Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Bài 16. Kinh Lăng Già giải nghĩa

17/02/201919:38(Xem: 240)
Bài 16. Kinh Lăng Già giải nghĩa

KINH LĂNG GIÀ

GIẢI NGHĨA

Toàn Không

(Tiếp theo)

 

2-KỆ HỎI ĐÁP THỨ HAI:

 

     Đại Huệ Bồ Tát lại dùng kệ hỏi:

Mặt trời sáng soi khắp,

Chúng sanh thượng, trung, hạ.

Như lai soi thế gian,

Khai thị lời chân thật.

Tại sao chia nhiều thừa,

Thuyết pháp nói chẳng thật?

 

     Khi ấy, Thế Tôn dùng kệ đáp rằng:

1. Nếu nói lời chân thật,

Tâm họ chẳng chân thật.

Ví như làn sóng biển,

Như bóng gương, mộng huyễn.

2. Tất cả cùng lúc hiện,

Cảnh giới tâm (1) cũng thế.

Nay cảnh giới chẳng đủ,

Là do nghiệp chuyển sinh,

3. Thức do thức nhận biết,

Ý do ý cho vậy.

Năm thức tùy cảnh hiện,

Chẳng thứ lớp nhất định.

4. Ví như thợ vẽ khéo,

Và học trò thợ vẽ.

Bút màu vẽ hình tướng,

Thuyết ta cũng như thế.

5. Màu sắc vốn vô nghĩa,

Chẳng phải bút hay lụa.

Vì thỏa lòng chúng sanh,

Vẽ đủ thứ hình tướng.

6. Dùng lờì nói khai thị,

Thật nghĩa lìa văn tự.

Phân biệt tiếp sơ cơ (2),

Tu hành đến chân thật.

7. Chỗ chân thật tự ngộ,

Lìa năng giác, sở giác.

Đây vì Phật tử nói,

Kẻ ngu vọng phân biệt.

8. Thế gian đều như huyễn,

Dù hiện chẳng chân thật.

Thuyết pháp cũng như thế,

Tùy sự lập phương tiện.

9. Lương y trị bệnh nhân,

Tùy bệnh mà cho thuốc.

Thuyết pháp chẳng ứng cơ (3),

Nơi họ thành phi thuyết.

10. Tùy tâm lượng (4) chúng sanh,

Như Lai ứng cơ thuyết.

Phi cảnh giới vọng tưởng,

Thanh văn chẳng có phần.

Vì thương xót kẻ mê,

Thuyết cảnh giới tự giác.

 

     Lại nữa Đại Huệ! Nếu Đại Bồ Tát muốn biết hiện lượng (5) của tự tâm, nhiếp thọ và kẻ nhiếp thọ đối với cảnh giới vọng tưởng, phải lìa phong tục tập quán thế gian; ngày đêm sáu thời thường tự cảnh tỉnh, phương tiện tu hành, phải lìa ngôn luận của người ác kiến và các tướng khác, thông đạt tướng vọng tưởng của tự tâm hiện.

 

GIẢI NGHĨA:

(1). Cảnh giới tâm: Bản thể của tâm cùng khắp không gian và thời gian, nên cùng lúc hiện, chẳng có trước sau.

(2) Sơ cơ: Gọi là Sơ học, Sơ tâm, Sơ phát tâm. Cơ là căn cơ; Sơ cơ chỉ cho người mới học đạo.

(3) Ứng cơ: Tùy thời mà hành động.

(4) Tâm lượng: Tâm đo lường, tâm so đo phân biệt nọ kia.

(5) Hiện lượng: Có các nghĩa:

1. Biết đúng:1. Thấy một cách rõ ràng (s: pratyaksam). 2. Nhận thức trực tiếp, đặc biệt là sự nhận biết ngay không qua suy luận nào. 3. Nhận thức căn bản trong luận lí Phật giáo như nhận thức sự vật đúng như chúng đang là. 4. Người tu chính pháp được chứng ngộ, hiển hiện bản thể đầy khắp không gian thời gian, cái thực tướng này gọi là Hiện lượng, cái dụng gọi là Hiện lượng trí.

2. Biết sai: Lượng là đo lường phân biệt đúng sai của tri thức, nhận biết chưa phân biệt suy xét, sự nhận thức bị ảnh hưởng bởi huyển tướng và tác dụng phân biệt của khái niệm.

 

     Hỏi đáp thứ ba này, Bồ Tát hỏi với ý: Như mặt trời soi khắp nơi, Như Lai soi tất cả chúng sinh các loại (thượng, trung, hạ), khai thị những lời chân thật, tại sao lại chia ra nhiều Thừa nói lời không thật?

     Đức Phật đáp rằng:

1. Nếu nói lời chân thật,

Tâm họ chẳng chân thật.

Ví như làn sóng biển,

Như bóng gương, mộng huyễn.

2. Tất cả cùng lúc hiện,

Cảnh giới tâm (1) cũng thế.

Nay cảnh giới chẳng đủ,

Là do nghiệp chuyển sinh,

     Nghĩa là nếu nói lời thật, tâm họ chẳng chân thật, thì giống như sóng biển, như bóng gương mộng huyển, tất cả hiện cùng một lúc, cảnh giới tâm cũng như thế. Nay cảnh giới hiện chẳng đầy đủ là do nghiệp chuyển sinh biến đổi.

 

3. Thức do thức nhận biết,

Ý do ý cho vậy.

Năm thức tùy cảnh hiện,

Chẳng thứ lớp nhất định.

4. Ví như thợ vẽ khéo,

Và học trò thợ vẽ.

Bút màu vẽ hình tướng,

Thuyết ta cũng như thế.

     Sự nhận biết (thức), khởi niệm liên tục (ý), tùy cảnh hiện không có thứ lớp; ví như nguời thợ vẽ dùng bút màu vẽ các hình tướng, Phật nói cũng như thế.

 

5. Màu sắc vốn vô nghĩa,

Chẳng phải bút hay lụa.

Vì thỏa lòng chúng sanh,

Vẽ đủ thứ hình tướng.

6. Dùng lờì nói khai thị,

Thật nghĩa lìa văn tự.

Phân biệt tiếp sơ cơ (2),

Tu hành đến chân thật.

     Chẳng phải vì bút màu hay vải lụa vì chúng vô nghĩa, chỉ vì thỏa lòng chúng sinh nên vẽ đủ thứ hình tướng; nên Phật dùng lời chân thật.

 

7. Chỗ chân thật tự ngộ,

Lìa năng giác, sở giác.

Đây vì Phật tử nói,

Kẻ ngu vọng phân biệt.

8. Thế gian đều như huyễn,

Dù hiện chẳng chân thật.

Thuyết pháp cũng như thế,

Tùy sự lập phương tiện.

     Chỗ chân thật là lià ý biết và chỗ biết mà kẻ ngu chấp trước phân biệt; thế gian đều hư huyển biến đổi chẳng chân thật, Phật lập phương tiện để thuyết pháp cũng phải theo như thế.

 

9. Lương y trị bệnh nhân,

Tùy bệnh mà cho thuốc.

Thuyết pháp chẳng ứng cơ (3),

Nơi họ thành phi thuyết.

10. Tùy tâm lượng (4) chúng sanh,

Như Lai ứng cơ thuyết.

Phi cảnh giới vọng tưởng,

Thanh văn chẳng có phần.

Vì thương xót kẻ mê,

Thuyết cảnh giới tự giác.

     Như lương y tùy bệnh cho thuốc, thuyết pháp mà không thích hợp không đúng thời cơ và căn cơ thì chẳng phải là thuyết pháp, do đó Phật tùy tâm so đo phân biệt nọ kia của chúng sinh (tâm lượng) mà ứng thuyết. Chẳng phải cảnh giới vọng tưởng Thanh Văn có phần, nay vì Phật thương xót kẻ mê mà thuyết cảnh giới của gốc biết (bản giác).

 

     Đức Phật lưu ý: “Lại nữa Đại Huệ! Nếu Đại Bồ Tát muốn biết hiện lượng (1) của tự tâm, nhiếp thọ và kẻ nhiếp thọ đối với cảnh giới vọng tưởng, phải lìa phong tục tập quán thế gian; ngày đêm sáu thời thường tự cảnh tỉnh, phương tiện tu hành, phải lìa ngôn luận của người ác kiến và các tướng khác, thông đạt tướng vọng tưởng của tự tâm hiện”. Nghĩa là nếu Đại Bồ Tát muốn biết nhận thức một cách rõ ràng tự tâm, sự thu nhận giữ gìn (nhiếp thọ) và người thu giữ (kẻ nhiếp thọ) đối với cảnh giới vọng tưởng. Phải xa lià thói quen phong tục tập quán của thế gian, ngày đêm thường lưu ý cảnh tỉnh, tùy phương tiện hữu ích mà tu hành, phải dứt bỏ lời nói tà vạy của người có ác kiến cùng các tướng khác.

 

     Ác kiến gồm 5 thứ là:

1. Ngã Kiến gọi là thân kiến, là chấp cái ta, là nhận thức sai lầm cho rằng có một bản ngã riêng biệt tồn tại trong thực tại làm chủ sở hữu các đối tượng trong vũ trụ.

2. Biên Kiến là nhận thức sai lầm thiên lệch chấp về một bên, như chấp rằng đời sống là thường tồn (thường kiến), hoặc chấp rằng đời sống không tồn tại sau khi chết (đoạn kiến).

3. Tà Kiến là nhận thức sai lầm về sự vật, như không có kiến giải chân chính về mối tương quan luân hồi nhân quả, nhân duyên v.v...

4. Kiến Thủ Kiến là chấp giữ 3 thứ Ngã Kiến, Biên Kiến và Tà Kiến.

5. Giới Cấm Thủ Kiến, là thực hành theo Kiến Thủ Kiến, vì thế chắc chắn dẫn đến sai lầm.

 

4). BA TƯỚNG CỦA THÁNH TRÍ:

(Còn tiếp)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn