Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Bài 10. Kinh Lăng Già giải nghĩa

03/01/201919:20(Xem: 100)
Bài 10. Kinh Lăng Già giải nghĩa

KINH LĂNG GIÀ

GIẢI NGHĨA

Toàn Không

(Tiếp theo)

 

3). TƯƠNG TỤC DIỆT:

 

- Đại Huệ! Sao nói TƯƠNG TỤC DIỆT? Bởi cái nhân của tương tục đã diệt thì tương tục phải diệt, sở nhân diệt thì sở duyên cũng phải diệt, sở nhân và sở duyên đều diệt thì tương tục cũng phải diệt; vì có sở nương tựa, nói "Nương tựa" là vọng tưởng huân tập từ vô thỉ; nói "Duyên" là tự tâm hiện những cảnh vọng tưởng của thức.

- Đại Huệ! Ví như cục đất với vi trần có khác, cũng không có khác, dùng vàng ròng làm ra những đồ trang sức cũng vậy; Đaị Huệ! Nếu cục đất với vi trần có khác thì cục đất chẳng do vi trần họp thành, mà thật thì do vi trần họp thành, nên nói chẳng khác. Nếu chấp thật chẳng khác thì cục đất với vi trần chẳng có phân biệt.

- Như thế, Đại Huệ! Chân tướng của chuyển thức (1) với Tạng thức (2) nếu là khác thì Tạng thức chẳng phải cái nhân của chuyển thức, nếu là chẳng khác thì chuyển thức diệt Tạng thức cũng phải diệt, mà chân tướng của nó thật chẳng diệt. Cho nên Đại Huệ! Chẳng phải tự thức của chân tướng diệt, chỉ là nghiệp tướng diệt, nếu tự thức của chân tướng diệt thì tạng thức cũng phải diệt, nếu Tạng thức diệt thì chẳng khác gì đoạn kiến của ngoại đạo!

- Đại Huệ! Các phái ngoại đạo lập luận như thế này: "Cảnh giới nhiếp thọ (3) diệt thì sự lưu chú của thức cũng diệt"; nếu sự lưu chú của thức diệt thì sự lưu chú từ vô thỉ phải đoạn dứt. Đại Huệ! Ngoại đạo nói cái nhân sinh khởi của lưu chú, chẳng do nhãn thức, sắc không và sáng tối hoà hợp mà sanh, ngoài ra còn có các nhân khác. Đại Huệ! Cái nhân của họ nói như thắng diệu, như sĩ phu (4), như tự tại, như thời gian, như vi trần v.v...

GIẢI NGHĨA:

(1) Chuyển thức:  Phạn: Pravfttivijĩàna. Tông Duy thức nói về bảy Thức chuyển khởi, tức là bảy Thức trước: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân (5 thức đầu), Ý thức (Thức thứ 6) và Mạt na (Thức thứ 7). Chuyển, là chuyển biến, chuyển đổi, chuyển khởi, chuyển dịch; có nghĩa là bảy Thức trước lấy Thức A lại da (Thức thứ 8) làm chỗ nương tựa, rồi duyên theo các cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp mà chuyển khởi, có khả năng chuyển đổi ba cảm thụ khổ, lạc, xả, chuyển biến ba tính thiện, ác, vô kí, vì thế gọi là bảy Chuyển thức.

(2) Tạng thức: S: ālaya-vijñāna: A-lại-da thức.

(3) Nhiếp thụ: Thu lấy thọ nhận.

(4) Sĩ Phu: Nghĩa Hán là bậc trí thức, ở đây ám chỉ cách cư xử như: tình thức, tinh thần, do tâm thức nghiệp lực gây ra cách cư xử tác ý tạo cử chỉ hành động.

 

     Đoạn 3, Mục 1, Quyển 1 này, Đức Phật giảng: “Sao nói TƯƠNG TỤC DIỆT? Bởi cái nhân của tương tục đã diệt thì tương tục phải diệt, sở nhân diệt thì sở duyên cũng phải diệt, sở nhân và sở duyên đều diệt thì tương tục cũng phải diệt; vì có sở nương tựa, nói "Nương tựa" là vọng tưởng huân tập từ vô thỉ; nói "Duyên" là tự tâm hiện những cảnh vọng tưởng của thức”.  Nghĩa là do nhân đã diệt thì duyên cũng phải diệt, vì không có nhân làm sao có duyên được; nếu nhân và duyên đều diệt thì sự tương tục của vọng tưởng phải diệt. Ví như ông A trước kia nghèo nên phải đi ăn xin, nay ông A giàu nên không còn đi ăn xin nữa, vì cái “nhân” nghèo đã diệt rồi, nên không còn “duyên” đi ăn xin nữa là vậy. Về vọng tưởng có nơi nương tựa là vì đã huân tập từ vô thủy làm nhân nên mới tạo duyên cho tâm tự hiện những cảnh vọng tưởng của thức.

 

     Đức Phật lấy thí dụ cục đất và hạt bụi, Ngài bảo chẳng phải cục đất khác hạt bụi hay cục đất cũng chẳng khác hạt bụi, để chỉ cho chân tướng của 7 Thức đầu và Thức thứ 8 là khác hay chẳng khác. Ngài lý luận rằng:Chân tướng của chuyển thức (1) với Tạng thức (2) nếu là khác thì Tạng thức chẳng phải cái nhân của chuyển thức, nếu là chẳng khác thì chuyển thức diệt Tạng thức cũng phải diệt, mà chân tướng của nó thật chẳng diệt. Cho nên Đại Huệ! Chẳng phải tự thức của chân tướng diệt, chỉ là nghiệp tướng diệt, nếu tự thức của chân tướng diệt thì tạng thức cũng phải diệt, nếu Tạng thức diệt thì chẳng khác gì đoạn kiến của ngoại đạo!”

 

     Nghĩa là nếu 7 Thức đầu (chuyển thức) khác Thức thứ 8 (Tạng thức) thì Thức thứ 8 chẳng phải là nhân của sự chuyển biến của 7 Thức đầu; nếu là chẳng khác thì khi 7 Thức đầu diệt Thức thứ 8 cũng phải diệt, mà sự thực thì không phải vậy, vì khi 7 Thức đầu diệt, Thức thứ 8 chẳng diệt. Cho nên chẳng phải nguồn gốc thức của tướng chân thật (tự thức của chân tướng) diệt mà chỉ là dung mạo hình dạng của nghiệp báo tiêu diệt (nghiệp tướng diệt). Nếu tự thức của chân tướng 7 Thức đầu diệt thì Thức thứ 8 tức Tạng thức phải diệt; nếu Tạng thức diệt tức là khi chết là hết, đồng nghĩa với thuyết “Đoạn diệt” của ngoại đạo là không đúng.

 

     Ngài bảo: “Các phái ngoại đạo lập luận như thế này: "Cảnh giới nhiếp thọ (3) diệt thì sự lưu chú của thức cũng diệt"; nếu sự lưu chú của thức diệt thì sự lưu chú từ vô thỉ phải đoạn dứt. Đại Huệ! Ngoại đạo nói cái nhân sinh khởi của lưu chú, chẳng do nhãn thức, sắc không và sáng tối hoà hợp mà sanh, ngoài ra còn có các nhân khác…”.

 

     Nghĩa là ngoại đạo lập luận rằng cảnh giới mà 7 thức đầu thọ nhận dung nạp diệt thì sự ghi nhận trụ lại của thức cũng diệt luôn, điều này không đúng, vì Thức thứ 8 luôn luôn ghi nhận do Thức thứ 7 chuyển vào, dù cảnh giới nhiếp thụ diệt nhưng những gì đã nhiếp thọ trước kia vẫn tồn tại không mất. Ngoại đạo còn cho rằng nhân sinh khởi của sự ghi lại và chuyển biến (lưu trú) chẳng do Nhãn thức sắc không và sáng tối hòa hợp mà sinh, thực ra thì ngược lại và còn các nhân khác nữa.

4). CHỦNG TÁNH CỦA TỰ TÁNH:

- Lại nữa Đại Huệ! Có bảy thứ chủng tánh(1) của tự tánh (2), gọi là: Hoà hợp tự tánh, tánh tự tánh, tướng tự tánh, đại chủng tự tánh (3), nhân tự tánh, duyên tự tánh và thành tựu tự tánh.

 

GIẢI NGHĨA:

 

(1) Chủng tánh: Ch Phạn: Gotra. Phật và những người tu ba thừa Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát đều đủ bản tính có khả năng chứng được Bồ đề; chủng tính có hai loại là tiên thiên đã sẵn có và hậu thiên do tu hành mà được. Loại trước gọi là Bản tính trụ chủng tính, gọi tắt là Tính chủng tính, loại sau gọi là Tập sở thành chủng tính, gọi tắt là Tập chủng tính, đây là thuộc học phái Hộ pháp. Thuyết nhất thiết hữu bộ Nam truyền không thừa nhận chúng sinh có tính thành Phật tiên thiên, cho nên chỉ bàn về thuyết sau thôi; còn Tông Duy thức Bắc truyền thì thừa nhận năm tính có khác biệt về mặt tiên thiên, cho nên nói Tính chủng tính.

(2) Tự tánh: bản thể của tâm, bản tính của các pháp, cũng tức là Chân như, hay Như lai tạng.

(3) Đại chủng:  Từ chữ Phạn: Mahàbhùta: Chỉ cho bốn yếu tố lớn (Tứ đại) địa, thủy, hỏa, phong (đất, nước, lửa, gió) cấu tạo thành các sắc pháp (vật chất); cũng gọi là Năng tạo đại chủng, Tứ đại chủng. Đó là: - Địa đại (Pṛthivī-dhātuḥ) có tính cứng chắc - Thủy đại (Ab-dhātuḥ) có tính ẩm ướt - Hỏa đại (Tejo-dhātuḥ) có tính ấm nóng - Phong đại (Vāyu-dhātuḥ) có tính chuyển động.

 

     Về Đoạn 3, Mục 1, Quyển 1 này, Đức Phật giảng Chủng tính của Tự tính, có 7 thứ với ý nghĩa như sau:

1. HÒA HỢP TỰ TÁNH:

     Hòa hợp tự tánh là tự tính của các thứ hòa hợp với nhau, như thân người do Bốn đại hòa hợp với nhau mà thành.

2. TÁNH TỰ TÁNH:

     Tánh tự tánh là Tính sẵn có.

3. TƯỚNG TỰ TÁNH:

     Tướng tự tánh là tướng thể hiện cho Tự tính như tướng cứng thể hiện cho Đất, tướng ướt thể hiện cho tướng Nước, tướng ấm thể hiện cho tướng Lửa, tướng chuyển động thể hiện cho tướng Gió v.v....

4. ĐẠI CHỦNG TÁNH:

     Đại chủng tự tánh gồm có hai thứ là: Tính chủng tự tính (sẵn có) và Tập chủng tự tính (huân tập).

5. NHÂN TỰ TÁNH:

      bản tính các pháp làm nhân cho một sự việc, như hột lúa làm nhân cho cây lúa v.v...

6. DUYÊN TỰ TÁNH.

     Là bản tính các pháp làm duyên cho một sự việc, như đất, nước, ánh sáng v.v… làm duyên cho cây lúa.

7. THÀNH TỰU TỰ TÁNH:

     Là Trí của bậc hiền thánh không có một niệm, chỉ có hằng tri hằng giác, đó là Chính trí Như như.

5). BẢY THỨ ĐỆ NHẤT NGHĨA:

 (Còn tiếp)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn