Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Bài 77. Kinh Lăng Già giải nghĩa

09/04/202009:10(Xem: 84)
Bài 77. Kinh Lăng Già giải nghĩa

KINH LĂNG GIÀ

GIẢI NGHĨA

Toàn Không

(Tiếp theo)

 

2). TƯỚNG THỨ LỚP

TƯƠNG TỤC DIỆT TẬN ĐỊNH:

 

     Khi ấy, Đại Huệ Bồ Tát lại bạch Phật rằng:

- Thế Tôn! Cúi xin vì đại chúng thuyết tướng thứ lớp tương tục Diệt Tận Định (1) của tất cả Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác. Nếu khéo biết tướng thứ lớp tương tục Diệt Tận Định, thì khiến con và các Bồ Tát chẳng vọng xả sự vui của pháp môn Diệt Tận Định, cuối cùng chẳng đọa sự ngu si của tất cả ngoại đạo Thanh Văn và Duyên Giác.

     Phật bảo Đại Huệ:

- Hãy chú ý nghe và khéo ghi nhớ, Ta sẽ vì ngươi mà thuyết.

Đại Huệ Bồ Tát bạch Phật rằng:

- Thế Tôn! Cúi xin thọ giáo.

     Phật bảo Đại Huệ:

1- Từ Sơ Địa đến Lục Địa Bồ Tát đắc nhân Vô Ngã, nhập Diệt Tận Định với Thanh Văn, Duyên Giác chẳng khác; vì nơi định có xuất có nhập, chưa thể niệm niệm nhập. Thất Địa Bồ Tát nhập Diệt Tận Định lìa tất cả tướng hữu vô. Dù có tánh Niết Bàn mà chẳng trụ, chẳng như Nhị Thừa có nhiếp thọ sự vui của chánh định, cho chánh định là thiện, duyên theo hữu vi (2) nhập Diệt Tận Định, đọa cảnh giới năng nhiếp sở nhiếp và có hành có giác. Cho nên Thất Địa Bồ Tát niệm niệm nhập Diệt Tận Định mà chẳng nghĩ Diệt Tận Định là thiện, đắc tất cả pháp tướng chẳng sai biệt, chẳng phân biệt pháp hữu, pháp vô, pháp thiện, pháp bất thiện.

2- Đại Huệ! Bát Địa Bồ Tát xả lìa Tạng thức chẳng những đối với tất cả pháp mỗi mỗi tướng diệt, cho đến tâm, ý, ý thức hư vọng phân biệt của Thanh Văn, Duyên Giác cũng diệt. Từ Sơ Địa cho đến Thất Địa Bồ Tát sở tu quán hạnh, thấy tất cả các pháp nơi tam giới chỉ do tâm, ý, ý thức sở hiện tâm lượng, lìa ngã và ngã sở v.v... cũng chuyển diệt luôn, chẳng thấy ngoài pháp có mỗi mỗi các tướng. Ngoại đạo ở nơi tự tâm khởi vọng tưởng phân biệt, hư vọng tu tập, thấy ở ngoài pháp có tướng để đắc, thì đọa mỗi mỗi tướng ngoài tánh. Ấy là hai thức chấp trước của phàm phu ngoại đạo, dùng tự tâm nhiếp tự tâm, thấy có pháp năng nhiếp sở nhiếp bèn nói tất cả đoạn diệt, chẳng biết do tập khí hư ngụy từ vô thỉ sở huân mà đoạn diệt chủng tánh Phật.

3- Đại Huệ! Bát Địa Bồ Tát sở đắc Tam muội với Thanh Văn, Duyên Giác dù hơi giống nhau, nhưng Bồ Tát có chánh giác gia trì, nên dù có sự vui của Tam muội mà chẳng nhập Niết Bàn. Nếu chẳng có chánh giác gia trì thì như Nhị Thừa tự yên ổn, chẳng thể trọn vẹn bằng Đại Như Lai, mà tự chứng Niết Bàn, xả bỏ tất cả chúng sanh, chẳng vì chúng sanh thuyết pháp hữu vi để dần dần dẫn dắt chúng sanh vào tri kiến Như Lai (3) thì Phật chủng ấy phải đoạn dứt. Chư Phật Thế Tôn vì muốn khiến Nhị Thừa nối tiếp Phật Chủng, nên hiển thị vô lượng công đức bất khả tư nghì của Như Lai, nhưng hàng Thanh Văn, Duyên Giác ham trụ sự vui của Tam muội chẳng chịu hồi tâm tiến lên Đại thừa, lại tự cho là đã chứng Niết Bàn.

4- Đại Huệ! Ta sở dĩ nhấn mạnh bộ phận "Thất Địa" là muốn hành giả khéo tu phương tiện, xa lìa các tướng tâm, ý, ý thức và kiến chấp ngã, ngã sở, nhiếp thọ nhơn vô ngã, pháp Vô Ngã và Biện tài Tứ vô ngại (4), đắc sức quyết định nơi Tam Muội Môn, từ những đạo phẩm tương tục từ trước đến đây lần lượt tiến lên Bát Địa cho đến Thập Địa. Vì e sợ các Bồ Tát chẳng khéo liễu tri tự tướng cộng tướng (5) và sự thứ lớp tương tục của chư Địa mà đọa nơi ác kiến (6) của ngoại đạo, nên kiến lập thứ lớp của chư Địa. Đại Huệ! Ngoại trừ tự tâm hiện lượng (7), thật chẳng có pháp sanh pháp diệt, chư Địa thứ lớp tương tục và đoạn đứt mỗi mỗi hạnh mê hoặc rơi vào tam giới, chỉ vì phàm phu chẳng giác ngộ, nên Ta và chư Phật thuyết chư Địa thứ lớp tương tục và thuyết pháp đoạn dứt mỗi mỗi hạnh mê hoặc nơi tam giới.

5- Lại nữa, Đại Huệ! Bồ Tát Đệ Bát Địa vì muốn diệt ham trụ sự vui nơi Tam muội của Thanh Văn, Duyên Giác, biết họ chẳng khéo giác tự tâm hiện lượng của tự tướng cộng tướng, bị rươu tập khí say mê sở chướng, đọa kiến chấp nhiếp thọ nhân pháp Vô Ngã, vọng tưởng cho là Niết Bàn, chẳng phải trí huệ tịch diệt của tự giác. Đại Huệ! Bồ Tát thấy sự vui của Tam Muội Môn tịch diệt, do bổn nguyện đại bi thành tựu thương xót chúng sanh, phân biệt liễu tri Thập Vô Tận Cú (8), chẳng trụ vọng tưởng Niết Bàn. Vì bậc họ biết vốn đã Niết Bàn, nên vọng tưởng chẳng sanh, lìa năng nhiếp sở nhiếp của vọng tưởng, giác liễu tự tâm hiện lượng nơi tất cả các pháp, vì vọng tưởng chẳng sanh nên chẳng đọa nơi tâm, ý, ý thức và tướng vọng tưởng chấp trước ngoài tánh của tự tánh. Đối với Phật pháp chẳng có cái nhân bất sanh, là tùy theo trí huệ mà sanh, nên chứng đắc Như Lai Tự Giác Địa.

6- Như người trong mộng dùng phương tiện qua sông, nhưng chưa qua đã thức, thức rồi suy nghĩ là chánh hay tà, hoặc phi chánh phi tà. Người ấy do tưởng nhớ mỗi mỗi tập khí của kiến văn giác tri (9) từ vô thỉ, nên ở mỗi mỗi hình xứ đọa tướng hữu và vô, thành có giấc mơ hiển hiện nơi tâm, ý, ý thức nên suy nghĩ như thế.

7- Đại Huệ! Như thế, Đại Bồ Tát nơi Đệ Bát Địa thấy chỗ vọng tưởng sanh, từ Sơ Địa tiến đến Thất Địa, thấy tất cả pháp như huyễn, dùng phương tiện độ thoát cái tâm vọng tưởng năng nhiếp sở nhiếp xong, dùng phương tiện của Phật pháp khiến người chưa chứng đắc được chứng đắc. Đại Huệ! Đây là phương tiện chẳng đoạn đứt nơi Niết Bàn của Bồ Tát, lìa tâm, ý, ý thức, đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn (10). Đại Huệ! Nơi Đệ Nhất Nghĩa (11) chẳng có thứ lớp tương tục, nói "Vọng tưởng Vô Sở Hữu (12)" là pháp tịch diệt.

 

GIẢI NGHĨA:   

 

(1) Diệt Tận Định: Tu thiền định diệt tâm nhớ nghĩ cảm giác (thụ tưởng) của Ý thức Thức thứ sáu và diệt ngã chấp Thức thứ bảy để đạt định sâu trong vô tâm, sẽ xuất ly Tam giới.

 

(2) Hữu vi: Tất cả các dính mắc về nhân duyên tạo tác trong dục giới, sắc giới, vô sắc giới, đếu sinh diệt, đều vô thường và khổ.

 

(3) Tri Kiến Như Lai: Tính biết luôn luôn trong lặng sáng tỏ mà không hình tướng.

 

(4) Biện tài Tứ vô ngại: Là bốn biện tài, đó là:

1. Nghĩa Biện (Nghĩa lý biện tài),

2. Pháp Biện (Giảng các đề tài giáo lý),

3. Ứng Biện (Ứng đáp trôi chảy), và

4. Tự Biện (Tự mình đưa ra cách biện luận),

 

5) Tự tướng cộng tướng: Tướng riêng cộng thông với các tướng khác.

 

(6) Ác Kiến:  Có 5 loại: Ngã kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến (Xin xem giải thích chi tiết nơi Giải thích 4, Đoạn 5, Mục 1, Quyển 1).

 

(7) Tự tâm hiện lượng: Lượng là đo lường, Tâm hiện lượng là nhận biết chưa suy xét đã nhận thức đối tượng.

 

(8) Thập vô tận cú:  Chư Phật có 10 không hai: 1. Thọ ký, 2. Tùy thuận tâm chúng sinh khiến họ thỏa nguyện, 3. Giáo hóa bình đẳng, 4. Quyết định, 5. Thiện căn, 6. Diễn thuyết nghĩa lý, 7. Trí huệ chư Phật, 8. Sát na (mau chóng) nơi tam thế, 9. Biết tất cả cõi Phật vào một cõi, 10. Biết lời của tất cả Chư Phật là lời của một Phật

 

(9) Kiến văn giác tri: Là thấy nghe tỉnh biết, do tác dụng của bộ não, trong kinh gọi là Nhất niệm vô minh.

 

(10) Vô sinh pháp nhẫn: Là nhẫn nhục nhịn chịu để tu hành hầu thể nhập lý vô sinh vô diệt, tức là nhập thật tướng, mà thật tướng thì không sinh không diệt, nên nhập thật tướng tức là chân trí tuệ gọi là vô sinh pháp nhẫn.

 

(11)  Đệ nhất nghĩa: Cũng gọi là Thánh đế đệ nhất nghiã, là chân đế cao nhất, chân lí tuyệt đối.

 

(12) Vô sở hữu: Là không có tướng hiện hữu, là trống không, là không.

 

(Còn tiếp)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn