Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Bài 17. Kinh Lăng Già giải nghĩa

17/02/201919:39(Xem: 75)
Bài 17. Kinh Lăng Già giải nghĩa

KINH LĂNG GIÀ

GIẢI NGHĨA

Toàn Không

(Tiếp theo)

 

4). BA TƯỚNG CỦA THÁNH TRÍ:

- Lại nữa Đại Huệ! Đại Bồ Tát kiến lập trí huệ, nơi ba tướng của Thánh trí nên siêng tu học. Thế nào là ba tướng của Thánh trí? Ấy là:

1. Tướng Vô Sở Hữu, (avidyamāna) là không có tướng hiện hữu,

2. Tướng Nhất Thiết Chư Phật tự nguyện xứ,

3. Tướng cứu cánh Tự Giác Thánh trí.

Tu hành được đến đây rồi, phải xả bỏ tướng bệnh của trí huệ tâm, được lên Bồ Tát đệ Bát Địa, ấy là do quá trình tu tập ba tướng kể trên mà sinh khởi.

- Đại Huệ! Nói TƯỚNG VÔ SỞ HỮU, là theo cách tu tập những tướng Thanh Văn, Duyên Giác và ngoại đạo mà sinh khởi.

 

Nói TƯỚNG TỰ NGUYỆN XỨ, là nói chỗ Chư Phật xưa tự nguyện tu mà sinh khởi.

Nói TƯỚNG CỨU CÁNH TỰ GIÁC THÁNH TRÍ, là đối với tất cả pháp tướng chẳng chấp trước, được tiến hành đến đắc Tam muội thân như huyễn của Chư Phật mà sinh khởi.

 Đây gọi là ba tướng Thánh trí, nếu người thành tựu ba tướng Thánh trí này, thì được đến cảnh giới cứu cánh của Tự Giác Thánh trí; cho nên ba tướng Thánh trí nên siêng tu học.

 

GIẢI NGHĨA:

     Đoạn 4, Mục 2, Quyển 1 này, Đức Phật cho biết có 3 tướng của Thánh trí, đó là:

1. Tướng Vô Sở Hữu(avidyamāna):

     Là không có tướng hiện hữu, là trống không, tức là không có cái gì cả, ta chẳng sở hữu một cái nào cả;đây là cách tu tập dứt bỏ những chấp tướng của Thanh Văn, Duyên Giác và ngoại đạo.

2. Tướng Nhất Thiết Chư Phật tự nguyện xứ:

     Là tướng nơi tất cả Chư Phật xưa kia tự phát nguyện tu hành thành Phật.

3. Tướng cứu cánh Tự Giác Thánh trí:

Là đối với tất cả hình sắc (tướng) của vạn pháp (pháp tướng) chẳng chấp thật, mà là giả, là không, quán sát cho đến được nhu nhuyễn Tam muội (Chính định) đạt thân ảo huyển của Chư Phật.

     Tóm lại, Đức Phật cho biết đại ý nếu người thành tựu một trong ba tướng Thánh trí này thì được đến cảnh giới cứu cánh cái biết của bậc Thánh (Tự Giác Thánh trí), người tu phải xả bỏ tướng chấp thật (tướng bệnh) của tâm hiểu biết (trí huệ tâm) sẽ được lên Bồ Tát bậc tám (đệ Bát Địa), cho nên cần siêng tu học hành ba tướng Thánh trí.

 

MỤC 3:

LÝ LUẬN VỀ SỪNG THỎ:

1). CHẤP ĐOẠN DIỆT CÓ KHÔNG:

Kinh Thánh Trí Phân Biệt Tự Tánh

     Khi ấy, Đại Huệ Bồ Tát biết tâm niệm của chúng Đại Bồ Tát đang nghĩ tên Kinh Thánh Trí Phân Biệt Tự Tánh, nên thừa sức oai thần của tất cả Phật, bạch rằng:

- Thế Tôn! Cúi xin Phật thuyết kinh Thánh Trí Phân Biệt Tự Tánh, y theo Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác, phân biệt nghĩa một trăm lẻ tám câu, theo đó thuyết Đại Bồ Tát vào tự tướng và cộng tướng của vọng tưởng tự tánh. Vì phân biệt thuyết tự tánh vọng tưởng thì được khéo quan sát nhân pháp Vô ngã, tẩy sạch vọng tưởng, soi sáng chư Địa, siêu việt tất cả Thanh Văn, Duyên Giác và thiền định của ngoại đạo, biết khắp cảnh giới sở hành bất khả tư nghì của Như Lai, lìa bỏ năm pháp tự tánh. Dùng pháp thân trí huệ của Chư Phật khéo tự trang nghiêm, khởi cảnh giới huyển, lên Đâu Suất Thiên Cung, Sắc Cứu Cánh Thiên Cung trong tất cả cõi Phật, cho đến được Pháp thân thường trụ của Như Lai.

     Phật bảo Đại Huệ:

- Có một thứ ngoại đạo, khởi vọng tưởng chấp trước đoạn diệt, xóa hết cái nhân giác tri, cho tất cả hư vô như thỏ không sừng, cho tất cả pháp cũng như thế. Ngoài ra còn có ngoại đạo căn cứ theo chỗ vi tế của Đà La Phiếu (chân lý), vọng chấp các pháp mỗi mỗi sai biệt, sinh kiến chấp ấy, cho là không có sừng thỏ, thì lại nghĩ tưởng phải có sừng trâu. Đại Huệ! Họ rơi vào nhị kiến HỮU và VÔ, chẳng rõ cảnh giới tâm lượng (1) của tự tâm, vọng tự thêm bớt, kiến lập thân thọ dụng (2), vọng tưởng có căn cứ số lượng; tất cả pháp tánh cũng như thế, lìa hữu lìa vô, chẳng nên suy tưởng cho là thật có hay thật không.

- Đại Huệ! Nếu chấp hữu, vô mà cho thỏ không sừng là tưởng thật không, cho trâu có sừng là tưởng thật có, đều gọi là tà tưởng; theo cảnh giới Thánh trí, nên lìa nhị kiến đối đãi.

     Khi ấy, Đại Huệ Bồ Tát bạch Phật rằng:

- Thế Tôn! Người chẳng vọng tưởng thấy tướng vô sinh rồi, theo đó suy nghĩ quán xét, chẳng sanh vọng tưởng, nói là VÔ ư?

     Phật bảo Đại Huệ:

- Chẳng phải quán xét chẳng sinh vọng tưởng mà nói VÔ; tại sao? Vì vọng tưởng do chấp thật mà sinh, như theo chấp thật có và không sừng mà sinh ra vọng tưởng; nếu chẳng chấp thật thì lìa hai tướng tương đối. Do quán HỮU nên nói thỏ không sừng, do quán (3) VÔ nên nói trâu có sừng. Đại Huệ! Vì pháp tương đối chẳng phải chính nhân nên nói hữu nói vô, cả hai đều chẳng thành nói THÀNH là do chấp pháp tương đối mà thành.

 

GIẢI NGHĨA:

 

(1) Tâm lượng: Nhận thức, biết phân biệt đối tượng. Tâm đo lường, tâm so đo phân biệt. Còn có nghĩa là lìa tất cả suy lường của tâm, lià tâm dấy lên vọng tưởng rồi phân biệt cảnh vật Thánh, tức là an trụ nơi vô tâm.

(2) Thân thụ dụng:S: saṃ-bhogakāya: Là kết quả của sự giác ngộ, hưởng niềm vui của chính pháp và giúp cho người khác cùng được hưởng. Là một trong các thân của Chư Phật đồng nghĩa với Báo thân, danh từ này thường có nghĩa là thân tiếp nhận và hưởng niềm vui của chính pháp cho chính mình; còn thân giúp người khác có được niềm vui thì gọi là Tha thụ dụng thân.

(3) Chỉ Quán: S: śamatha-vipaś-yanā; P: samatha-vipassanā: Là hai pháp thiền căn bản của Phật giáo. “Chỉ” gọi Xa-ma-tha, s: śamatha, và “Quán”: Tì-bà-xá-na, s: vipaśyanā.

1. Chỉ là pháp tu thiền nhắm vào làm an tĩnh tâm ý và phát huy sức tập trung (định).

2.Quán được dịch là phân tích quan sát rõ ràng, là áp dụng định lực quan sát sự biểu hiện một ý niệm dẫn đến thực tại.

 

Khởi đầu Đoạn 1, Mục 3, Quyển 1 này, Bồ Tát Đại Huệ thỉnh Phật thuyết giảng về: “Thánh trí phân biệt tự tánhgồm cósự phân biệt tự tánh vọng tưởng, lià năm pháp tự tánhđể được tẩy sạch vọng tưởng, thấy nhân pháp vô ngã, biết khắp cảnh giới chỗ hành bất khả tư nghì của Như Lai, v.v... cho đến làm thế nào để được Pháp thân thường trụ của Như Lai như Bồ Tát từ cõi Đâu Suất giáng sinh rồi thành Phật”.

 

     Đức Phật giảng rằng: “- Có một thứ ngoại đạo, khởi vọng tưởng chấp trước đoạn diệt, xóa hết cái nhân giác tri, cho tất cả hư vô như thỏ không sừng, cho tất cả pháp cũng như thế. Ngoài ra còn có ngoại đạo căn cứ theo chỗ vi tế của Đà La Phiếu (chân lý), vọng chấp các pháp mỗi mỗi sai biệt, sinh kiến chấp ấy, cho là không có sừng thỏ, thì lại nghĩ tưởng phải có sừng trâu. Đại Huệ! Họ rơi vào nhị kiến HỮU và VÔ, chẳng rõ cảnh giới tâm lượng (1) của tự tâm, vọng tự thêm bớt, kiến lập thân thọ dụng (2), vọng tưởng có căn cứ số lượng; tất cả pháp tánh cũng như thế, lìa hữu lìa vô, chẳng nên suy tưởng cho là thật có hay thật không”.

 

Nghĩa làcó ngoại đạo, khởi vọng tưởng chấp chết rồi là hết chẳng còn gì (chấp đoạn diệt), họ bỏ mất (xóa hết) cái nhân hiểu biết (giác tri), cho tất cả hư không và tất cả các pháp như thỏ không sừng. Ngoài ra còn có ngoại đạo căn cứ theo chỗ nhỏ nhiệm của chân lý (Đà La Phiếu), vọng chấp mọi pháp sai biệt; họ sinh chấp thấy, cho là không có sừng thỏ thì nghĩ tưởng có sừng trâu, lại rơi vào hai cái thấy THẬT CÓ và THẬT KHÔNG (nhị kiến HỮU và VÔ).

 

     Họ chẳng rõ cảnh giới phân biệt nhận thức (tâm lượng) của tâm vọng tưởng, rồi tự vọng thêm thành thân tiếp nhận (thân thọ dụng) và căn cứ vào số lượng. Tất cả bản tính của các pháp (pháp tánh) cũng như thế, vì vậy cho nên phải lìa CÓ lìa KHÔNG, chẳng nên suy tưởng cho là thật có hay thật không.

 

Do đó Ngài dạy: “- Đại Huệ! Nếu chấp hữu vô mà cho thỏ không sừng là tưởng thật không, cho trâu có sừng là tưởng thật có, đều gọi là tà tưởng; theo cảnh giới Thánh trí, nên lìa nhị kiến đối đãi”. Nghĩa là không nên chấp có chấp không, dù có cũng là giả có, không thật có, dù không cũng là giả không, không thật không, đó là lià hai quan điểm, lià hai quan niệm, lià hai bên đối đãi, thì đây mới là bậc Thánh trí vậy.

 

     Khi ấy, Bồ Tát Đại Huệ thưa hỏi Phật rằng: “- Thế Tôn! Người chẳng vọng tưởng thấy tướng vô sinh rồi, theo đó suy nghĩ quán xét, chẳng sanh vọng tưởng, nói là VÔ ư?”

 

     Đức Phật giảng rằng: “- Chẳng phải quán xét chẳng sinh vọng tưởng mà nói VÔ; tại sao? Vì vọng tưởng do chấp thật mà sinh, như theo chấp thật có và không sừng mà sinh ra vọng tưởng; nếu chẳng chấp thật thì lìa hai tướng tương đối. Do quán HỮU nên nói thỏ không sừng, do quán VÔ nên nói trâu có sừng. Đại Huệ! Vì pháp tương đối chẳng phải chính nhân nên nói hữu nói vô, cả hai đều chẳng thành nói THÀNH là do chấp pháp tương đối mà thành”. Đức Phật giảng đã rõ ràng dễ hiểu, xin miễn giải nghĩa.

2). CHẤP TRƯỚC SẮC KHÔNG:

(Còn tiếp)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn