Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

69. Phẩm “Các Pháp Bình Đẳng” ( Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu, Diễn đọc: Phật tử Hoàng Lan Quảng Thiện Duyên; Lồng nhạc: Phật tử Quảng Thiện Hùng Jordan Le)

28/07/202015:13(Xem: 445)
69. Phẩm “Các Pháp Bình Đẳng” ( Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu, Diễn đọc: Phật tử Hoàng Lan Quảng Thiện Duyên; Lồng nhạc: Phật tử Quảng Thiện Hùng Jordan Le)


69_Pham Cac Phap Binh Dang 



TỔNG LUẬN 

KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT

 Biên soạn: Cư Sĩ Thiện Bửu

Trang Nhà Quảng Đức bắt đầu online tháng 4/2020

***

 

PHẨM “CÁC PHÁP BÌNH ĐẲNG”

Phần cuối quyển 383 cho đến phần đầu quyển 386, Hội thứ I, ĐBN.

(Tương đương với phẩm “Thiện Đạt”, phần cuối quyển thứ 27, MHBNBLM)



Biên soạn: Lão Cư sĩ Thiện Bửu

Diễn đọc: Phật tử Hoàng Lan Quảng Thiện Duyên

Lồng nhạc: Phật tử Quảng Thiện Hùng Jordan Le





 




 

 

Gợi ý:

Phẩm này chỉ nối tiếp phẩm trước là sau khi học các pháp công đức còn gọi là diệu pháp, các pháp hy hữu, các pháp mầu Phật đạo... thì làm sao có thể tiếp tục học vô lượng vô biên các pháp môn Phật học khác, để "hoàn toàn đạt được thật tướng của tất cả pháp” xuyên qua mạn lưới sai biệt trùng điệp của những thiên sai vạn biệt phủ kín đôi mắt trần của thế gian.

 

Tóm lược:

 

(Tất cả pháp không có sở hành)

 

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Làm sao đại Bồ tát khi hành Bát Nhã Ba-la-mật thậm thâm, đối với tất cả pháp hoàn toàn đạt được thật tướng(1)?

Phật dạy:                                                                                                 

- Này Thiện Hiện! Thí như hóa Phật mà Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác hoá ra chẳng hành tham, chẳng hành sân, chẳng hành si; chẳng hành sắc, cũng chẳng hành thọ tưởng hành thức; chẳng hành mười hai xứ, mười tám giới; chẳng hành tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, ba mươi bảy pháp trợ đạo, mười tám pháp bất cộng, Nhất thiết trí… cho đến chẳng hành quả vị Giác ngộ tối cao; chẳng hành pháp thế gian, cũng chẳng hành pháp xuất thế gian; chẳng hành pháp hữu lậu, cũng chẳng hành pháp vô lậu; chẳng hành pháp hữu vi, cũng chẳng hành pháp vô vi; chẳng hành đạo, cũng chẳng hành đạo quả.

Này Thiện Hiện! Đại Bồ tát khi hành Bát nhã thậm thâm, cũng giống như thế: Đối với tất cả pháp, hoàn toàn không có sở hành. Đấy là khéo đạt thật tướng các pháp, nghĩa là đối pháp tánh không sở phân biệt.

 

Cụm từ không hànhkhông sở hành là một cụm từ có v ngược đời và hơi lạ tai đối với người thường tục như chúng ta nhưng lại thường xuyên được nhắc nhở trong Kinh điển hệ Bát nhã. Một khi thông hiểu các pháp rồi thì phải áp dụng vào đời sống. Sự áp dụng đó gọi là hành. Phẩm "Tam Tiệm Thứ", Kinh dạy gì? Phải làm việc theo thứ bậc, phải tu theo thứ bậc, phải hành theo thứ bậc. Trong các đoạn Kinh khác cũng nói: Phải hành, phải dẫn và phải tu. Nhưng tại sao Kinh bảo là không hành? Không hành sắc, không hành thọ tưởng hành thức, không hành 12 xứ, 18 giới, không hành tất cả pháp kể cả pháp Phật. Vì một khi hành thì thường hành theo sở duyên, nghĩa là hành có nắm bắt, buông bỏ... , hành theo tốt xấu, thương ghét, nhiễm tịnh... Một khi bị lôi cuốn vào sở duyên thì tâm không còn cái bản nguyên thanh tịnh của thuở ban đầu nữa, và cũng từ đó mà tâm theo khách trần mà lưu chuyển. Vì vậy, Kinh thường khuyên là không hành. Không hành làm sao đắc Bồ tát hạnh, làm sao thành thục hữu tình, làm sao thanh tịnh Phật độ mà Giác ngộ, chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề hay đắc Nhất thiết trí trí. Hành vẫn hành, không ai có thể cấm đoán nếu không phân biệt, chấp đắm).

 

Khi ấy, cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Tại sao đại Bồ tát khi hành Bát nhã thông đạt các pháp đều không thật có? Tất cả pháp đều là huyễn hóa? Ngũ uẩn huyễn hóa? Mười hai xứ, mười tám giới huyễn hóa? Tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, ba mươi bảy pháp trợ đạo, mười tám pháp bất cộng, Nhất thiết trí... cho đến quả vị Giác ngộ tối cao cũng huyễn hóa? Như thế cho đến tất cả pháp thế gian, pháp xuất thế gian, tất cả pháp hữu lậu, pháp vô lậu, tất cả pháp hữu vi, pháp vô vi cũng đều như huyễn hóa?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Đúng vậy! Đúng như lời ông nói, tất cả pháp đều như hóa! Không những vậy, tất cả pháp cũng như mộng, như tiếng vang, như ảnh tượng, như bóng sáng, như bóng nắng, như ảo thành. Nhưng chúng sanh không tự biết, khởi tưởng phân biệt chấp trước điên đảo, nên bị lưu chuyển. Đại Bồ Tát vì vậy, phải chịu khổ nhọc trải bao số kiếp vì cứu độ chúng sanh, tu Bồ Tát đạo, hành sáu Ba-la-mật, nghiêm tịnh cõi Phật, thành thục hữu tình.

Chúng sanh chỉ an trụ trong danh tướng, hư vọng, ức tưởng, phân biệt, các đại Bồ tát hành Bát nhã từ chỗ danh tướng hư vọng phân biệt ấy, cứu vớt khiến được giải thoát.

Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Nhưng cái gì gọi là danh? Cái gì gọi là tướng?

 

(Thế nào là Danh và Tướng?)

 

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Danh là khách trần giả lập, đều do đặt tên, đây gọi là sắc, đây gọi là thọ, tưởng, hành, thức; đây là nam, đây là nữ, đây là tiểu, đây là đại, đây là địa ngục, đây là bàng sanh, đây là quỷ giới, đây là người, đây là trời; đây là pháp thế gian, đây là pháp xuất thế gian, đây là Dự lưu, đây là Nhất lai, đây là Bất hoàn, đây là A la hán, đây là Độc giác; đây là Bồ tát; đây là Phật v.v…

Tất cả danh xưng như thế đều là giả lập, đặt ra để chỉ bày, chẳng phải thật có; các pháp hữu vi cũng chỉ có danh, các pháp vô vi cũng chỉ có danh, chẳng phải thật có. Phàm phu ngu si ở trong (danh) vọng chấp, đại Bồ tát khi hành Bát nhã phương tiện thiện xảo giáo hóa khiến xa lìa, nên nói: Danh là phân biệt, do vọng tưởng sanh khởi, chỉ do các duyên hòa hợp giả có, chẳng nên chấp trước; danh không thật có, tự tánh đều không.

Đó là đại Bồ tát khi hành Bát nhã phương tiện thiện xảo, vì chúng hữu tình, thuyết pháp lìa danh.

 

Khi ấy, cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:

- Này Thiện Hiện! Đó gọi là danh. Còn cái gì gọi là tướng?

- Này Thiện Hiện! Tướng có hai thứ: Một là sắc tướng, hai là vô sắc tướng.

Cái gì có hình thể, màu sắc hoặc thô hoặc tế, hoặc lớn hoặc nhỏ, hoặc đen trắng, xấu đẹp, ngon dở… mà mắt có thể thấy, tay có thể xúc chạm, lưỡi có thể nếm v.v… thì gọi là sắc tướng.

Cái gì không thấy được, không có hình dáng màu sắc thì gọi là vô sắc tướng như âm thanh, mùi vị… Đại Bồ tát khi hành Bát nhã phương tiện thiện xảo, giáo hóa các hữu tình xa lìa hai tướng, lại giáo hóa an trụ trong cảnh giới vô tướng; tuy giáo hóa an trụ trong cảnh giới vô tướng, nhưng chẳng khiến họ rơi vào chấp nhị biên: Tướng, vô tướng.

Đó là đại Bồ tát khi hành Bát nhã phương tiện thiện xảo, khiến các hữu tình, xa lìa các tướng, an trụ cảnh giới vô tướng nên chẳng chấp trước.

 

(Lấy vô tướng làm phương tiện mà tu Bát nhã)

 

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Nếu tất cả pháp chỉ là những danh tướng giả lập, do phân biệt sanh khởi, không có thật tánh thì làm sao các đại Bồ tát khi hành Bát nhã đối với các thiện pháp có thể tự mình thăng tiến và có thể làm cho người khác thăng tiến được?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Nếu các pháp có chút thật, chẳng phải giả lập danh tướng, thì đại Bồ tát khi hành Bát nhã đối với các thiện pháp, chẳng tự thăng tiến, cũng chẳng làm cho người khác thăng tiến được. Vì các pháp không có chút thật, chỉ giả lập các danh và tướng, vì vậy, đại Bồ tát khi hành Bát nhã lấy vô tướng làm phương tiện, có thể viên mãn Bát Nhã Ba-la-mật, lấy vô tướng làm phương tiện có thể viên mãn tịnh lự, tinh tấn, an nhẫn, tịnh giới, bố thí; lấy vô tướng làm phương tiện có thể viên mãn tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, 37 pháp trợ đạo, 18 pháp bất cộng, Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí; lấy vô tướng làm phương tiện, đối với các thiện pháp tự viên mãn rồi, cũng có thể khiến người khác viên mãn thiện pháp.

Này Thiện Hiện! Như thế, vì tất cả pháp không có chút thật, chỉ giả lập các danh và tướng. Các đại Bồ tát đối với chúng, chẳng khởi điên đảo chấp trước, thì đối với các thiện pháp, có thể tự thăng tiến, cũng có thể khiến người khác thăng tiến.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu các pháp có tướng chân thật dầu chỉ bằng đầu sợi lông, thì đại Bồ tát khi hành Bát nhã đối với tất cả pháp đâu biết tất cả pháp đều vô tướng, vô niệm, vô tác ý mà có thể chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao, an lập hữu tình ở pháp vô lậu. Vì sao? Vì tất cả pháp không thật có, nên đại Bồ tát mới biết rõ các pháp vô lậu đều vô tướng, vô niệm, vô tác ý.

Này Thiện Hiện! Như thế, Đại Bồ tát khi hành Bát nhã thậm thâm, an lập hữu tình ở pháp vô lậu, mới nói là lợi tha chơn thật.

Pháp Thanh văn, pháp Duyên giác, Bồ tát, Như Lai cùng với pháp tánh vô lậu, vô tướng… không khác nhau; các pháp thế gian cùng với pháp tánh vô lậu, vô tướng… cũng không khác nhau. Tất cả pháp chính là pháp tánh vô lậu, vô tướng, vô niệm, vô tác ý. Do nhân duyên này, nên biết tất cả pháp đều là vô tướng, vô niệm, vô tác ý.

Đại Bồ tát khi học tất cả pháp đều là vô tướng, vô niệm, vô tác ý có thể tăng ích sở hành các thiện pháp. Đó là lục Ba-la-mật, hoặc tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, 37 pháp trợ đạo, 18 pháp bất cộng… Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí. Tất cả các Phật pháp như thế đều do học vô tướng, vô niệm, vô tác ý mà được tăng ích. Vì sao? Vì đại Bồ tát, trừ pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện không có pháp môn quan trọng nào khác cần phải học. Vì ba pháp môn giải thoát có thể thu nhiếp tất cả pháp diệu thiện. Pháp môn giải thoát không quán tất cả pháp tự tướng đều không; pháp môn giải thoát vô tướng quán tất cả pháp xa lìa các tướng; pháp môn giải thoát vô nguyện quán tất cả pháp xa lìa sở nguyện. Ba pháp môn này có thể thu nhiếp tất cả thiện pháp thù thắng, lìa ba pháp môn này các thiện pháp chẳng thể sanh trưởng được.

Nếu đại Bồ tát có thể học ba pháp môn giải thoát như thế, thì có thể học năm uẩn, cũng có thể học mười hai xứ cũng có thể học mười tám giới, cũng có thể học sáu giới(2); cũng có thể học bốn Thánh đế, cũng có thể học bốn duyên; cũng có thể học các pháp từ duyên sanh ra; cũng có thể học mười hai duyên khởi; cũng có thể học 18 pháp không; cũng có thể học chơn như, pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, bình đẳng tánh, ly sanh tánh, pháp định, pháp trụ, thật tế, cảnh giới hư không, cảnh giới bất tư nghì; cũng có thể học mười pháp Ba-la-mật; cũng có thể học Bồ tát thập địa; cũng có thể học 37 pháp trợ đạo; cũng có thể học bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc; cũng có thể học tám giải thoát, tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ; cũng có thể học tất cả pháp môn Đà la ni, tất cả pháp môn Tam ma địa; cũng có thể học năm loại mắt, sáu phép thần thông; cũng có thể học Phật mười lực, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng; cũng có thể học pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả; cũng có thể học Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí; cũng có thể học nghiêm tịnh cõi Phật, thành thục hữu tình; cũng có thể học vô lượng vô biên các Phật pháp khác.

 

(Phải như thật biết tất cả pháp Phật như thế nào?)

 

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Đại Bồ Tát hành Bát nhã có thể học tướng ngũ ấm như thế nào?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Đại Bồ Tát hành Bát nhã như thật biết sắc, như thật biết thọ, tưởng, hành, thức là có thể học tướng năm uẩn.

Này Thiện Hiện! Đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã như thật biết sắc như thế nào?

Này Thiện Hiện! Nếu đại Bồ tát như thật biết tướng của sắc, như thật biết sự sanh của sắc, như thật biết sự diệt của sắc, như thật biết sắc như thì gọi là như thật biết sắc.

- Này Thiện Hiện! Thế nào là biết tướng của sắc?

Này Thiện Hiện! Đại Bồ tát như thật biết sắc rốt ráo có lỗ hổng, rốt ráo có chỗ hở, giống như bọt nước, tánh chẳng bền chắc thì đó gọi là như thật biết tướng của sắc.

- Này Thiện Hiện! Thế nào là biết sắc sanh diệt?

Này Thiện Hiện! Đại Bồ tát như thật biết sắc không từ đâu đến, không đi về đâu; tuy không đến, không đi nhưng tương ưng với pháp sanh, thì đó gọi là như thật biết sự sanh của sắc. Đại Bồ tát như thật biết sắc không từ đâu đến, không đi về đâu; tuy không đến, không đi, nhưng tương ưng với pháp diệt, thì đó gọi là như thật biết sự diệt của sắc.

- Này Thiện Hiện! Thế nào là biết sắc như?

Này Thiện Hiện! Như thật biết sắc như ấy không sanh, không diệt, không đến, không đi, không tăng, không giảm, không cấu, không tịnh. Như đó là nói như thật chẳng hư. Như đó trước sau và chặng giữa cũng vậy, thường chẳng đổi khác. Đó là biết sắc như.

- Này Thiện Hiện! Đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã như thật biết thọ như thế nào?

Này Thiện Hiện! Nếu đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã như thật biết tướng thọ, như thật biết sự sanh diệt của thọ, như thật biết thọ như, thì gọi là như thật biết thọ. Đại Bồ tát như thật biết thọ rốt ráo như ung nhọt, rốt ráo như mũi tên, giống như bọt nổi, hư ngụy chẳng trụ, chóng khởi chóng diệt, thì đó gọi là như thật biết tướng của thọ. Đại Bồ tát như thật biết thọ không từ đâu lại, đi không chỗ đến. Đó là biết thọ sanh diệt. Như thật biết thọ như ấy không sanh, không diệt, không đến, không đi, không nhiễm, không tịnh, không tăng, không giảm, tánh của nó thường như, chẳng hư vọng, chẳng đổi khác. Đó là biết thọ như.

- Này Thiện Hiện! Đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã như thật biết tưởng như thế nào?

Này Thiện Hiện! Nếu đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, như thật biết tướng của tưởng, như thật biết sự sanh diệt của tưởng, như thật biết tưởng như, thì như vậy là như thật biết tưởng. Như thật biết tưởng giống như sóng nắng, chẳng thể nắm bắt được, do hư vọng khát ái mà khởi tưởng ấy, giả bày đặt có, giả phát ra lời nói, thì đó gọi là như thật biết tướng của tưởng. Tướng ấy không từ đâu lại, đi không chỗ đến. Đó là biết tưởng sanh diệt. Như thật biết tưởng như không sanh, không diệt, không đến, không đi, không nhiễm, không tịnh, không tăng, không giảm, tánh của nó thường như, chẳng hư vọng, chẳng đổi khác. Đó là biết tưởng như.

- Này Thiện Hiện! Đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã như thật biết hành như thế nào?

Này Thiện Hiện! Nếu đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã như thật biết tướng của hành, như thật biết sự sanh diệt của hành, như thật biết hành như thì như vậy là như thật biết hành. Như thật biết về hành như cây chuối lột bỏ từng bẹ thì không còn gì cả. Minh, vô minh đều do các duyên tạo thành, nghiệp phiền não đều do các duyên tạo thành giả lập, thì đó gọi là như thật biết tướng của hành. Các hành sanh khởi không từ đâu lại, đi không chỗ đến. Đó là biết hành sanh diệt. Hành như ấy không sanh, không diệt, không đến, không đi, không nhiễm, không tịnh, không tăng, không giảm, tánh của nó thường như, chẳng hư vọng, chẳng đổi khác. Đó là biết hành như.

- Này Thiện Hiện! Đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã như thật biết thức như thế nào?

Này Thiện Hiện! Nếu đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã như thật biết tướng của thức, như thật biết sự sanh diệt của thức, như thật biết thức như thì như vậy gọi là như thật biết thức. Như thật biết thức giống như trò huyễn, do các duyên hòa hợp, giả an lập là có, thật chẳng thể nắm bắt được, giống như nhà ảo thuật hoặc đệ tử của ông, ở ngã tư đường, biến hóa làm bốn loại quân lính, đó là quân voi, quân ngựa, quân xe, quân bộ; hoặc lại biến hóa làm các hình sắc khác, tướng tuy như có, nhưng kỳ thực là không. Thức cũng như thế, thật chẳng thể nắm bắt được, thì đó gọi là như thật biết tướng của thức. Thức ấy lúc phát sanh không từ đâu lại, lúc diệt không chỗ đến. Đó là biết thức sanh diệt. Thức như ấy không sanh, không diệt, không đến, không đi, không nhiễm, không tịnh, không tăng, không giảm, tánh của nó thường như, chẳng hư vọng, chẳng đổi khác. Đó là biết thức như.

Này Thiện Hiện! Nếu đại Bồ tát khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, như thật biết sắc và tự tánh của sắc là không, như thật biết thọ và tự tánh của thọ là không, như thật biết tưởng, hành, thức và tự tánh của tưởng, hành, thức là không, thì đó là đại Bồ tát khi hành Bát Nhã Ba-la-mật, có thể học năm uẩn.

                                                           

Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Đại Bồ Tát hành Bát nhã có thể học mười hai xứ như thế nào?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Mười hai xứ là gồm lục căn (nội xứ: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và lục trần (ngoại xứ: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Đại Bồ tát tu hành Bát nhã như thật biết nội xứ không và không tự tánh; biết ngoại xứ cũng không và không có tự tánh, thì đại Bồ tát có thể học mười hai xứ.

 

Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã có thể học 18 giới như thế nào?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Mười tám giới gồm lục căn, lục trần, lục thức. Đại Bồ tát như thật biết lục căn không và không tự tánh; lục trần cũng không và không tự tánh; lục thức cũng không và không tự tánh, thì đại Bồ tát có thể học mười tám giới.

 

Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Đại Bồ tát, khi tu hành Bát nhã có thể học sáu giới (lục đại chủng) như thế nào?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Nếu đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, như thật biết địa giới và tự tánh của địa giới là không, như thật biết thủy, hỏa, phong, không, thức giới và tự tánh của chúng là không, thì đó là đại Bồ tát có thể học sáu giới.

 

Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, có thể học bốn Thánh đế như thế nào?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Nếu đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, như thật biết Thánh đế khổ, như thật biết Thánh đế tập, diệt, đạo, thì đại Bồ tát có thể học bốn Thánh đế.

Đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, như thật biết khổ là tướng bức bách, tự tánh vốn không, xa lìa hai pháp, là sự thật của bậc Thánh: Khổ tức là Bồ đề, Bồ đề tức là khổ, không hai, không khác, chỉ có bậc chân Thánh có thể biết như thật, thì đó gọi là như thật biết Thánh đế khổ.

Như thật biết Thánh đế tập: như thật biết tập là tướng sanh khởi, tự tánh vốn không; Thánh đế diệt: như thật biết diệt là tướng tịch tịnh, tự tánh vốn không; Thánh đế đạo: như thật biết đạo là tướng xuất ly, tự tánh vốn không. Nếu biết như vậy thì đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, có thể học bốn Thánh đế.

 

Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, có thể học bốn duyên như thế nào?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Nếu đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã như thật biết nhân duyên, như thật biết đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên(3), thì đó gọi là có thể học bốn duyên.

Thiện Hiện! Thế nào là biết nhân duyên, đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên?

Này Thiện Hiện! Nếu đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã như thật biết nhân duyên là tướng chủng tử(4), tự tánh vốn không, xa lìa hai pháp thì đó gọi là như thật biết nhân duyên. Nếu đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, như thật biết đẳng vô gián duyên là tướng khai phát, tự tánh vốn không, xa lìa hai pháp, thì đó gọi là như thật biết đẳng vô gián duyên. Nếu đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, như thật biết sở duyên duyên là tướng trụ trì, tự tánh vốn không, xa lìa hai pháp, thì đó gọi là như thật biết sở duyên duyên. Nếu đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, như thật biết tăng thượng duyên là tướng chẳng ngại, tự tánh vốn không, xa lìa hai pháp, thì đó gọi là như thật biết tăng thượng duyên.

 

Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, có thể học các pháp từ duyên sanh ra như thế nào?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Nếu đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, như thật biết tất cả pháp từ duyên sanh ra mà chẳng sanh chẳng diệt, chẳng đoạn chẳng thường, chẳng một chẳng khác, chẳng đến chẳng đi, dứt các hý luận, bản tánh vắng lặng thì đại Bồ tát có thể học các pháp từ duyên sanh ra.

 

Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, có thể học mười hai duyên khởi như thế nào?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Nếu đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, như thật biết vô minh là không sanh, không diệt, không nhiễm, không tịnh, tự tánh vốn không, xa lìa hai pháp, như thật biết hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não không sanh, không diệt, không nhiễm, không tịnh, tự tánh vốn không, xa lìa hai pháp thì đại Bồ tát có thể học mười hai duyên khởi.

 

Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, có thể học 18 pháp không như thế nào?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Nếu đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, như thật biết pháp không nội chẳng có tự tánh, chẳng thể nắm bắt được mà có thể an trụ; như thật biết pháp không ngoại cho đến pháp không không tánh tự tánh chẳng có tự tánh, chẳng thể nắm bắt được mà có thể an trụ thì đại Bồ tát có thể học 18 pháp không.

 

Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, có thể học chơn như, pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, pháp định, pháp trụ, thật tế, cảnh giới hư không, cảnh giới bất tư nghì như thế nào?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Nếu đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, như thật biết chơn như không hý luận, không phân biệt mà có thể an trụ; như thật biết pháp giới cho đến cảnh giới bất tư nghì không hý luận, không phân biệt mà có thể an trụ, thì đại Bồ tát có thể học chơn như cho đến cảnh giới bất tư nghì. (Q.384, ĐBN)

 

Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, có thể học thập Ba-la-mật như thế nào?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Nếu đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, như thật biết bố thí Ba-la-mật không tăng, không giảm, không nhiễm, không tịnh, không có tự tánh, chẳng thể nắm bắt được mà có thể tu tập; như thật biết tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát nhã, phương tiện thiện xảo, diệu nguyện, lực, trí Ba-la-mật không tăng, không giảm, không nhiễm, không tịnh, không có tự tánh, chẳng thể nắm bắt được mà có thể tu tập, thì đại Bồ tát có thể học bố thí cho đến trí Ba-la-mật.

 

Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, có thể học thập địa Bồ tát như thế nào?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Nếu đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, như thật biết bậc Cực hỷ không tăng, không giảm, không nhiễm, không tịnh, không có tự tánh, chẳng thể nắm bắt được mà có thể tu tập; như thật biết bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân không tăng, không giảm, không nhiễm, không tịnh, không có tự tánh, chẳng thể nắm bắt được mà có thể tu tập, thì đại Bồ tát có thể học thập địa Bồ tát.

 

(…). Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, có thể học ba mươi bảy pháp trợ đạo? Có thể học bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc? Có thể học tám giải thoát, tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ? Tất cả pháp môn Đà la ni, tất cả pháp môn Tam ma địa? Năm loại mắt, sáu phép thần thông? Phật Mười lực, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, mười tám pháp Phật bất cộng? Đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả? Pháp không quên mất, tánh luôn luôn xả? Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí? Nghiêm tịnh cõi Phật, thành thục hữu tình? Vô lượng, vô biên các Phật pháp khác như thế nào?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Nếu đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, như thật biết tất cả các pháp nói trên hoặc vô lượng vô biên các Phật pháp khác không tăng, không giảm, không nhiễm, không tịnh, không có tự tánh, chẳng thể nắm bắt được mà có thể tu tập, thì này Thiện Hiện! Đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, có thể học tất cả các pháp trên và vô lượng vô biên các Phật pháp khác.

 

(Tất cả pháp là pháp giới. Tất cả pháp đều nhập vào pháp giới:

Trong chân pháp giới không có phân biệt)

 

Tất cả pháp là pháp giới. Tất cả pháp đều nhập vào pháp giới. Như Lai dù có ra đời, hoặc chẳng ra đời, các pháp vẫn như vậy, đều nhập pháp giới, không có tướng sai biệt, chẳng phải do Phật thuyết. Vì sao? Vì tất cả pháp thiện hoặc pháp phi thiện, hoặc pháp hữu ký hoặc pháp vô ký, hoặc pháp hữu lậu hoặc pháp vô lậu, hoặc pháp thế gian hoặc pháp xuất thế gian, hoặc pháp hữu vi hoặc pháp vô vi, đều nhập pháp giới tánh không, vô tướng, vô vi. Cho nên, đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, muốn học pháp giới, nên học tất cả pháp. Nếu học tất cả pháp tức là học pháp giới. Nếu phân biệt pháp tức là phá hoại pháp. (Q. 385, ĐBN)

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Nếu tất cả pháp đều nhập pháp giới, không hai, không khác, thì tại sao đại Bồ tát phải học pháp này hay pháp khác? Phải học lục Ba-la-mật, học tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, học 37 pháp trợ đạo, 18 pháp bất cộng, Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết tướng trí? Cũng học đạo Bồ tát, quả vị Giác ngộ tối cao? Tại sao đại Bồ tát phải học thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật? Học như thế rồi, đắc Nhất thiết trí trí, biết tất cả pháp, tất cả chủng tướng?

Phật dạy:

- Này Thiện Hiện! Chẳng phải trong pháp giới có các thứ phân biệt như thế. Đại Bồ tát không do các thứ phân biệt này mà hành điên đảo, trong cái không hý luận, khởi các hý luận. Vì sao? Vì trong chơn pháp giới hoàn toàn không có phân biệt hý luận.

Pháp giới chẳng phải sắc, cũng chẳng lìa sắc; pháp giới chẳng phải thọ, tưởng, hành, thức, cũng chẳng lìa thọ, tưởng, hành, thức. Pháp giới tức là sắc, sắc tức là pháp giới; pháp giới tức là thọ, tưởng, hành, thức; thọ, tưởng, hành, thức tức là pháp giới. Pháp giới chẳng phải 12 xứ, cũng chẳng lìa 12 xứ;  pháp giới tức là 12 xứ, 12 xứ chính là pháp giới. Đối với 18 giới, tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, 37 pháp trợ đạo, 18 pháp bất cộng, Nhất thiết trí, quả vị Giác ngộ tối cao… cũng lại như thế.

Trong chơn pháp giới không có tất cả các thứ phân biệt hý luận.

Sắc chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa sắc riêng có pháp giới; thọ, tưởng, hành, thức chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa thọ, tưởng, hành, thức riêng có pháp giới. Sắc tức là pháp giới, pháp giới tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức tức là pháp giới, pháp giới tức là thọ, tưởng, hành, thức v.v…

Như vậy có thể nói: Pháp thế gian chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa pháp thế gian riêng có pháp giới; pháp xuất thế gian chẳng phải pháp giới, cũng chẳng lìa pháp xuất thế gian riêng có pháp giới. Pháp thế gian tức là pháp giới, pháp giới tức là pháp thế gian, pháp xuất thế gian tức là pháp giới, pháp giới tức là pháp xuất thế gian. (Q.386, ĐBN)

 

Nên Phật nói: “Đại Bồ tát tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, nếu thấy có pháp lìa pháp giới thì người đó chẳng thể đạt sở cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ đề!

Này Thiện Hiện! Đại Bồ tát khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật biết tất cả pháp tức là pháp giới, dùng pháp không danh tướng, phương tiện thiện xảo, vì các hữu tình mượn danh tướng mà nói: Đây là sắc, đây là thọ, tưởng, hành, thức; đây là 12 xứ, 18 giới; đây là tứ thiền, tứ vô lượng, tứ định vô sắc, 18 pháp bất cộng; đây là Nhất thiết trí, Đạo tướng trí, Nhất thiết chủng trí; đây là Bồ tát đạo, đây là quả vị Giác ngộ tối cao.

Này Thiện Hiện! Như nhà ảo thuật hoặc đệ tử của ông ta, cầm một vật nhỏ, ở trước mọi người, biến thành các loại hình sắc khác nhau, hoặc biến thành nam nữ hoặc voi, ngựa, trâu, bò, dê… hoặc biến thành thành ấp, làng mạc, vườn tược, ao hồ, đủ các cảnh đẹp, hoặc hóa làm y phục, thức ăn, thức uống, phòng xá, đồ nằm, hoặc hóa hiện cảnh giới của chư Thiên, hoặc hóa hiện làm Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát phát tâm tu các Thánh đạo v.v…

Này Thiện Hiện! Nhà ảo thuật, hoặc đệ tử của y, vì dối gạt người khác, nên ở trước mặt mọi người, hóa làm các trò huyễn hóa này, nhưng trong đám người những nam nữ lớn nhỏ vô trí thấy việc ấy rồi, đều kinh ngạc khen ngợi. Trong  khi người trí thấy việc này rồi, liền nghĩ: Thật kỳ dị! Tại sao người này có thể hóa hiện được như vậy? Trong đó không có gì là thật, có thể nắm bắt được, lại khiến cho mọi người mê lầm vui mừng. Đối với sự vật không thật, khởi tưởng là vật có thật.

Này Thiện Hiện! Đại Bồ tát cũng giống như thế, khi tu hành Bát Nhã Ba-la-mật, tuy chẳng thấy có pháp nào lìa chơn pháp giới, cũng chẳng thấy pháp giới lìa các pháp, cũng chẳng thấy có hữu tình và sự an lập của chúng hữu tình thật sự có thể nắm bắt được, nhưng có thể dùng các loại phương tiện thiện xảo, tự hành bố thí, cũng khuyên người hành bố thí, hoan hỷ khen ngợi người hành bố thí; tự hành tịnh giới, cũng khuyên người hành tịnh giới, hoan hỷ khen ngợi người hành tịnh giới…, cho đến tự hành Bát nhã, cũng khuyên người hành Bát nhã, hoan hkhen ngợi người hành Bát nhã; tự thọ trì mười nghiệp thiện đạo, cũng khuyên người thọ trì mười nghiệp thiện đạo, hoan hỷ khen ngợi người thọ trì mười nghiệp thiện đạo; tự thọ trì tất cả pháp Phật nói chung, cũng khuyên người thọ trì tất cả pháp Phật, hoan hỷ khen ngợi người thọ trì tất cả pháp Phật.

Này Thiện Hiện! Nếu chơn pháp giới, khoảng trước, khoảng giữa, khoảng sau có sai khác thì đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã, chẳng có thể dùng phương tiện thiện xảo, thuyết chơn pháp giới, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, tu Bồ tát hạnh, chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao; vì chơn pháp giới, khoảng trước, khoảng giữa, khoảng sau thường không sai khác. Cho nên, đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã có thể phương tiện thiện xảo thuyết chơn pháp giới, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, tu Bồ tát hạnh, chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao". (Q.386, ĐBN)

 

Thích nghĩa:

(1). Thật tướng hay thực tướng: (實相) Phạm: Dharmatà bhùta-tathatà. Vốn có nghĩa là bản thể, thực thể, chân tướng, bản tính...; từ đó được khai triển để chỉ cho thể tướng chơn thực bất hư của tất cả muôn pháp, hoặc lý pháp chân thực, lý bất biến, chơn như, pháp tính... Đây là nội dung giác ngộ của đức Phật, hàm ý là chơn thực bản nhiên; tất cả danh từ: Nhất như, thực tính, thực tế, chân tính, Niết bàn, vô vi, vô tướng... đều là tên khác của Thật tướng. Vì hết thảy hiện tượng mà thế tục nhận biết đều là giả tướng, chỉ khi nào thoát khỏi sự nhận biết của thế tục mới hiển bày được cái tướng trạng chơn thực thường trụ bất biến của các pháp, cho nên gọi là Thực tướng. Cứ theo Kinh Đại Bát Niết Bàn quyển 36 (bản Nam) và luận Đại Trí Độ quyển 32 thì tất cả tướng sai biệt của các pháp (như tướng cứng của đất, tướng ướt của nước, tướng nóng của lửa) đều là hư giả, tất cả đều có thể phá hoại; trái lại, Thực tướng mà trí vô lậu chứng được thì lìa các tướng hư giả và bình đẳng nhất như. Nếu còn vọng tâm thì không thể nào thấy được thực tướng. Trong các dịch phẩm của Ngài Cưu Ma La Thập, Thực tướng cũng bao hàm ý nghĩa Không, từ Ngài Long Th về sau thì Thực tướng được xem là nội dung Chân đế của Phật giáo. Còn thuyết Chư pháp thực tướng là tiêu biểu (tức pháp ấn) của Phật giáo Đại thừa cũng chính là đối lại với Tam pháp ấn (Vô thường, Vô ngã, Niết bàn) của Phật giáo Tiểu thừa mà được thành lập và được gọi là Thực tướng ấn. Tướng trạng chơn thực của tất cả các pháp gọi là Chư pháp thực tướng, tuy nội dung chư pháp thực tướng tùy theo các tông mà có khác nhau, nhưng phán đoán theo lập trường của mỗi tông, bất cứ pháp nào hễ được xem là tối hậu và rốt ráo thì đều dùng từ Thực tướng để biểu thị. Tướng trạng của thực tướng thông thường cho rằng không thể dùng lời nói để diễn đạt, hay tâm trí để suy lường được. Từ sự phát triển của lập trường này, đến tông Thiên Thai thì lấy việc phát hiện ra tự ngã hoàn toàn nhất, gọi là Chư pháp thực tướng, cũng tức là dứt bặt sự sai khác giữa bản chất (Lý) và hiện thực (Sự), một thế giới trong đó tất cả các pháp hoàn toàn dung hợp, điều hòa, phàm phu trong cõi mê cũng có khả năng thể hiện cảnh giới Phật giác ngộ cao siêu, nêu tỏ tinh thần hiện tượng tức thực tại, sai biệt tức bình đẳng. Thiền tông cho rằng Chư pháp thực tướng là sự hiện thành của Phật Tổ hoặc bản lai diện mục; tông Tịnh độ thì lấy danh hiệu của Phật A di đà làm Thực tướng pháp; Mật tông thì có thuyết Thanh tự thực tướng. Còn tông Nhật liên của Nhật bản thì giải thích thực tướng là đề mục của Bản môn, dẫn thực tướng của chơn như đến hiện thực, bàn về sự dung hợp tương tức của cả 2, đây chính là từ mặt lý luận mà nói rõ thái độ khẳng định hiện thực của Phật giáo Đại thừa. [X. Trung luận Q.3; Đại Bát Niết Bàn Kinh sớ Q.33; Chú Duy Ma Cật Kinh Q.3; Đại Nhật Kinh sớ Q.1; Vãng Sinh Luận chú Q. hạ; Duy Ma Kinh nghĩa kí Q.4, phần cuối; Pháp Hoa Kinh văn cú ký Q.4 trung] - Phật Quang tự điển. Đã có thích nghĩa rồi.

Nói gọn lại thật tướng: Bản thể tuyệt đối (trái với hư vọng), là pháp thân (dhamakàya) hay chơn như (bhùtatathatà) cũng có nghĩa là nhất như, nhất tướng chỗ gọi là vô tướng, là Niết bàn, là chân không, là thật tế. Nó cũng là Bản thể Phật tánh cùng khắp không gian thời gian. Các pháp như thế chẳng do ai tạo tác, chân thật bất hư, nên gọi là Thật tướng.

(2). Sáu giới, từ giới có lẽ hơi "lạ tai". Giới ở đây không có nghĩa là sáu căn hợp với sáu trần và sáu thức thành mười tám giới, giới đây cũng không có nghĩa là cảnh giới như 10 cảnh giới của chúng sanh từ địa ngục đến Phật. Giới ở đây có nghĩa là chủng loại, ý nói là “lục giới” hay còn gọi là lục đại chủng: Địa đại chủng (địa giới), thủy đại chủng (thủy giới), phong đại chủng (phong giới), hỏa đại chủng (hỏa giới), không đại chủng (không giới) và thức đại chủng (thức giới). Chúng ta sẽ còn gặp từ “giới” này rất nhiều lần trong ĐBN.

(3). Nhân duyên, đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên: Giải thích của H.T. Thích thiện Hoa trong Duy Thức Học (nhà xuất bản Tôn Giáo):

1- Nhân duyên (cái duyên thuộc về duyên): Tất cả các pháp, từ chủng tử khởi ra hiện hành, hoặc từ hiện hành huân trở lại thành chủng tử, đều do chủng tử làm nhân, rồi trực tiếp sanh ra quả. Như hạt giống bắp sanh ra cây bắp, hạt giống đậu sanh ra đậu v.v… gọi hạt giống đó là “Nhân duyên”.

2- Đẳng vô gián duyên (cái duyên bình đẳng tương tục không gián đọan). Đây là nói tám Thức hiện hành cùng với các Tâm sở, mỗi niệm sanh diệt luôn luôn không gián đoạn. Hình trạng sanh diệt của nó: Khi niệm trước vừa diệt, thì nó tránh đường để dẫn dắt niệm sau sanh ra. Vì sanh diệt tương tục như vậy, trước sau bình đẳng, không có vật gì chen vào làm gián đoạn, nên gọi là “Đẳng vô gián duyên”.

3- Sở duyên duyên (cái duyên thuộc về sở duyên). Nói tóm gọn là mỗi Thức, khi kiến phần duyên qua tướng phần, thì gọi kiến phần là “năng duyên”, tướng phần là “sở duyên”. Hiệp lại hai phần này, kêu là “sở duyên duyên”. Nếu y theo sách vở Duy thức nói, thì vật gì có thật thể, như Tâm vương và  Tâm sở, nó cập hợp cái tướng phần của nó, có sở lự (bị phân biệt) và nơi gá nương (sở thác) để phát sanh, mới gọi là “sở duyên duyên”.

Như Nhãn thức duyên (thấy) cái hoa giữa hư không; tuy có cập tướng phần của hoa, như thế cũng gọi là có “sở lự”. Nhưng cái hoa giữa hư không không có “thật thể”, nên không có chỗ gá nương để cho Nhãn thức phát sanh (không có sở thác); cho nên có thể gọi là “duyên”mà không thể gọi là “Sở duyên”.

Trái lại, như cái gương chiếu cảnh vật, trong gương có bóng cảnh vật; như thế là có cập cái “tướng phần” và cũng có thể gá nương nơi đó (tướng phần) phát sanh phân biệt (có sở thác). Nhưng cái gương không phân biệt (duyên lự) nên không thể phân biệt được vật gì cả. Bởi thế nên có thể gọi là “sở duyên”, mà không thể gọi là “duyên”. Phải đủ hai nghĩa: 1. Bị phân biệt (sở lự) và 2. Nơi gá nương (sở thác) mới kêu là “Sở duyên duyên”.

Nay nói một thí dụ để chỉ rõ “Sở duyên duyên”. Như cái bình hoa trên bàn đây là vật có thật thể; khi Nhãn thức xem cái bình hoa, thì Tâm vương và Tâm sở của Nhãn thức đều có cập cái bình hoa, như thế kêu là thấy bình hoa. Khi hình tướng của bình hoa, nó làm chỗ cho Nhãn thức nương nơi đó mà phát sanh phân biệt và cũng làm cái chỗ phân biệt (sở lự) của Nhãn thức; nên gọi cái bình hoa này là “Sở duyên duyên”của Nhãn thức.

4- Tăng thượng duyên: Thường những pháp có thật thể, không thuộc về ba duyên trước, thì thuộc về Tăng thượng duyên. Tăng thượng duyên là những duyên phụ trợ thêm, có hai thứ:

 - Thuận tăng thượng duyên: Như lúa mạ v.v… từ hạt giống của nó sanh ra, lại nhờ phân, nước v.v… giúp thêm làm cho lúa mạ kia được tươi tốt, thì phân nước đó là “thuận tăng thượng duyên” của lúa mạ.

- Nghịch tăng thượng duyên: Như nắng hạn nước khô, làm cho lúa mạ không lớn nổi, thì nắng hạn nước khô là “nghịch tăng thượng duyên”của lúa mạ.

Lưu ý: Trong phẩm "Học Quán", quyển 3 cho đến phần đầu quyển 4, Hội thứ I, ĐBN chúng tôi có trích dẫn thích nghĩa bốn duyên theo Từ điển Phật Quang rồi. Tuy nhiên, ở đây chúng tôi lại trích dẫn thích nghĩa bốn duyên theo Duy Thức Học một lần nữa. Đây không phải là một việc làm thừa thãà, mà mục đích của chúng tôi giúp quý vị nhìn vấn đề dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

(4). Chủng tử: Nói nôm na là "hạt giống" để duy trì thân căn và khí thế trong thời gian như hạt giống của ngũ cốc: lúa, mè, đậu v.v... Nhờ hột giống này mà thực vật duy trì mãi trong thế gian. Người ta gọi hột giống này là ngoại chủng. Theo Duy Thức học, cũng như hạt giống của thực vật, hạt giống động vật cũng được gọi là chủng tử, chứa trong A lại da thức gọi là nội chủng, có đủ khả năng sản sinh hết thảy mọi hiện tượng. Chủng tử duy trì thân căn và khí thế của con người, được tàng trữ, huân tập trong Tàng Nha thức (một từ khác của A lại da thức) có thể là thiện hay ác, xấu hay tốt, hữu vi hay vô vi, hữu lậu hay vô lậu…, và trở thành hiện hành trong kiếp này hay kiếp khác. Chủng tử có thể coi là một năng lượng, nói theo hiện đại, đi theo thần thức của một người quá vãng, nhập vào thai nhi với tất cả quá khứ xấu tốt, thiện ác... tiếp nối sự sống cho một cuộc du hành mới. Nghiệp quả là kết quả của các chủng tử thiện ác, xấu tốt ấy. Đó là một lối giải thích tại sao nghiệp quả lại có thể lưu hành từ đời này sang đời khác!

 

Lược giải:

 

1. Thật tướng:

 

Bắt đầu học Bát nhã, chúng ta thấy Phật nói về các pháp như thế nào? Các pháp là duyên hợp giả có, không thật, không có tự tánh, lấy vô tánh làm tự tánh; hơn thế nữa Phật còn bảo các pháp như huyễn, như hóa, như mộng... ; kế đến Phật bảo các pháp là như, là như như, chúng như vậy là như vậy, chẳng lúc nào chẳng như; người có cái nhìn như vậy sẽ chứng được chân như thật tướng của các pháp. Vì sao? Vì thấy các pháp như, chứng được như tánh của vạn pháp nên tâm đạt được bình đẳng và chính cái bình đẳng này đưa đến thanh tịnh. Ở chỗ tịch tĩnh (an nhiên tịch lặng, có nghĩa là an lạc) này, không phải là không còn gì cả mà ở đây cánh cửa giác ngộ hé mở và chỉ một sát na tương ưng với diệu huệ, thức biến thành trí, Bát nhã liền hiện tiền.

Phẩm này Phật thuyết về cái thấy bình đẳng đối với các pháp, nghĩa là trình bày cái thấy trong giờ phút chứng ngộ qua một diễn trình trông như có thứ lớp như trên. Nhưng thật ra trong giờ chứng ngộ khi ánh bình minh chiếu vào cội Bồ đề sau 48 ngày thiền định, Phật đạt được tam minh, ngũ nhãn, lục thần thông và kết quả là chứng Bát nhã trí. Trí này chỉ xuất hiện trải qua bao a tăng kỳ kiếp tu Bồ tát đạo, không phải chỉ qua sự quán xét vạn hữu một cách giản dị theo một diễn trình nào cả.

Trọng tâm của phẩm này thật sự chỉ là tóm tắt và đúc kết 400 quyển trong số 600 quyển Đại-Bát-Nhã của Hội thứ I: Khi con người dùng cảm quan và ý thức soi rọi vật thể trần gian trên danh và tướng thì không khỏi trở ngại là do phân biệt chấp trước. Phân biệt chấp trước những gì? Chấp trước danh và tướng. Có chấp trước là có nghiêng ngã, thiên lệch làm sao chứng tánh. Phật bảo: "Danh là phân biệt, do vọng tưởng sanh khởi, chỉ do các duyên hòa hợp giả có, chẳng nên chấp trước; danh không thật có, tự tánh đều không".  (...)"Vì các pháp không có chút thật, chỉ giả lập các danh và tướng, vì vậy, đại Bồ tát khi hành Bát nhã lấy vô tướng làm phương tiện, có thể viên mãn Bát Nhã Ba-la-mật và tất cả các pháp khác".

Khi thấy các tướng là vô tướng, vô tướng là không có tướng tức thấy các pháp là không, là như như, là bình đẳng. Bình đẳng này Phật gọi là tất cánh tịnh. Tất cánh tịnh là tuyệt đối thanh tịnh vì không còn tác ý, không sở hành nên cũng nói là không, vô niệm, vô tác ý chỗ cao nhất của Bát nhã. Kinh nói: "Đấy là khéo đạt thật tướng các pháp, nghĩa là đối pháp tánh không sở phân biệt".

Người tu đạt đến cảnh giới này là đạt đến cái tột cùng của biên tế thực tại của tất cả pháp, nói khác là chứng được thể tánh thường hằng bất biến của vạn hữu nên gọi là chân như, thật tướng, pháp giới, pháp tánh, bất hư vọng tánh, bất biến dị tánh, hư không giới, bất tư nghì giới, pháp định, pháp trụ, thất tế v.v...

Đây là một đoạn Kinh cốt tủy của Bát nhã. Vì vậy, mà chúng tôi thường lưu ý người nào ngộ nhập được chân như, pháp giới, pháp tánh, pháp trụ, thật tế v.v... thì được xem là Giác ngộ. Vậy, phải đọc và nghiền ngẫm đoạn Kinh này.

 

2. Tất cả pháp là pháp giới. Tất cả pháp đều nhập vào pháp giới:

Không phân biệt.

 

Cảnh giới cuối cùng của tất cả pháp là gì, nếu không phải là Tánh không, nếu không phải là Chân như, Thực tế hay Niết bàn? Nếu không thể vượt qua thế giới lý luận, phân tích, so đo của cảm quan và ý thức thường tục thì không thể chứng nhập bất cứ tri giác nào thuộc về giác ngộ. Và chỉ có tri giác thực chứng, loại bỏ được nhị nguyên đối đãi mới hy vọng tìm thấy ánh sáng của cảnh giới cuối cùng đó.

Đó chính là lý do tại sao các nhà Đại thừa từ chối, không tìm gốc rễ của mình trong thế giới của uẩn xứ giới mà lại tìm trong cảnh giới tuyệt đối nào khác? Thế giới của uẩn xứ giới là thế giới thiên sai vạn biệt, vô thường, biến hoại, ngược với thế giới tuyệt đối nhất thể, thường hằng, bất biến. Nói như vậy, có nghĩa là vẫn còn so đo phân biệt! Vì vẫn còn thấy biên giới hai đầu có và không, tương đối và tuyệt đối của nhị nguyên. Bồ tát không tìm chỗ đứng của mình ở bờ bên này (Tục tế - tương đối) hay bờ bên kia (Thánh đế - tuyệt đối). Bồ tát cũng giống như bất cứ chúng sanh nào khác là mặc dầu sống trong phân biệt của thế giới đối đãi này, nhưng Bồ tát khác với các chúng sanh khác là không phân biệt hay nói cách khác là sống trong phân biệt nhưng không thấy sai biệt. Nếu còn thấy bờ bên này, bờ bên kia hay giữa dòng đi nữa, là vẫn còn thấy giới biên, nghĩa là không tránh khỏi phân biệt chấp trước. Nếu không tránh khỏi phân biệt chấp trước thì không thể tránh khỏi sự câu thúc của thế giới nhị nguyên, đối đãi! 

Nhưng đâu là chỗ đứng của các Ngài để từ đó các Ngài thực thi các phương tiện thiện xảo, cứu rỗi chúng sanh?

Các Ngài biết rằng cảnh giới cuối cùng của tất cả các pháp là không(1), tánh của tất cả pháp cũng không, không phân biệt. Pháp tánh chẳng phải uẩn, xứ, giới, cũng chẳng lìa uẩn, xứ, giới. Pháp tánh tức là uẩn, xứ, giới và uẩn, xứ, giới tức là pháp tánh. Nội không chẳng phải pháp tánh, cũng chẳng lìa nội không riêng có pháp tánh; ngoại không, nội ngoại không, không không, đại không, thắng nghĩa không, hữu vi không, vô vi không, tất cánh không, vô tế không, tán không, vô biến dị không, bổn tánh không, tự tướng không, cộng tướng không, nhất thiết pháp không, bất khả đắc không, vô tánh không, tự tánh không, vô tánh tự tánh không. Nội không chẳng phải pháp tánh, cũng chẳng lìa nội không cho đến vô tánh tự tánh không, riêng có pháp tánh. Nội không tức pháp tánh, pháp tánh tức nội không; ngoại không cho đến vô tánh tự tánh không tức pháp tánh, pháp tánh tức ngoại không cho đến vô tánh tự tánh không. Tứ Thánh đế, Thập nhị nhân duyên, lục Ba-la-mật, từ bi h xả, tám giải thoát, tám thắng xứ, chín thứ đệ định, mười biến xứ, tất cả Đà la ni, Tam ma địa, Bồ tát thập địa, Phật mười lực, tứ vô sở uý, tứ vô ngại giải, mười tám pháp Phật bất cộng v.v… chẳng phải pháp tánh, cũng chẳng lìa tất cả pháp đó riêng có pháp tánh. Pháp tánh tức là tất cả pháp, tất cả pháp tức pháp tánh.

Pháp thế gian chẳng phải pháp tánh, cũng chẳng lìa pháp thế gian riêng có pháp tánh. Pháp xuất thế gian chẳng phải pháp tánh, cũng chẳng lìa pháp xuất thế gian riêng có pháp tánh. Pháp thế gian tức là pháp tánh, pháp tánh tức là pháp thế gian, pháp xuất thế gian tức là pháp tánh, pháp tánh tức là pháp xuất thế gian.

 

Nếu biết như vậy, Bồ tát thật sự nhập pháp giới, tức tìm thấy chỗ đứng đúng của mình hay nói khác là xác định được tinh thể của chính mình trong cảnh giới mà chính các Ngài đang sống, trong chính cảnh giới mà các Ngài chứng nhập. Do thâm hiểu như vậy nên tuy chứng Thật tế nhưng không nhập Niết bàn, quên đi những nổi thống khổ của chúng sanh.

Nếu chân pháp giới, trước, giữa, sau có sự sai biệt thì Bồ tát khi tu hành Bát nhã, chẳng có thể thi thiết những phương tiện thiện xảo; vì chân pháp giới, khoảng trước, giữa, sau thường không sai biệt. Cho nên, đại Bồ tát khi tu hành Bát nhã có thể thuyết chân pháp giới, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, tu Bồ tát hạnh, chứng đắc quả vị Giác ngộ tối cao, độ thoát chúng hữu tình không hề mệt mỏi.

 

Trong Đại thừa giáo, tất cả từ Chơn như, Pháp giới, Pháp tánh, Bất hư vọng tánh, Bất biến dị tánh, Bình đẳng tánh, Ly sanh tánh, Pháp định, Pháp trụ, Thật tế, Hư không giới, Bất tư nghì giới, Phật tánh, Tánh không, Vô tướng, Thật Tướng, Pháp thân, Viên Thành Thực, Tự tánh Thanh tịnh thân, Như như, Niết bàn… tất cả những từ này đồng nghĩa với nhau, chúng lưu xuất từ giữa lòng chân tánh của tất cả các vật thể trần gian hay nói theo thuật ngữ đạo Phật, từ trong cùng một bào thai của Như Lai gọi là Như Lai tạng nên như như không khác.

Các pháp, nó là nó, nó phơi bày như vậy, bởi vì nó là như vậy, mọi vật đều như vậy, mọi hiện hữu đều như vây, chẳng lúc nào chẳng như. Và những từ dùng diễn tả trạng thái đó là gọi Chơn như, Pháp giới, Pháp tánh, Thật tế, v.v... Nó không có gì xa lạ, ẩn nhiệm, nó chỉ thể tính tuyệt đối của vạn hữu. Thể tính đó bất động, thường hằng, chẳng tăng chẳng giảm, chẳng nhiễm chẳng tịnh… nằm ngoài mọi lý luận nhận thức, ngược lại thế giới hiện tượng mà chúng ta đang sống.

Tri kiến được chơn như, pháp giới, pháp tánh, bình đẳng tánh, thật tế, v.v… tức là Giác ngộ. Người có cái thấy biết muôn sự muôn vật như thế, Ngài Thạch Đầu nói: "Người hội muôn vật làm tự mình, ấy là Thánh nhân…". Chính Bát nhã tiêu biểu bằng con mắt thứ ba giữa trán, chiếu rọi trên muôn sự muôn vật, bắt chúng hiện nguyên hình trong chân như, thật tướng... của chúng. Chân như, thật tướng, bình đẳng tướng... đó là nhất tướng chỗ gọi là vô tướng, chúng vô sở hữu, bất khả đắc nên cũng gọi là tánh không, bản tánh không.

Phẩm kế tiếp nói nhiều về lý bản tánh không này.

Thích nghĩa của phần lược giải này:

(1). Không () Phạm: Zùnya. Dịch âm: Thuấn nhã. Dịch ý: Không tánh, Không vô, Không hư, Không tịch, Phi hữu. Đối lại: Hữu. Tất cả vật tồn tại đều không có tự thể, thực thể, thực ngã... tư tưởng ấy gọi là Không. Nói cách khác, Không là sự hư huyễn không thực của muôn vật, hoặc là sự rỗng lặng trong sáng của lý thể. Tư tưởng không đã có từ thời đại đức Phật còn tại thế, rõ ràng nhất trong Phật giáo Đại thừa sau này và là tư tưởng căn bản của hệ thống Kinh Bát nhã. Không được chia ra thành các loại như sau:

 

1- Nhị không

1/. Theo phẩm Quán tà kiến trong Trung luận quyển 4 và luận Thành duy thức quyển 1, thì Không được chia ra làm 2 loại là Nhân khôngPháp không. Nhân không nghĩa là trong cá thể của hữu tình không có thực ngã, cho nên Nhân không còn được gọi là Ngã không, Nhân vô ngã, v.v... Pháp không nghĩa là tất cả các pháp do nhân duyên sinh không có thực thể tồn tại, cho nên gọi là Pháp vô ngã. Tiểu thừa chỉ nói Nhân không, chứ không nói Pháp không, còn Đại thừa chủ trương Nhân pháp nhị không (cũng gọi Nhân pháp nhị vô ngã, Ngã pháp nhị không).

2/. Phẩm Thân kiến trong luận Thành thực quyển 10, chia Không thành 2 loại là Tích khôngThể không. Tích không nghĩa là phân tích sự vật tồn tại đến khi không còn phân tích được nữa thì gọi là Không; còn Thể không có nghĩa là ngay bản thân của tất cả sự vật tồn tại đã là không rồi, đương thể tức không, chứ không cần phải phân tích nữa. Tiểu thừa và tông Thành thực chủ trương Tích không, còn Đại thừa thì chủ trương Thể không.

3/. Theo Tam luận huyền nghĩa, thì Không được chia làm Đãn khôngBất đãn không. Đãn không là chỉ chấp không, chứ không biết đến Chân không và Diệu hữu. Bất đãn không nghĩa là biết rõ Chân không và thừa nhận Diệu hữu, tức là Trung đạo không.

 

2- Tam không.

1/. Theo luận Biện trung biên quyển trung và luận Hiển dương Thánh giáo, thì 3 tính Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực đều có nghĩa không, vì thế gọi đó là Tam không. Cảnh mà phàm phu vọng chấp thuộc về tính Biến kế sở chấp, tính này xưa nay vốn không, cho nên gọi là Vô tính không. Pháp do nhân duyên sinh thuộc về tính Y tha khởi, khác với tính Biến kế sở chấp, nhưng không phải hoàn toàn Vô, mà cũng chẳng phải là Hữu như chúng sinh vọng chấp, đây tức là Dị tính không. Còn chân như là tính Viên thành thực, là tự tính do quán xét nhân và pháp đều không mà hiển hiện, đó là Tự tính không.

2/. Theo Kinh Kim cương toàn yếu san định ký quyển 1, thì Không có 3 thứ là Nhân không, Pháp không và Câu không.

 

3- Tứ không. Kinh Đại tập quyển 54 và Kinh Đại Phẩm Bát Nhã quyển 5 cho rằng Không có 4 loại: Pháp pháp tướng không, Vô pháp vô pháp tướng không, Tự pháp tự pháp tướng không, Tha pháp tha pháp tướng không.

 

4- Lục không. Theo luận Xá lợi phất a tì đàm quyển 16, thì Không có 6 loại: 1/. Nội không, cũng gọi Thụ giả không, Năng thực không nghĩa là 6 chỗ bên trong (6 căn) đều là không. 2/. Ngoại không, cũng gọi Sở thụ không, Sở thực không, nghĩa là 6 chỗ bên ngoài (6 cảnh) đều là không. 3/. Nội ngoại không, cũng gọi Thân không, Tự thân không. 4/. Không không: Cái Không bị quán chiếu (Sở quán) cũng là Không, vì thế còn gọi là Năng chiếu không. 5/. Đại không, cũng gọi Thân sở trụ xứ không, nghĩa là 10 phương thế giới đều là không. 6/. Đệ nhất nghĩa không, cũng gọi Thắng nghĩa không, Chân thực không, Chân cảnh không. Nghĩa là ngoài các pháp ra không có cái gì được gọi là tự tính của thực tướng.

 

5- Thất không. Cứ theo Kinh Lăng già quyển 1 (bản 4 quyển), thì Không có 7 loại: 1/. Tướng không, cũng gọi Tự tướng không, nghĩa là tự tướng và cộng tướng của các pháp đều là không. 2/. Tính tự tính không, cũng gọi Tự tính không, nghĩa là tự tính của các pháp tức là không. 3/. Hành không, 5 uẩn xa lìa ngã và ngã sở, vì do nhân duyên sinh. 4/. Vô hành không, cũng gọi Bất hành không, nghĩa là trong 5 uẩn không hề có Niết bàn. 5/. Nhất thiết pháp li ngôn thuyết không: Tất cả các pháp không thể dùng lời nói để diễn tả, nên là không. 6/. Đệ nhất nghĩa Thánh trí đại không: Đệ nhất nghĩa không thấy được từ quả vị Thánh trí. 7/. Bỉ bỉ không: Mình, người, kia, đây đều là không; cái Không này là theo nghĩa hẹp.

 

6- Thập không. Luận Đại tì bà sa quyển 8 nêu ra 10 không: Nội không, Ngoại không, Nội ngoại không, Hữu vi không, Vô vi không, Tán hoại không, Bản tính không, Vô tế không, Thắng nghĩa không và Không không.

 

7- Thập nhất không. Theo Kinh Niết bàn quyển 16 (bản Bắc), thì Không có 11 loại: Nội không, Ngoại không, Nội ngoại không, Hữu vi không, Vô vi không, Vô thủy không, Tính không, Vô sở hữu không, Đệ nhất nghĩa không, Không không, Đại không... Trong đó, Vô sở hữu không cũng gọi Bất khả đắc không.

 

8- Thập lục không. Theo luận Biện trung biên quyển thượng, thì Không có 16 thứ: Nội không, Ngoại không, Nội ngoại không, Đại không, Không không, Thắng nghĩa không, Hữu vi không, Vô vi không, Tất kính không, Vô tế không, Vô tán không, Bản tín không, Tướng không, Nhất thiết pháp không, Vô tính không và Vô tính tự tính không.

 

9- Thập bát không. Theo Kinh Đại Phẩm Bát Nhã quyển 3, Kinh Đại tập quyển 54 và luận Đại trí độ quyển 31, thì Không có 18 loại: Nội không, Ngoại không, Nội ngoại không, Không không, Đại không, Đệ nhất nghĩa không, Hữu vi không, Vô vi không, Tất kính không, Vô thủy không, Tán không, Tính không, Tự tướng không, Chư pháp không, Bất khả đắc không, Vô pháp không, Hữu pháp không và Vô pháp hữu pháp không... [X. Kinh Đi-Bát-Nhã  Ba-La-Mật Q.44; Kinh Niết bàn Q.25 (bản Bắc); luận Đại trí độ Q.38; luận Bồ đề tâm; luận Thập bát không; Đại thừa nghĩa chương Q.1 đến Q.4; Duy Ma Kinh nghĩa ký Q.3; Hoa Nghiêm pháp giới quán môn; Trung Quán Luận sớ Q.2 phần cuối]. (xt. Bản Thể, Không Hữu Luận Tranh)- Phật Quang từ điển.

Lưu ý: Tất cả pháp Không trên được hình thành theo tiến trình của (không gian và thời gian) theo dòng lịch sử là như vậy. Kết quả chúng ta có mười tám pháp không hoàn hảo như ngày hôm nay để giải thích thế nào là nhất thiết pháp không. Mười tám pháp không đã được giải thích ở phần thứ I Tổng luận rồi. Tuy nhiên, khi chúng tôi tra cứu các Kinh luận hoặc sách vở hoặc tự điển hoặc ý kiến của các học giả Phật học nào mà thấy hữu ích cho việc học hỏi thì chúng tôi tiếp tục ghi thêm để quý vị có dịp thâm cứu, học hỏi thêm. TB

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn