Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Bài 89. Kinh Lăng Già giải nghĩa

02/07/202011:17(Xem: 68)
Bài 89. Kinh Lăng Già giải nghĩa

KINH LĂNG GIÀ

GIẢI NGHĨA

Toàn Không

(Tiếp theo)

 

2). HÓA PHẬT:

     Khi ấy, Đại Huệ Bồ Tát lại bạch Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Tại sao Thế Tôn thọ ký A La Hán sẽ thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, bằng với các Bồ Tát chẳng có sai biệt? Nếu Phật vì độ tất cả chúng sanh mà chẳng nhập Niết Bàn thì ai đến Phật đạo? Tại sao nói "Từ lúc mới thành Phật cho đến nhập Niết Bàn, ở nơi khoảng giữa chẳng thuyết một chữ chẳng đáp một chữ?" Nói "Như Lai thường Định" thì chẳng có niệm lự quán sát, tức là vô ngôn vô thuyết thì chẳng thể giáo hóa, sao lại nói Hóa Phật để làm Phật sự? Tại sao nói các thức sát na chẳng trụ mà có tướng lần lượt biến hoại? Nói "Như Lai thường định" tại sao lại cần có Kim Cang Lực sĩ thường theo hộ vệ? Bản tế tịch diệt thì xa lìa phiền não, tại sao còn hiện đủ thứ quả báo ma nghiệp ác nghiệp như ngoại đạo Chiên Giá Ma Nạp giả có thai và Tôn Đà Lợi giết con gái để báng Phật, khất thực thì chẳng ai bố thí, bát không mà trở về v.v... ? Như Lai đã đắc Nhất Thiết Chủng Trí (1), sao chẳng lìa được những lỗi này?

     Phật bảo Đại Huệ:

- Hãy chú ý nghe và khéo ghi nhớ, Ta sẽ vì ông mà thuyết.

     Đại Huệ Bồ Tát bạch Phật rằng:

- Lành thay, Thế Tôn! Cúi xin thọ giáo.

     Phật bảo Đại Huệ:

- Ta thuyết Vô Dư Niết Bàn (2) để khuyến dụ phàm phu tiến đến bậc Bồ Tát, cũng khuyên các bậc tu hạnh Bồ Tát trong cõi này cõi kia, và những người ham Niết Bàn của Thanh Văn thừa, khiến lìa Thanh Văn thừa tiến lên Đại thừa, nên Hóa Phật thọ ký cho hàng Thanh Văn, chứ chẳng phải Pháp Phật thọ ký. Do đó, sự thọ ký Thanh Văn với thọ ký Bồ Tát chẳng khác. Đại Huệ! Nói "chẳng khác" là Nhị thừa, chư Phật Như Lai đoạn dứt phiền não chướng (3), cùng là một mùi vị giải thoát, chẳng phải nói đoạn dứt trí chướng. Đại Huệ! Nói "Trí chướng" là thấy pháp Vô Ngã, thù thắng thanh tịnh; nói "phiền não chướng" là do trước kia tu tập thấy nhân Vô Ngã. Nghĩa là : Dứt phiền não chướng thì chuyển được thức thứ bảy diệt, ý thức chẳng hành; nếu pháp chướng giải thoát thì chuyển được sự huân tập trong Tạng thức diệt, cứu cánh thanh tịnh, vì pháp bản trụ (4) nên trước sau đều phi tánh.

- Vì bản nguyện vô tận nên Như Lai Vô niệm lự, Vô quán sát mà thuyết pháp, dùng chánh trí giáo hóa thì niệm chẳng vọng, nên Vô niệm lự, Vô quán sát. Vì tập khí của bốn trụ địa (5) và Vô Minh Trụ Địa (6) dứt thì hai thứ phiền não dứt, lìa hai thứ sanh tử (7), giác được nhân và pháp Vô Ngã đồng thời cũng doạn dứt hai chướng.

- Đại Huệ! Vì lìa cái nhân sát na tập khí của bảy thứ thức trước, là pháp thiện vô lậu thì chẳng còn luân hồi. Đại Huệ! Nói "Như Lai Tạng", là phàm phu ngoại đạo chấp nơi Không, do chấp Không mà nhiễu loạn ý thức, dù đắc Không Huệ nhưng chẳng biết Không là vô tri, vô tri thì chẳng có huệ, theo cái nhân khổ vui lưu chuyển. Nếu giác được Không mà chẳng Không, ấy là cái nghĩa sát na chân thật của Như Lai Tạng. Phàm phu ngoại đạo chẳng thể giác được, lại cho là Niết Bàn.

- Đại Huệ! Nói KIM CANG LỰC SĨ THƯỜNG THEO Hộ Vệ, ấy là Hóa Phật thôi, chẳng phải Chân Như Lai. Đại Huệ! Nói CHÂN NHƯ LAI là lìa tất cả căn lượng (8), nghĩa là tất cả căn lượng của phàm phu, Nhị thừa và ngoại đạo thảy đều diệt hết, chứng đắc Hiện Pháp Trụ Lạc, Vô Gián Pháp Trí Nhẫn, chẳng phải Kim Cang Lực Sĩ sở hộ vệ. Tất cả Hóa Phật chẳng từ nghiệp sanh, nhưng Hóa Phật chẳng phải Phật mà chẳng lìa Phật, như thợ gốm làm ra các đồ gốm, đồ gốm chẳng phải đất nhưng chẳng lìa đất, theo tướng sở tác của chúng sanh mà thuyết pháp, chẳng phải chỗ Tự Thông (9) mà thuyết cảnh giới tự giác.

- Lại nữa, Đại Huệ! Phàm phu dựa theo thức thứ bảy chuyển diệt mà sanh khởi đoạn kiến, do chẳng giác được Tạng thức mà sanh khởi thường kiến, tất cả đều do tự tâm vọng tưởng chẳng biết bản tế. Nếu tự tâm vọng tưởng diệt thì được giải thoát, giải thoát thì tất cả lỗi tập khí (10) của bốn Trụ Địa và Vô Minh Trụ Địa thảy đều đoạn dứt.

     Khi ấy, Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:    

1. Tam Thừa cũng phi thừa,
Như Lai chẳng nhập diệt.
Tất cả Phật sở ký,
Lìa các lỗi nhiễm tịnh.

2. Vì khuyến dụ hạ căn,
Nên thuyết pháp ẩn lấp.
Vì bậc Vô Gián Trí,
Thuyết Vô Dư Niết Bàn.
3. Chư Phật giả lập trí,
Tùy cơ phân biệt thuyết.
Nếu chư thừa phi thừa,
Thì chẳng có Niết Bàn.
4. Dục, sắc, hữu, kiến ái,
Gọi là bốn Trụ Địa.
Do ý thức sanh khởi,
Chủng tử trụ tạng thức.
5. Căn, trần, sáu thứ thức,
Đoạn diệt nói vô thường.
Hoặc thấy có Niết Bàn,
Lại cho là thường trụ.

 

GIẢI NGHĨA:

(1) Nhất Thiết Chủng Trí: Trí tuệ biết mọi sự việc, chỉ trí huệ giác ngộ của Phật.

(2) Vô dư Niết Bàn: Dứt hết hữu lậu tức là dứt hết các dính mắc và tạo tác, không còn khởi niệm tức là được ý giải thoát, dứt hết so đo phân biệt tức là được trí tuệ giải thoát, tâm vắng lặng, như thật tự biết sinh tử đã dứt không còn tái sinh nữa.

(3) Phiền não chướng: Do 6 căn tạo tham sân si khiến mừng giận, buồn vui, yêu ghét, ham thích, chướng ngại cho sự giải thoát của khổ sinh tử.

(4) Pháp bản trụ:Là pháp nào trụ theo pháp đó, như cái cây trụ theo cây (sinh, trụ, diệt), khi đốt cây thì trụ theo thành tro than, khi tro than vào đất thì trụ theo đất.

(5) Bốn trụ địa:Ưa nhục dục đó là Dục ái, thích vật chất đó là Sắc ái, ham muốn có, đó là Hu ái, đắm say sắc đẹp đó là Kiến ái.     

(6) Vô minh trụ địa: Có 2 loại trụ địa:

1. Phiền não căn bản: Gốc rễ độc hại si mê về: Dục ái, Sắc ái, Hữu ái, Kiến ái. Căn bản phiền não gồm 6 thứ: Tham, sân, si, mạn, nghi, kiến.

2. Phiền não chi mạt: Là Tùy phiền não, là các tâm sở bất thiện đi liền với Căn bản phiền não, là ngọn ngành ô nhiễm, là phiền não phụ thuộc, cấu uế trong tâm, có 20 thứ như giận, oán, ghen....

(7) Hai thứ sinh tử: 1. Phần đoạn sinh tử gồm tất cả chúng sinh sống chết trong sáu cõi. 2. Biến dịch sinh tử là pháp thân biến dịch của hàng Bồ Tát.

(8) Căn lượng: Căn là cội gốc, lượng là thấy biết trước mắt, so sánh để biết; Căn lượng là cội gốc của thấy biết, căn nguyên đánh giá nhận thức đối tượng.

(9) Tự Thông:Là lià vọng tưởng, lià chấp nhân duyên, chẳng rơi vào hai bên, vượt khỏi chấp tướng các hiện tượng vạn vật thế giới (được tâm thanh tịnh), không còn khởi niệm liên tục (ý giải thoát) và dứt sạch so đo phân biệt (ý thức giải thoát).

(10) Tập khí: Tập là xông ướp, khí là năng lượng. Thói quen trong công việc làm, huân tập thành chủng tử khi có điều kiện sinh khởi hiện hành. Nó tiềm tàng trong đời sống, hiện ra bất cứ lúc nào.

 

     Đoạn 2 Mục 7, Quyển 4, Bồ Tát Đại Huệ lại nêu các thắc mắc:

1. Tại sao Thế Tôn thọ ký A La Hán sẽ thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, bằng với các Bồ Tát chẳng có sai biệt (?); nếu Phật vì độ tất cả chúng sanh mà chúng sinh chẳng nhập Niết Bàn thì ai muốn đến với Phật đạo?

2. Tại sao Thế Tôn nói "Từ lúc mới thành Phật cho đến nhập Niết Bàn, ở nơi khoảng giữa chẳng thuyết một chữ chẳng đáp một chữ?" Nói "Như Lai thường định" thì chẳng có niệm lự quán sát, tức là vô ngôn vô thuyết thì chẳng thể giáo hóa, sao lại nói Hóa Phật làm Phật sự?

3. Tại sao nói các thức sát na chẳng trụ mà có tướng lần lượt biến hoại?

4. Nói "Như Lai thường định" tại sao lại cần có Kim Cang Lực sĩ thường theo hộ vệ? Bản tế tịch diệt thì xa lìa phiền não, tại sao còn hiện đủ thứ quả báo ma nghiệp ác nghiệp như ngoại đạo Chiên Giá Ma Nạp giả có thai và Tôn Đà Lợi giết con gái để phỉ báng Phật, khất thực thì chẳng ai bố thí, bát không mà trở về v.v... ? Như Lai đã ngộ (đắc Nhất Thiết Chủng Trí), sao chẳng lìa được những lỗi này?

 

1. THUYẾT VÔ DƯ NIẾT BÀN:

(Còn tiếp)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn