Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Bài 22. Kinh Lăng Già giải nghĩa

21/03/201907:05(Xem: 64)
Bài 22. Kinh Lăng Già giải nghĩa

KINH LĂNG GIÀ

GIẢI NGHĨA

Toàn Không

(Tiếp theo)

 

6). NĂM THỨ CHỦNG

     TÁNH VÔ GIÁN:

- Lại nữa, Đại Huệ! Có năm thứ chủng tánh Vô gián, thế nào là năm? Ấy là: Thanh Văn thừa Vô gián (không gián đoạn) chủng tánh, Duyên Giác thừa Vô gián chủng tánh, Như Lai thừa Vô gián chủng tánh, Bất định chủng tánh và Các biệt chủng tánh (ngoại đạo chủng tánh).

 

1. THANH VĂN THỪA

VÔ GIÁN CHỦNG TÁNH

 

- Thế nào là THANH VĂN THỪA VÔ GIÁN CHỦNG TÁNH? Nếu có người nghe nói đến ấm, giới, nhập (1), tự cộng tướng (2), lúc ấy lỗ chân lông toàn thân cảm thấy nhẹ nhàng yên vui và ham tu trí tướng (3), chẳng tu tướng duyên khởi phát ngộ, khởi tâm đoạn dứt tập khí phiền não nhưng chẳng đoạn, chẳng độ bất tư nghì biến dịch sanh tử (4), chỉ độ phần đoạn sanh tử (5), cho là sinh tử của ta đã hết, phạm hạnh đã lập, sau này chẳng thọ sinh nữa, như thật biết tu tập nhân vô ngã, cho đến chứng đắc Niết Bàn của Thanh Văn, ấy gọi là Thanh Văn Thừa Vô Gián Chủng Tánh.

 

GIẢI NGHĨA:

 

(1) ẤM, NHẬP, GIỚI: Ấm gọi là Ngũ Ấm hay Ngũ Uẩn, tức Sắc, Thụ, Tưởng, Hành, Thức. Nhập là sáu nhập, tức Sáu Căn nhiếp thọ Sáu Trần, có sự cảm thọ, gọi là Sáu Nhập. Giới là Mười Tám Giới, tức Sáu Căn tiếp xúc Sáu Trần sinh ra Sáu Thức, gọi là Mười Tám Giới (xin xem chi tiết nơi Giải thích số 2, Tiểu đoạn 1, Đoạn 6, Mục 1, Quyển 1). 

(2) Tự cộng tướng: Tức là các pháp đều có tính tồn tại chung, tương đương với danh từ Cộng tướng trong ngữ vựng hiện đại.

Cộng tướng: Phạn: Sàmànya-lakwaịa: Cộng tướng là tướng chung, đối lại với Tự tướng (tướng riêng); cũng chỉ tướng không phải giới hạn ở tự tướng, mà còn có nghĩa cộng thông với các pháp khác. Nếu là tự thân chỉ có cái thể tướng đặc thù, thì gọi là Tự tướng; thực ra thì tự thể của các pháp, chỉ có trí chứng mới có thể biết, không thể dùng lời nói để thí dụ, nên gọi là Tự tướng. Còn đem tâm phân biệt cân nhắc, kén chọn các pháp, dùng lời nói để diễn tả, tìm hiểu thể nghĩa của các pháp làm chỗ cho trí phân biệt duyên theo, thì là Cộng tướng

(3) Trí tướng: Tướng đặt ra, dựng lên hình dạng, hiểu rõ sự lý của trạng mạo.

(4) Biến dịch sinh tử: Ba nghĩa của sinh tử biến dịch:

1. Sự sinh diệt nhỏ nhiệm: Gọi là Biến dịch tử vì vô thường đổi khác trong từng niệm, niệm trước đổi, niệm sau dời nên gọi là Biến dịch. Lại nữa, biến dịch là chết nên gọi là Biến dịch tử, biến dịch tử này chung cho cả phàm và thánh.

2. Thân pháp tính: Chứng được do duyên theo không dính mắc (vô lậu) gọi là Biến dịch tử, vì thân này có thần thông biến hóa vô ngại, thường chuyển biến dời đổi, nên gọi là Biến dịch , chung cho Thanh Văn, Bồ Tát.

3. Pháp thân thực chứng, thân này ẩn hiển tự tại, thường chuyển biến, thường đổi dời nên gọi là Biến dịch. Sự biến dịch này chẳng phải là chết, nhưng Pháp thân này chưa ra khỏi sinh diệt, vẫn còn là pháp sinh tử vô thường, tùy theo chỗ biến đổi trên thân mà có sinh tử, cũng gọi là Biến dịch tử; nghĩa này chỉ có trong thừa Bồ Tát. (Từ điển Phật Quang)

(5) Phân đoạn sinh tử: Việc sống chết mà hàng phàm phu phải trôi lăn trong cõi giới vô minh nầy. Cũng gọi là Hữu vi sinh tử, chỉ cho sự sinh tử của chúng sinh trong 3 cõi 6 đường. Phần đoạn sinh tử là dạng sinh tử luân hồi của hàng phàm phu, khác với Biến dị sinh tử là dạng luân hồi mà hàng Bồ Tát trải qua.

 

     Tiểu đoạn 1, Đoạn 6, Mục 3, Quyển 1, Đức Phật giảng về Thanh Văn vô gián chủng tánh, đại ý rằng: Nếu có người nghe nói đến Năm Uẩn (ấm), 6 Căn 6 Trần (nhập), 18 Giới (giới) và tướng chung của các pháp (tự cộng tướng), lúc ấy toàn thân cảm thấy nhẹ nhàng yên vui. Nghĩa là tâm không còn vướng mắc Sáu Căn, Sáu Trần, Sáu Thức nữa và ham tu về hiểu rõ sự lý của dung mạo hình dạng (trí tướng). Họ không tu tướng nhân duyên sinh khởi để phát ngộ, mà khởi tâm tu đoạn dứt tập khí phiền não nhưng chưa đoạn dứt hẵn, chưa đạt tới chỗ không thể nghĩ bàn (độ bất tư nghì) của biến dịch sinh tử. Họ chỉ đạt được (độ) phần đoạn sinh tử, nghĩa là không còn luân hồi sinh tử trong 3 cõi nữa, nên cho là sinh tử của họ đã hết, phạm hạnh đã thành, sau này chẳng thọ sinh nữa. Họ như thật biết tu tập nhân vô ngã, cho đến chứng đắc Niết Bàn của Thanh Văn; đây gọi là “Thanh Văn Thừa Vô Gián Chủng Tánh”.

 

2. DUYÊN GIÁC THỪA

VÔ GIÁN CHỦNG TÁNH

 

- Đại Huệ! Thế nào là DUYÊN GIÁC THỪA VÔ GIÁN CHỦNG TÁNH? Nếu có người nghe nói những khác biệt của nhân duyên Vô Gián, toàn thân lông dựng lên, rơi lệ dầm dề, đối với những tướng chẳng phải mười hai nhân duyên thì cảm thấy không thích, mỗi mỗi tự thân mỗi mỗi thần thông, hoặc lìa hoặc hợp, đủ thứ biến hóa, lúc nghe thuyết này, tâm liền ngộ nhập. Nếu biết họ thuộc về Duyên Giác Thừa Vô Gián chủng tánh rồi, tùy thuận căn tánh của họ mà vì họ thuyết pháp Duyên Giác Thừa, ấy gọi là tướng Duyên Giác Thừa Vô Gián Chủng Tánh.
<![if !supportLineBreakNewLine]>
<![endif]>

GIẢI NGHĨA:

     Tiểu đoạn 2, Đoạn 6, Mục 3, Quyển 1 này, Đức Phật nói đối với người khi nghe nói về 12 Nhân Duyên liên tiếp, mà xúc động cảm nhận, tâm liền ngộ nhập, trong khi nghe nói các pháp khác lại dửng dưng không màng tới. Người ưa quan sát các pháp Nhân Duyên, chẳng ưa rối rắm ồn ào, thì nên tùy thuận người này mà thuyết Duyên Giác cho họ; đây gọi làTướng Duyên Giác Thừa Vô Gián Chủng Tánh”.

 

3. NHƯ LAI THỪA VÔ

GIÁN CHỦNG TÁNH

 

- Đại Huệ! NHƯ LAI THỪA VÔ GIÁN CHỦNG TÁNH có bốn thứ:

1. - Tự tánh pháp Vô Gián chủng tánh.

2. - Ly tự tánh pháp Vô Gián chủng tánh.

3. - Đắc tự giác Thánh Vô Gián chủng tánh.

4. - Ngoài sát thù thắng Vô Gián chủng tánh.

     Đại Huệ! Nếu người nghe thuyết bốn việc này, và lúc nghe thuyết cảnh giới bất tư nghì thân tài kiến lập do tự tâm hiện, tâm chẳng kinh sợ, ấy gọi là tướng Như Lai Thừa Vô Gián Chủng Tánh.

 

GIẢI NGHĨA:

    Như Lai Thừa Vô Gián Chủng Tính có bốn thứ:

 

1- Tự Tánh Pháp Vô Gián Chủng Tánh:

     Là pháp tính chân thật, tức là bản thể của các pháp có năng lực không gián đoạn.

2- Ly Tự Tánh Pháp Vô Gián Chủng Tánh:

     Là lìa pháp tính chân thật, tức là rời bỏ bản tính các pháp có năng lực không gián đoạn.

3- Đắc Tự Giác Thánh Vô Gián Chủng Tánh:

     Là chứng đạt tự Thánh Trí Tính, tức là hiểu nhận biết nắm bắt được Thánh Trí có năng lực không gián đoạn.

4- Ngoài Sát Thù Thắng Vô Gián Chủng Tánh:

     Là ngoại quốc thổ thắng diệu pháp tính, tức là ngoài quốc độ thù thắng, có nghĩa là luôn luôn không dính mắc vào chỗ nào, tức Vô sở trụ.

 

     Đức Phật giải thích rằng nếu người nghe thuyết bốn việc này, và lúc nghe thuyết cảnh giới không thể nghĩ bàn về cái ta (ngã) và cái của ta (sở ngã) (thân tài) kiến lập do tự tâm hiện, tâm chẳng kinh sợ, đây gọi là Tướng Như Lai Thừa Vô Gián Chủng Tánh.

4. BẤT ĐỊNH CHỦNG TÁNH

- Đại Huệ! BẤT ĐỊNH CHỦNG TÁNH là: Khi người nghe thuyết ba thứ chủng tánh kể trên, tùy theo lúc nghe chủng tánh nào thì ngộ nhập chủng tánh ấy, theo đó tu tập mà thành tựu. Như nghe thuyết thừa Thanh Văn thì thành chủng tánh Thanh Văn, nghe thuyết thừa Duyên Giác thì thành chủng tánh Duyên Giác, nghe thuyết thừa Như Lai thì thành chủng tánh Như Lai, ấy gọi là Bất Định Chủng Tánh.

 

GIẢI NGHĨA:

     Đại ý khi người nghe thuyết ba thứ chủng tánh kể trên, tùy theo lúc nghe chủng tánh nào mà ngộ nhập chủng tánh ấy, rồi theo đó tu tập để thành tựu, thì gọi là Bất Định Chủng Tánh.

5. CÁC BIỆT (1) VÔ GIÁN:

     Là những chúng sanh còn chấp thật kiến giác như ngã, nhân, chúng sanh, thọ mạng, tăng trưởng thiện căn, sĩ phu (2) v.v... cầu chứng Niết Bàn. Lại nghe lời thuyết pháp của ngoại đạo, cho tất cả tánh đều có kẻ tác, nói đó là Niết Bàn, cho như thế là giác ngộ, đối với pháp Vô Ngã chẳng có phần, nên họ không thể giải thoát. Ấy là những người tu Thanh Văn thừa mà thuộc về ngoại đạo Vô Gián chủng tánh, chẳng xuất luân hồi mà cho là xuất, ấy gọi là Các Biệt Vô Gián Chủng Tánh.

- Đại Huệ! Người sơ Trị Địa (3) nói kiến lập chủng tánh là vì muốn siêu nhập Vô Sở Hữu Địa, nên có sự kiến lập này. Người tự tu tự giác, phải dứt sạch tập khí phiền não, thấy pháp Vô Ngã, từ đắc Tam muội của Thanh Văn, cho đến năm thứ chủng tánh kia, cuối cùng đều sẽ chứng đắc Pháp Thân Tối Thắng của Như Lai.

 

GIẢI NGHĨA:

(1) Biệt: Gồm: 1. Phân biệt, phân tích. Sự phân biệt (s: vikalpa); 2. Tách ra, bị chia ra, bị lìa ra; cái khác, đặc biệt, riêng lẻ, trường hợp ngoại hạng, khác, đặc điểm.

(2) Sĩ phu: Tiếng Phạn là puruṣa, phiên âm là Bổ-lô-sa, với nghĩa chỉ phần tình thức, tinh thần, bản thể của con người, tức là các hình dung thổ lộ từ nét dáng cử chỉ đến hành động; có nghĩa là tâm thức cũng như nghiệp lực của mọi chúng sinh gây ra cách cư xử như tác ý tạo tác cử chỉ hành động.

(3) Trị Địa: Trị tâm địa ví như khai thác đất hoang.

 

     Tiểu đoạn 5, Đoạn 6, Mục 3, Quyển 1 này, đại ý Đức Phật giảng về những chúng sinh còn chấp thật thấy biết như chấp ta, người, chúng sinh, đời sống tiếp nối (thọ mạng), tăng trưởng việc làm lành, dùng tình thức từ nét dáng đến cách cư xử, cử chỉ hành động (sĩ phu) v.v... cầu chứng Niết Bàn. Lại nghe lời thuyết pháp của ngoại đạo, cho tất cả tính có người tạo tác (kẻ tác), mà nói đó là Niết Bàn, cho như thế là giác ngộ; thật ra đối với pháp Vô Ngã chẳng có phần, nên họ không thể giải thoát. Đây là những người tu Thanh Văn thừa mà thuộc về ngoại đạo vô gián chủng tính, chẳng ra khỏi (xuất) luân hồi mà cho là ra khỏi, do đó gọi là “Các Biệt Vô Gián Chủng Tánh”.

 

     Ngài nói thêm: Người mới bắt đầu tu (sơ Trị Địa) nói kiến lập chủng tính là vì muốn vượt lên (siêu) nhập chỗ không tu (Vô Sở Hữu Địa), nên có sự kiến lập này. Người tự tu tự giác, phải dứt sạch tập khí phiền não, thấy pháp Vô Ngã, sẽ đắc từ Tam muội của Thanh Văn, cho đến năm thứ chủng tánh vô gián kia, cuối cùng đều sẽ chứng đắc “Pháp Thân Tối Thắng của Như Lai”.

 

6. KỆ TÓM TẮT:

 

     Khi ấy, Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

1. Tu Đà Hoàn Nhập Lưu,

Tư Đà Hàm Vãng Lai.

A Na Hàm Bất Hoàn,

Đến quả A La Hán.

2. Gọi là thừa Thanh Văn.

Tam thừa và Nhất Thừa,

Phi thừa (1) đúng ta thuyết.

Phàm phu kém trí huệ.

3. Chư Thánh xa lìa tịch (2).

Pháp môn Đệ Nhất Nghĩa,

Xa lìa giáo Nhị thừa,

Trụ nơi Vô sở hữu (3).

4. Sao lại lập Tam thừa (4).

Chư thiền pháp vô lượng,

Vô Sắc Tam Ma Đề (5),

Thọ tưởng (6) thảy tịch diệt.

Cũng chẳng có tâm lượng (7).

 

GIẢI NGHĨA:  

 

(1) Phi Thừa: Tức là Tối Thượng Thừa, chẳng thuộc tam thừa và Nhất thừa, nên nói Phi Thừa.

(2) Tịch: Tịch là đối với động, là tương đối, Chư Thánh chẳng trụ nơi tịch, nên nói XA LÌA TỊCH.

(3) Trụ Nơi Vô Sở Hữu: Là trụ nơi vô sở trụ, tức trụ nơi không trụ, là chẳng trụ, chứ chẳng phải chấp không.

(4) LẬP TAM THỪA: Là tạm thiết lập phương tiện có 3 thừa để tùy nghi độ chúng sanh.

(5) TAM MA ĐỀ: Là thay cho ba thứ thiền quán của giáo môn.

(6) Hai thứ Thọ Tưởng: Là thay cho Ngũ uẩn (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức), nên nói Thọ Tưởng thảy đều diệt.

(7) Tâm Lượng: Là chỉ tâm đo lường, vì bản thể của tâm cùng khắp không gian và thời gian, chẳng có đo lường hạn lượng, nên nói Chẳng Có Tâm Lượng.

 

     Ý bài kệ:

1. Tu Đà Hoàn Nhập Lưu,

Tư Đà Hàm Vãng Lai.

A Na Hàm Bất Hoàn,

Đến quả A La Hán.

     Ý 4 câu đầu nói về 4 qủa chứng đắc của hàng Thanh Văn: Chứng qủa thứ nhất Tu Đà Hoàn là nhập vào dòng Thánh gọi là nhập lưu, tái sinh 7 lần; qủa thứ hai Tư Đà Hàm, tái sinh một lần rồi tu tiếp gọi là vãng lai; qủa thứ ba A Na Hàm không còn tái sinh mà sinh cõi Trời tu tiếp gọi là Bất hoàn; qủa thứ tư A La Hán là bậc Thánh.

 

2. Gọi là thừa Thanh Văn.

Tam thừa và Nhất Thừa,

Phi thừa (1) đúng ta thuyết.

Phàm phu kém trí huệ.

     Phương tiện mà nói Tam thừa, chứ thật ra chỉ có một Tối thượng thừa.

 

3. Chư Thánh xa lìa tịch (2).

Pháp môn Đệ Nhất Nghĩa,

Xa lìa giáo Nhị thừa,

Trụ nơi Vô sở hữu (3).

     Pháp môn chân thật phải xa lià đối đãi tương đối và nhị thừa, bậc Thánh trụ nơi không trụ.

 

4. Sao lại lập Tam thừa (4).

Chư thiền pháp vô lượng,

Vô Sắc Tam Ma Đề (5),

Thọ tưởng (6) thảy tịch diệt.

Cũng chẳng có tâm lượng (7).

     Lập Tam thừa để phương tiện giáo hóa chúng sinh, về pháp thiền hành có vô số, nhưng những “cảm giác, tưởng nhớ” (Thọ, Tưởng) đều phải tịch diệt vắng lặng, tâm cũng chẳng sinh khởi đo lường phân biệt.

 

 (Còn tiếp)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn