạn: Lão Cư Sĩ Thiện Bửu 
Diễn đọc: Phật tử Hoàng Lan Quảng Thiện Duyên 
Lồng nhạc: Jordan Lê Quảng Thiện Hùng






 

Gợi ý:

Các bài trước Phật thuyết các pháp là giả, duyên hợp giả có. Kế Phật thuyết các pháp không, không có tự tánh nên gọi là không. Các pháp vì vậy lấy vô tánh làm tự tánh. Bây giờ, Phật thuyết các pháp như huyễn.

 

Tóm lược:

 

Sắc với huyễn không khác, thọ, tưởng, hành, thức với huyễn không khác. Nhãn đến ý, sắc đến pháp, nhãn giới đến ý thức giới cùng với huyễn cũng không khác. Sáu Ba la mật, tứ niệm xứ đến mười tám pháp bất cộng cùng với huyễn không khác. Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề với huyễn cũng không khác.

Vì sao? Vì sắc chẳng khác huyễn, huyễn chẳng khác sắc, sắc tức là huyễn, huyễn tức là sắc. Nhẫn đến vì Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề chẳng khác huyễn, huyễn chẳng khác Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề tức là huyễn, huyễn tức là Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Nếu pháp không có tưởng, không có các tưởng, không giả lập, không ngôn thuyết, không có danh không có giả danh, không có thân không có nghiệp của thân, không có khẩu  không có nghiệp của khẩu, không có ý không có nghiệp của ý, không nhiễm không tịnh, không sanh không diệt, thời pháp này năng học Bát Nhã Ba-la-mật, cho đến Nhất thiết tướng trí, thành xong Nhất thiết trí trí chăng? Nhưng nếu đại Bồ tát năng lấy vô sở đắc làm phương tiện để học Bát Nhã Ba-la-mật, cho đến Nhất thiết tướng trí, thì nên biết đại Bồ tát ấy, có thể thành tựu Nhất thiết trí trí. (Q.42, ĐBN)

Nếu đại Bồ tát muốn chứng quả vị Giác ngộ tối cao, thì khi tu học Bát Nhã Ba-la-mật nên như ảo nhân tu học Bát Nhã, đối với tất cả mọi sự, mọi việc, không phân biệt. Vì sao? Vì nên biết ảo nhân tức là năm uẩn, năm uẩn tức là ảo nhân.

Năm uẩn ấy học Bát Nhã cũng chẳng được Nhất thiết chủng trí. Vì năm uẩn nầy tánh vô sở hữu. Tánh vô sở hữu cũng là bất khả đắc.

Năm uẩn như mộng, như ảnh, như hưởng, như dương diệm, như biến hoá, học Bát Nhã Ba-la-mật cũng không được Nhất thiết chủng trí. Vì tánh mộng cho đến tánh biến hóa vô sở hữu. Tánh vô sở hữu cũng là bất khả đắc.

Lục tình cũng như vậy. Năm uẩn tức là lục tình, lục tình tức là năm uẩn.

Vì những pháp ấy tức là nội không, nhẫn đến vô pháp hữu pháp không nên bất khả đắc.

Bồ Tát mới phát tâm đối với Bát Nhã Ba-la-mật, không phương tiện lại không gặp được bậc thiện tri thức hướng dẫn chắc có lo sợ, e ngại.

Nếu đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, nên dùng cái tâm của Nhất thiết trí trí mà quán cái tướng thường, vô thường của năm uẩn là chẳng thể nắm bắt được; nên lấy cái tâm của Nhất thiết trí trí mà quán cái tướng lạc, khổ, tướng ngã vô ngã, tướng tịnh bất tịnh, tướng không bất không, tướng vô tướng hữu tướng, tướng vô nguyện hữu nguyện, tướng tịch tịnh bất tịch tịnh, tướng viễn ly, bất viễn ly của năm uẩn chẳng thể nắm bắt được. Đại Bồ tát như vậy, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, vì có phương tiện thiện xảo, nên khi nghe nói Bát Nhã thậm thâm như vậy, tâm của những vị ấy, chẳng lo sợ, e ngại.

Nếu đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, nên dùng cái tâm của Nhất thiết trí trí mà quán cái tướng thường vô thường, tướng lạc khổ, tướng ngã vô ngã, tướng tịnh bất tịnh v.v… của mười hai xứ, mười tám gii cho đến tất cả pháp Phật, chẳng thể nắm bắt được. Đại Bồ tát như vậy, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, vì có phương tiện thiện xảo, nên khi nghe nói Bát Nhã Ba-la-mật thậm thâm như vậy, tâm của những vị ấy chẳng lo sợ, e ngại.

Nếu đại Bồ tát khi khởi lên sự quán chiếu đó, lại khởi lên ý nghĩ thế này: Ta nên lấy vô sở đắc làm phương tiện, vì các hữu tình mà thuyết cái tướng thường, vô thường của tất cả pháp là bất khả đắc, cái tướng lạc khổ là bất khả đắc, cái tướng ngã vô ngã là bất khả đắc, cái tướng tịnh bất tịnh là bất khả đắc, cái tướng không bất không là bất khả đắc, cái tướng vô tướng, hữu tướng là bất khả đắc, cái tướng vô nguyện hữu nguyện là bất khả đắc, cái tướng tịch tịnh bất tịch tịnh là bất khả đắc, cái tướng viễn ly bất viễn ly là bất khả đắc, thì đó là đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, không đắm trước bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự Ba la mật. Đại Bồ tát, do phương tiện thiện xảo bố thí, tịnh giới Ba la mật v.v…này, nên khi nghe nói Bát Nhã thậm thâm như vậy, tâm của những vị ấy chẳng lo sợ, e ngại.

 

Chẳng phải không sắc nên sắc mới không, vì sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ tưởng hành thức cũng lại như vậy. Chẳng phải không mười hai xứ, nên mười hai xứ mới không, vì mười hai xứ tức là không, không tức là mười hai xứ. Cũng vậy, chẳng phải không mười tám gii, nên mười tám gii mới không, vì mười tám gii tức là không, không tức là mười tám gii. Tứ thiền bát định, tứ thánh đế, thập nhị nhân duyên, ba mươi bảy pháp trợ đạo, Nhất thiết trí… cho đến Quả vị Giác ngộ tối cao cũng lại như thế.

Đó là đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, không chấp trước Bát Nhã. Như vậy là đại Bồ tát, do Bát Nhã có phương tiện thiện xảo này, nên nghe nói Bát Nhã thậm thâm như vậy, tâm của những vị ấy chẳng lo sợ, e ngại.

 

Nhưng muốn viên mãn Bát Nhã Ba-la-mật, ngoài các phương tiện thiện xảo trên, đại Bồ tát cần phải có sự hỗ trợ của thiện tri thức. Chỉ những người nào hành mà không thấy mình hành, tu mà không nói mình tu, chứng không nói mình chứng, người đó chính là thiện tri thức, vì những người đó lấy vô sở đắc làm phương tiện. Với phương tiện như vậy, người ấy tuyên thuyết cái tướng thường vô thường của năm uẩn bất khả đắc, cái tướng lạc khổ là bất khả đắc, cái tướng ngã vô ngã là bất khả đắc, cái tướng tịnh bất tịnh là bất khả đắc, cái tướng không bất không là bất khả đắc, cái tướng vô tướng hữu tướng là bất khả đắc, cái tướng vô nguyện hữu nguyện là bất khả đắc, cái tướng tịch tịnh bất tịch tịnh là bất khả đắc, cái tướng viễn ly bất viễn ly của tất cả pháp là bất khả đắc, và khuyên theo pháp này mà siêng tu thiện căn, chẳng khiến hướng đến Thanh văn, Độc giác, mà chỉ muốn chứng đắc Nhất thiết trí trí. Đó chính là thiện hữu của đại Bồ tát. Nếu đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, được sự hỗ trợ của thiện hữu này, thì khi nghe nói Bát Nhã thậm thâm như vậy, tâm của những vị ấy chẳng lo sợ, e ngại. (Q.43, ĐBN)

 

Trái lại, nếu đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, lìa tâm tương ưng Nhất thiết trí trí mà tu hành Bát Nhã thì đối với sự tu hành Bát Nhã đó có cái chứng đắc, có cái nương tựa, vì lấy hữu sở đắc làm phương tiện; lìa tâm tương ưng Nhất thiết trí trí mà tu hành tịnh lự, tinh tấn, an nhẫn, tịnh giới, bố thí Ba la mật, thì đối với sự tu hành tịnh lự cho đến bố thí đó, có chứng đắc, có nương tựa, có nắm, có bắt tức là lấy sở đắc làm phương tiện. Đại Bồ tát như vậy, khi tu hành Bát Nhã, không có phương tiện thiện xảo, nên nghe nói Bát Nhã Ba-la-mật thậm thâm như vậy, thì tâm của những vị ấy có lo sợ, e ngại. (Q.44, ĐBN)

 

Một khi lấy sở đắc làm phương tiện, lìa tâm tương ưng Nhất thiết trí trí mà tu hành bất cứ pháp tu nào mà tự cho là thắng diệu, mang nhiều công đức nhất thì đó chính là có sở đắc, có nương tựa, nên không tránh khỏi sự trói buộc của nó, tâm không còn tròn đầy như xưa nữa!

 

Thiện hữu là người giúp ta hoàn thành đạo nghiệp, thì trái lại, ác hữu là người phá hoại Bồ đề tâm đưa ta đến chỗ đọa đầy khổ não! Ác hữu làm ta nhàm chán, xa lìa pháp tương ưng Bát Nhã Ba-la-mật, hoặc bảo nhàm chán xa lìa pháp tương ưng lục Ba la mật. Ác hữu nói rằng: Này thiện nam tử! Các ngươi đối với sáu pháp tương ưng đáo bỉ ngạn này, chẳng nên tu học. Vì sao? Vì pháp này nhất định chẳng phải Như Lai nói, mà do kẻ văn tụng lừa dối chế tạo ra. Vì vậy, các ngươi chẳng nên nghe theo, chẳng nên tu tập, chẳng nên thọ trì, chẳng nên đọc tụng, chẳng nên tư duy, chẳng nên suy cứu, chẳng nên vì người khác mà tuyên thuyết khai thị.

Nếu đại Bồ tát khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, bị sự dẫn dắt của ác hữu này, khi nghe nói Bát Nhã thậm thâm như vậy, tâm của những vị ấy có lo sợ, e ngại.

Kẻ ác hữu của các đại Bồ tát, chẳng vì Bồ Tát mà nói ma sự ma tội, lại chẳng nói việc ác ma có thể hiện làm hình Phật đến dạy đại Bồ tát nhàm chán xa lìa sáu phép Ba la mật, nói: Thiện nam tử! Nay ngươi cần chi tu Ba la mật này! Nay ngươi cần gì tu tịnh lự, tinh tấn, an nhẫn, tịnh giới, bố thí! Nếu đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, bị sự dẫn dắt của ác hữu này, khi nghe nói Bát Nhã thậm thâm như vậy, tâm của những vị ấy có lo sợ, e ngại.

Kẻ ác hữu của các đại Bồ tát, chẳng vì Bồ Tát mà nói ma sự ma tội, lại chẳng nói việc ác ma có thể hiện làm hình Phật đến nói pháp tương ưng Thanh văn, Độc giác cho đại Bồ tát, đó là khế kinh cho đến luận nghị(1), phân biệt, khai thị, khuyên phải tu học. Nếu đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã, bị sự dẫn dắt của ác hữu này, thì khi nghe nói Bát Nhã thậm thâm như vậy, thì tâm của vị ấy có lo sợ, e ngại.

Kẻ ác hữu của các đại Bồ tát nói: Thiện nam tử! Ngươi không có chủng tánh Bồ tát, không có tâm Bồ đề chơn thật, chẳng có khả năng chứng đắc bậc Bất thối chuyển, cũng chẳng có khả năng chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao. Nếu đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã, bị sự dẫn dắt của ác hữu này, thì khi nghe nói Bát Nhã thậm thâm như vậy, tâm của vị ấy có lo sợ, e ngại.

Kẻ ác hữu của các đại Bồ tát nói: Thiện nam tử! Sắc là không, không có ngã ngã sở; thọ, tưởng, hành, thức là không, không có ngã ngã sở; mười hai xứ là không, không có ngã ngã sở; mười tám gii là không, không có ngã ngã sở; tứ Thánh đế khổ là không, không có ngã, ngã sở; thập nhị nhân duyên là không, không có ngã ngã sở; tứ thiền bát định, ba mươi bảy pháp trợ đạo, mười tám pháp bất cộng, Nhất thiết trí cho đến quả vị Giác ngộ tối cao là không, không có ngã ngã sở. Này thiện nam tử! Các pháp đều là không, không có ngã ngã sở thì ai có thể tu tập sáu phép đáo bỉ ngạn, lại ai có thể chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao? Dù cho chứng quả Giác ngộ đi nữa, thì dùng để làm gì? Nếu đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, bị sự dẫn dắt của ác hữu này, thì khi nghe nói Bát Nhã thậm thâm như vậy, tâm của những vị ấy có lo sợ, e ngại.

Kẻ ác hữu của các đại Bồ tát, nói: Thiện nam tử! Mười phương đều không; chư Phật, Bồ tát và chúng Thanh văn đều không có. Nếu đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, bị sự dẫn dắt của ác hữu này, khi nghe nói Bát Nhã thậm thâm như vậy, thì tâm của vị ấy có lo sợ, e ngại.

Kẻ ác hữu của các đại Bồ tát, đi đến chỗ đại Bồ tát, chê bai pháp tương ưng Nhất thiết trí trí, khiến khởi lên ý nghĩ rất nhàm chán, xa lìa, khen ngợi pháp tương ưng Thanh văn, Độc giác, khởi lên ý nghĩ rất ưa thích. Nếu đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, bị sự dẫn dắt của ác hữu này, khi nghe nói Bát Nhã thậm thâm như vậy, tâm của những vị ấy có lo sợ, e ngại.

Kẻ ác hữu của các đại Bồ tát, đi đến chỗ đại Bồ tát dạy bảo, khiến cho nhàm chán, xa lìa thắng hạnh của Bồ tát, đó là bốn niệm trụ cho đến tám chi thánh đạo; bố thí Ba la mật cho đến Bát Nhã Ba-la-mật; và khiến nhàm chán, xa lìa Nhất thiết trí trí, đó là năm loại mắt, sáu phép thần thông, mười lực của Phật cho đến Nhất thiết tướng trí; chỉ dạy tu tập pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện. Người học pháp này thì mau chứng quả Thanh văn, hoặc quả Độc giác cứu cánh an lạc; cần gì phải siêng năng, cần khổ cầu đạt đến quả vị Giác ngộ tối cao? Nếu đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, bị sự dẫn dắt của ác hữu này, thì khi nghe nói Bát Nhã thậm thâm như vậy, tâm của những vị ấy có lo sợ, e ngại.

Kẻ ác hữu của các đại Bồ tát, có thể hiện làm hình cha mẹ, đi đến chỗ đại Bồ tát, bảo rằng: “Này con! Con nên siêng năng cầu chứng quả Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, đủ để được vĩnh viễn xa lìa đại khổ sanh tử, mau chứng Niết bàn cứu cánh an lạc. Cần gì phải cầu đạt quả vị Giác ngộ xa xôi. Người cầu Giác ngộ, cần phải trải qua vô lượng, vô số đại kiếp luân hồi sanh tử, giáo hóa hữu tình, xả thân, xả mạng, cắt chặt cơ thể, chỉ tự chuốc lấy sự lao khổ. Con mang ơn của ai? Việc cầu Giác ngộ của con, hoặc là đạt được, hoặc không. Nếu đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, bị sự dẫn dắt của ác hữu này, thì khi nghe nói Bát Nhã thậm thâm như vậy, tâm của những vị ấy có lo sợ, e ngại.

Kẻ ác hữu của các đại Bồ tát, có thể hiện hình các Bí sô... đi đến chỗ đại Bồ tát, lấy hữu sở đắc làm phương tiện, nói cái tướng thường vô thường của sắc, có thể nắm bắt được; nói cái tướng thường vô thường của thọ, tưởng, hành, thức, có thể nắm bắt được. Lấy hữu sở đắc làm phương tiện, nói cái tướng lạc khổ, tướng ngã vô ngã, tướng tịnh bất tịnh, tướng không bất không, tướng vô tướng hữu tướng, tướng vô nguyện hữu nguyện, tướng tịch tịnh bất tịch tịnh, tướng viễn ly bất viễn ly của năm uẩn, có thể nắm bắt được.

Lấy hữu sở đắc làm phương tiện, nói cái tướng thường vô thường, tướng lạc khổ, tướng ngã vô ngã, tướng tịnh bất tịnh, tướng không bất không, tướng vô tướng hữu tướng, tướng vô nguyện hữu nguyện, tướng tịch tịnh bất tịch tịnh, tướng viễn ly bất viễn ly của mười hai xứ, mười tám gii và tất cả pháp Phật có thể nắm bắt được. Đó là ác hữu của đại Bồ tát. Nếu đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, bị sự dẫn dắt của ác hữu này, thì khi nghe nói Bát Nhã thậm thâm như vậy, tâm của những vị ấy có lo sợ, e ngại.

Kẻ ác hữu của các đại Bồ tát, lại có thể hiện hình làm đại Bồ tát, đi đến chỗ đại Bồ tát, khuyên quán cái không nội, có sở đắc; khuyên quán cái không ngoại, cái không nội ngoại, cái không không, cái không lớn cho đến cái không không tánh tự tánh, có sở đắc; khuyên tu bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, 37 pháp trợ đạo; khuyên tu pháp môn giải thoát môn có sở đắc; khuyên tu lục Ba la mật, có sở đắc; khuyên tu năm loại mắt, sáu phép thần thông, có sở đắc; khuyên tu mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí, có sở đắc. Đó là ác hữu của đại Bồ tát, vì nếu chẳng nói những việc như vậy, thì đại Bồ tát đã được Giác ngộ rồi. Nếu đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã, bị sự dẫn dắt của ác hữu này, thì khi nghe nói Bát Nhã thậm thâm như vậy, tâm của những vị ấy có lo sợ, e ngại.

Vì vậy, đại Bồ tát, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, đối với các ác hữu phải mau xa lìa.

 

Thích nghĩa:

(1). Khế kinh cho đến luận nghị: “Trường hàng (hay khế kinh, thể văn xuôi trực tiếp ghi chép các giáo thuyết của đức Phật) nhẫn đến luận nghị” (thể loại kinh ghi chép việc đức Phật luận về thể tánh các pháp, phân biệt rõ ràng ý nghĩa): Trường hàng đến luận nghị, ý nói mười hai bộ kinh. Đã thích nghĩa rồi.

 

Lược giải:

 

Sự chứng nghiệm của Phật ở đây là: “Sắc chẳng khác huyễn, huyễn chẳng khác sắc, sắc tức là huyễn, huyễn tức là sắc. Nhẫn đến Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề chẳng khác huyễn, huyễn chẳng khác Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề tức là huyễn, huyễn tức là Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.

Nếu các pháp không có tưởng, không có các tưởng, không giả lập, không ngôn thuyết, không có danh không có giả danh, không có thân không có nghiệp của thân, không có khẩu không có nghiệp của khẩu, không có ý, không có nghiệp của ý, không nhiễm không tịnh, không sanh không diệt, thời pháp này có thể dùng để học Bát Nhã cho đến Nhất thiết tướng trí và có thể thành xong Nhất thiết trí trí. Nhưng phải lấy vô sở đắc làm phương tiện thì mới có hy vọng.

Nếu đại Bồ tát muốn chứng quả vị Giác ngộ tối cao, thì khi tu học Bát Nhã Ba-la-mật nên như ảo nhân học Bát Nhã, đối với tất cả mọi sự, mọi việc, không phân biệt”.

 

Học mà có sở đắc là không học, vì tìm cầu một cái gì ở ngoài mình. Như nói đắc Vô thượng Bồ đề. Vô thượng Bồ đề đâu phải như một vật ở ngoài thân như tiền bạc mà mình lượm được. Do cần tu khổ hạnh ngộ được bản tâm thì gọi là đắc. Nhưng chứng hay đắc đó cũng chỉ là danh tự giả thi thiết. Khi chưa tu là thái tử Tất Đạt Đa, đắc đạo rồi thì gọi là Thích ca Mâu Ni Phật. Chưa tu là mê thì gọi là chúng sanh, tu rồi thì ngộ, thành Chánh giác. Mê cũng từ một cái tâm nầy mà ngộ cũng từ cái tâm ra. Thành là thành cái gì, thành một người khác không phải chính mình chăng? Thật ra, chúng sanh hay Phật chỉ là sự hoán chuyển của tâm, chuyển y từ mê sang ngộ chứ chẳng có gì khác. Vì vậy, nói tu không năng sở, tu mà không thấy mình (năng) tu, tu không thấy pháp (sở) để tu, cũng không thấy cả chứng đắc. Vì tất cả pháp không thuộc về mình, nên gọi là vô sở hữu bất khả đắc.

Tu mà có nhớ có được là rời Nhất thiết trí trí, là xa lìa Bát Nhã Ba-la-mật. Tu không nhớ không được giống như “ảo nhân thỉnh pháp”, đó chính là tu Bát Nhã. Một lần nữa, xin lập lại giáo pháp Tứ thập nhị chương “học coi như vô học, tu như vô tu, chứng như vô chứng, mới gọi là học, là tu, là chứng”!

 

1- Có vị Tăng hỏi Lục Tổ:

- Ai được y chỉ của Hoàng Mai?

Tổ đáp:

- Người hiểu được Phật pháp.

- Tôn giả được y chỉ không?

- Không.

- Tại sao vậy?

- Vì ta không hiểu Phật pháp.

 

Trúc Thiên trong phần thích nghĩa Thiền luận quyển thượng của Thiền sư D.T. Suzuki tìm thấy một đoạn văn trong bộ Kena-Upanishad (Áo Nghĩa Thư) trùng hợp một cách ngẫu nhiên và kỳ diệu với tư tưởng của Tổ Huệ Năng trên so chiếu với tư tưởng vị thiên sứ Bà La Môn như sau:

 

"Cái ấy chỉ hiểu được bởi người không hiểu,

Người hiểu cái ấy là người không hiểu,

Cái ấy không thể lãnh hội được bởi người lãnh hội, 

Cái ấy chỉ lãnh hội được bởi người không lãnh hội".

 

Nhưng nói trắng ra, nếu Lục Tổ không hiểu thì làm sao được truyền y bát? Không hiểu tức là hiểu, “không biết mà không có gì chẳng biết”, Bát Nhã là như vậy đó!

 

2- Một trích dẫn khác trong Nam Truyền Lục nói về cái không biết như sau:

Quan Thái thú Kỳ Châu hỏi vị Thiền Tổ thứ năm là Hoằng Nhẫn:“Tại sao trong số đồ chúng năm trăm người, Ngài lại chọn Huệ Năng trao cho chiếc áo pháp làm Tổ thứ sáu?”, Nhẫn đáp: “Bốn trăm chín mươi chín người kia đều hiểu Phật pháp, chỉ có Huệ Năng là không hiểu. Năng không phải là người có thể đo được bằng khuôn thước thường của thế nhân, nên áo pháp được trao cho Năng”. 

Và đây là lời bình của Nam Tuyền về câu đáp ấy:

Ở thời đại của “kiếp không” tuyệt không có danh tự. Phật vừa xuất thế liền có danh tự, nên người đời níu tướng. Đại Đạo tuyệt không phàm thánh. Phàm có danh từ ắt kẹt giữa giới hạn. Do đó Lão Túc Giang Tây nói: “Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật”, nhằm chỉ đường người sau hành sự. Người học đạo đời nay khoác lên lớp áo, dựa vào người, chấp vào tâm, thì có can dự vào đâu? Nếu cứ chấp theo vậy mà làm thì phỏng gặp Phật Di Lặc ra đời vẫn bị đốt cháy tan tành, làm sao đạt được tự do? Đồ chúng của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn có năm trăm người, trừ Huệ Năng ra, ai ai cũng thông hiểu Phật Pháp. Năng quả là một cư sĩ kỳ đặc không hai, vì Năng chẳng hiểu Phật pháp. Năng chỉ hiểu Đạo, ngoài ra không hiểu gì khác. (1)

Thích nghĩa cho phần lược giải này:

 (1). Trích trong Nam Tuyền lục theo dẫn chứng của Thiền sư D.T. Suzuki.

 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn