Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Bài 71. Kinh Lăng Già giải nghĩa

27/02/202007:26(Xem: 45)
Bài 71. Kinh Lăng Già giải nghĩa

KINH LĂNG GIÀ

GIẢI NGHĨA

Toàn Không

(Tiếp theo)

 

2). BẤT SINH BẤT DIỆT

     CỦA NGOẠI ĐẠO:

 

     Khi ấy, Đại Hụê Bồ Tát lại thừa oai thần Phật mà bạch rằng:

- Bạch Thế Tôn! Pháp Bất sanh Bất diệt của Thế Tôn hiển thị chẳng có gì lạ. Tại sao? Vì lập cái nghĩa NHÂN của tất cả ngọai đạo, cũng nói bất sanh bất diệt, Thế Tôn cũng nói chẳng phải số lượng duyên diệt, là Niết Bàn Bất sanh Bất diệt. Thế Tôn! Ngoại đạo nói nhân duyên sanh thế gian, Thế Tôn cũng nói do vọng tưởng vô minh nghiệp ái làm duyên sanh khởi thế gian. Họ nói nhân, đây nói duyên, ấy chỉ là danh từ sai biệt thôi. Nhân duyên các vật cũng như thế, Thế Tôn với ngọai đạo lập luận chẳng có sai biệt. Ngoại đạo nói vi trần, thắng diệu, tự tại, chúng sanh, chúa v.v... Có chín sự vật bất sanh, bất diệt; Thế Tôn cũng nói tất cả tánh bất sanh, bất diệt, hữu và vô bất khả đắc. Ngoại đạo cũng nói tứ đại chẳng hoại, tự tánh bất sanh bất diệt, tứ đại thường là tứ đại, cho đến luân hồi lục đạo mà chẳng xa lìa tự tánh; Thế Tôn sở thuyết cũng như thế. Cho nên con nói chẳng có gì lạ. Nay cúi xin Thế Tôn vì đại chúng thuyết pháp đặc biệt, kỳ lạ hơn các pháp ngoại đạo; nếu pháp chẳng sai biệt thì tất cả ngoại đạo cũng đều là Phật, vì cùng nói bất sanh, bất diệt vậy. Lại, Thế Tôn nói nơi một thế giới mà có nhiều Phật ra đời là chẳng có chỗ đúng, nếu theo lời sở thuyết trên thì trong một thế giới phải có nhiều Phật, vì pháp ngoại đạo với Phật chẳng sai biệt vậy.

     Phật bảo Đại Huệ:

- Ta nói BẤT SANH BẤT DIỆT, chẳng đồng bất sanh bất diệt của ngoại đạo, tại sao? Vì các ngoại đạo họ chấp có tánh của tự tánh để đắc tướng bất sanh bất biến, Ta chẳng như thế mà đọa sự hữu và vô. Đại Huệ! Pháp Ta nói lìa hữu và vô, lìa sanh diệt, phi tánh phi vô tánh, mỗi mỗi pháp như mộng huyễn hiện, nên phi vô tánh. Nói VÔ TÁNH là sắc tướng chẳng có tự tánh nhiếp thọ, hiện như chẳng hiện, nhiếp như chẳng nhiếp. Do đó nên nói tất cả tánh vô tánh, cũng phi vô tánh. Hễ giác được tự tâm hiện lượng thì vọng tưởng chẳng sanh, yên ổn an lạc, dứt hẳn việc thế gian.

- Phàm phu ngu si, dùng vọng tưởng làm việc, chẳng phải Thánh Hiền, biết vọng tưởng chẳng thật như thành Càn Thát Bà và người huyễn hóa. Đại Huệ! Như trong thành Càn Thát Bà, có người huyễn hoá, người buôn bán, đủ thứ chúng sanh ra vào, phàm phu vọng tưởng cho có người chơn thật ra vào, nhưng thật thì chẳng có kẻ ra người vào. Như thế, Đại Huệ! Phàm phu ngu si khởi tưởng mê hoặc bất sanh bất diệt, thật cũng chẳng có hữu vi vô vi, hoặc sanh hoặc diệt của người huyễn, kỳ thật người huyễn vốn chẳng có. Tất cả pháp cũng như thế, lìa nơi sanh diệt, tánh và vô tánh đều Vô Sở Hữu. Phàm phu ngu si, đọa kiến chấp bất như thật, khởi vọng tưởng sanh diệt, BẤT NHƯ THẬT của các bậc Thánh Hiền thì chẳng như vậy. Nhưng tánh và phi tánh với vọng tưởng cũng chẳng có khác, nếu khác với vọng tưởng, chấp trước tất cả tánh của tự tánh thì chẳng thấy tịch tịnh. Nếu chẳng thấy tịch tịnh thì rốt cuộc chẳng thể lìa vọng tưởng. Cho nên Đại Huệ! Chẳng có thấy tướng mà thấy vô tướng mới đúng. "Thấy Tướng" là cái nhân thọ sanh nên chẳng đúng, vô tướng thì vọng tưởng chẳng sanh, chẳng khởi chẳng diệt, Ta nói là Niết Bàn. Đại Huệ! Nói Niết Bàn là thấy nghĩa chơn thật, lìa pháp tâm, tâm số của vọng tưởng, cho đến đắc Như Lai Tự Giác Thánh Trí, Ta nói là Niết Bàn.

     Khi ấy Thế Tôn lập lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

1. Diệt trừ Nhân Sanh Luận,

Kiến lập nghĩa bất sanh.

Pháp ta thuyết như thế,

Phàm phu chẳng thể biết.

2. Tất cả pháp Bất sanh,

Vô Tánh Vô Sở Hữu.

Như thành Càn Thát Bà,

Và mộng huyễn vô nhân.

3. Bất sanh chẳng tự tánh,

Pháp KHÔNG có nhân gì?

Vì lìa nơi hòa hợp,

Tánh giác tri chẳng hiện.

4. Nên pháp Không bất sanh.

Ta nói chẳng tự tánh.

Vì mỗi mỗi hòa hợp,

Dù hiện chẳng thật có.

5. Phân tích chẳng hòa hợp,

Kiến chấp của ngoại đạo.

Như mộng huyển hoa đốm,

Và thành Càn Thát Bà.

6. Mỗi mỗi việc thế gian,

Vô nhân mà tướng hiện.

Hàng phục Hữu Nhân Luận,

Hiển bày nghĩa Vô Sanh.

7. Pháp Vô Sanh hiển bày,

Thì dòng pháp chẳng dứt.

Vô sanh tức vô nhân,

Các ngoại đạo kinh sợ.

     Khi ấy Đại Huệ Bồ Tát dùng kệ hỏi rằng:

Thế nào là Sở nhân?

Do nhân nào có sanh?

Ở nơi nào hòa hợp,

Mà lập Vô Nhân Luận?

     Thế Tôn dùng kệ đáp rằng:

Quán sát pháp Hữu vi,

Chẳng nhân chẳng vô nhân.

Ngoại đạo sanh diệt luận,

Kiến chấp từ đây diệt.

 

GIẢI NGHĨA:

     Đoạn 2, Mục 1, Quyển 4 này, Bồ Tát Đại Hụê lại bạch Phật đại ý rằng: Pháp không sinh diệt của Thế Tôn hiển thị chẳng có gì lạ, vì cái nghĩa Nhân của tất cả ngọai đạo cũng nói không sinh diệt, Thế Tôn cũng nói chẳng phải số lượng duyên diệt là Niết Bàn không sinh diệt. Ngoại đạo nói nhân duyên sinh thế gian, Thế Tôn cũng nói do vọng tưởng vô minh nghiệp ái làm duyên sinh khởi thế gian; họ nói nhân, Ngài nói duyên, đây chỉ là danh từ sai biệt thôi, nhân duyên các vật cũng như thế, Thế Tôn với ngọai đạo lập luận chẳng có sai biệt. Ngoại đạo nói vi trần, thắng diệu, tự tại, chúng sinh, v.v... có chín sự vật bất sinh bất diệt; Thế Tôn cũng nói tất cả tính bất sinh bất diệt, có và không bất khả đắc. Ngoại đạo cũng nói tứ đại chẳng hoại, tự tánh bất sinh bất diệt, cho đến luân hồi lục đạo mà chẳng xa lìa tự tánh; Thế Tôn thuyết cũng như thế, cho nên con nói chẳng có gì lạ. Nay cúi xin Thế Tôn vì đại chúng thuyết pháp đặc biệt, khác lạ hơn các pháp ngoại đạo, nếu pháp chẳng sai biệt thì tất cả ngoại đạo cũng đều là Phật, vì cùng nói bất sinh bất diệt vậy. Lại nữa, Thế Tôn nói nơi một thế giới mà có nhiều Phật ra đời là chẳng có chỗ đúng, nếu theo lời thuyết trên thì trong một thế giới phải có nhiều Phật, vì pháp ngoại đạo với Phật chẳng sai biệt vậy.

     Đức Phật giảng rằng: “- Ta nói BẤT SANH BẤT DIỆT, chẳng đồng bất sanh bất diệt của ngoại đạo, tại sao? Vì các ngoại đạo họ chấp có tánh của tự tánh để đắc tướng bất sanh bất biến, Ta chẳng như thế mà đọa sự hữu và vô. Đại Huệ! Pháp Ta nói lìa hữu và vô, lìa sanh diệt, phi tánh phi vô tánh, mỗi mỗi pháp như mộng huyễn hiện, nên phi vô tánh. Nói VÔ TÁNH là sắc tướng chẳng có tự tánh nhiếp thọ, hiện như chẳng hiện, nhiếp như chẳng nhiếp. Do đó nên nói tất cả tánh vô tánh, cũng phi vô tánh. Hễ giác được tự tâm hiện lượng thì vọng tưởng chẳng sanh, yên ổn an lạc, dứt hẳn việc thế gian”.

     Nghĩa là Đức Phật nói Không sinh diệt, chẳng giống không sinh diệt của ngoại đạo, vì các ngoại đạo họ chấp thật cái đối đãi giả danh (chấp có tính) của bản thể tâm (tự tánh) để có được những hình dạng hình thức (để đắc tướng) bất sinh bất biến, Ngài chẳng như thế để rơi vào có và không. Pháp của Đức Phật lìa có và lìa không, lìa sinh diệt, chẳng phải tính chẳng phải không tính (phi tánh phi vô tánh), các pháp như mộng huyển hiện; nói tính không (vô tánh) là sắc tướng chẳng có bản thể tâm thọ nhận (tự tánh nhiếp thọ), hiện như chẳng hiện, nhận như chẳng nhận. Do đó nói tất cả tính không tính, cũng chẳng phải không tính, hễ biết được sự nhận biết phân biệt sai của khái niệm chưa suy xét (giác được tự tâm hiện lượng) thì vọng tưởng chẳng sinh, được yên ổn an lạc, dứt hẳn việc thế gian.

     Ngài giảng tiếp, đại ý: Phàm phu si mê, dùng vọng tưởng làm việc, chẳng phải Thánh Hiền biết vọng tưởng chẳng thật ví như thành Càn Thát Bà và người huyển hóa. Như trong thành Càn Thát Bà, có người huyển hoá, như người buôn bán, đủ thứ chúng sinh ra vào, phàm phu vọng tưởng cho là có người thật ra vào, nhưng thật thì chẳng có kẻ ra người vào. Như thế, phàm phu ngu si, khởi tưởng mê hoặc, thật ra chẳng có dính mắc phiền não (hữu vi), chẳng có như như tuyệt đối (vô vi), hoặc sinh hoặc diệt của người huyển, kỳ thật người huyển vốn chẳng có. Tất cả pháp cũng như thế, lìa nơi sinh diệt, tính cách chân thật (tánh) và đối đãi giả  danh (vô tánh) đều không có chỗ tức là hư không (Vô Sở Hữu); phàm phu si mê rơi vào kiến chấp không như thật (bất như thật), khởi vọng tưởng sinh diệt, các bậc Thánh Hiền thì chẳng Có Không Như Thật như vậy. Nhưng tính và chẳng tính với vọng tưởng cũng chẳng có khác, nếu khác với vọng tưởng, chấp trước tất cả bản thể tính (tự tánh) thì chẳng thấy tịch tịnh, nếu chẳng thấy tịch tịnh thì rốt cuộc chẳng thể lìa vọng tưởng; cho nên thấy tướng mà như thấy không tướng mới đúng. "Thấy Tướng" là cái nhân thọ sinh nên chẳng đúng, thấy không tướng thì vọng tưởng chẳng sinh chẳng diệt, nên nói là Niết Bàn. Nói Niết Bàn là thấy nghĩa chân thật, do lìa bỏ mọi hiện tượng tâm lí, sinh lí và vật lí trong vũ trụ, cụ thể như vạn vật, trừu tượng  như tư tưởng, đạo đức, chân lí, v.v...(pháp tâm). Dứt trừ hết những hiện tượng biểu hiện do 8 Tâm vương hoạt động, gồm 51 Tâm sở (tâm số) về ý niệm nhận thức tưởng tượng những hình ảnh cảm giác (vọng tưởng), cho đến đắc Như Lai Tự Giác Thánh Trí cũng vậy. Như thế Phật gọi là Niết Bàn.

     Đức Phật lập lại bằng bài kệ với ý rằng:

1. Diệt trừ Nhân Sanh Luận,

Kiến lập nghĩa bất sanh.

Pháp ta thuyết như thế,

Phàm phu chẳng thể biết.

2. Tất cả pháp Bất sanh,

Vô Tánh Vô Sở Hữu.

Như thành Càn Thát Bà,

Và mộng huyễn vô nhân.

     Nghĩa là pháp của Phật diệt trừ Nhân Sinh Luận, phàm phu chẳng thể biết nghĩa không sinh; tất cả pháp không sinh, chỉ là đối đãi giả danh (vô tánh) đều là trống không (Vô Sở Hữu), như thành Càn Thát Bà không thật, không nhân giả dối như mộng ảo.

3. Bất sanh chẳng tự tánh,

Pháp KHÔNG có nhân gì?

Vì lìa nơi hòa hợp,

Tánh giác tri chẳng hiện.

4. Nên pháp Không bất sanh.

Ta nói chẳng tự tánh.

Vì mỗi mỗi hòa hợp,

Dù hiện chẳng thật có.

     Không sinh, chẳng có bản thể tâm (tự tánh) thì pháp KHÔNG, làm gì có nhân, nếu lìa nơi hòa hợp thì tính hiểu biết (giác tri) chẳng thể hiện, nên pháp Không chẳng thể sinh, do đó Phật nói chẳng có bản thể tâm, vì các pháp hòa hợp dù hiện cũng chẳng thật có.

5. Phân tích chẳng hòa hợp,

Kiến chấp của ngoại đạo.

Như mộng huyển hoa đốm,

Và thành Càn Thát Bà

6. Mỗi mỗi việc thế gian,

Vô nhân mà tướng hiện.

Hàng phục Hữu Nhân Luận,

Hiển bày nghĩa Vô Sanh.

7. Pháp Vô Sanh hiển bày,

Thì dòng pháp chẳng dứt.

Vô sanh tức vô nhân,

Các ngoại đạo kinh sợ.

     Phân tích kiến chấp của ngoại đạo thì chẳng hòa hợp, ví như mộng huyển hoa đốm và thành Càn Thát Bà, họ thấy các việc của thế gian không nhân mà tướng hiện. Do hàng phục Hữu Nhân Luận, hiển bày nghĩa Vô Sinh, mà pháp Vô Sinh tức không nhân hiển bày thì dòng pháp chẳng dứt, nên các ngoại đạo đều sợ.

     Bồ Tát Đại Huệ nói lại kệ hỏi Phật:

Thế nào là Sở nhân?

Do nhân nào có sanh?

Ở nơi nào hòa hợp,

Mà lập Vô Nhân Luận?

     Thế nào là nhân, do nhân nào có sinh, hòa hợp ở chỗ nào mà nói Vô Nhân Luận?

     Đức Phật dùng kệ đáp với ý rằng:

Quán sát pháp Hữu vi,

Chẳng nhân chẳng vô nhân.

Ngoại đạo sanh diệt luận,

Kiến chấp từ đây diệt.

     Quán sát việc Có thì thấy chẳng có nhân chẳng không có nhân; do đó kiến chấp Sinh Diệt Luận của ngoại đạo diệt. Thí dụ: Quán việc có cây cam của ngoại đạo, thì thấy chẳng có nhân chẳng không nhân trực tiếp sinh ra cây cam, do đó kiến chấp Sinh Diệt Luận của ngoại đạo về cây cam sinh diệt bị tiêu diệt. Tại sao nói: “Chẳng sinh cũng chẳng diệt”? Các pháp từ nhân duyên mà sinh, ví như cây cam nhân từ hột cam là nhờ duyên của đất nước ánh sáng, nhân công v.v… mà trở thành cây cam. Vì lìa ngoài cây cam trước kia thì cây cam hiện nay không thể có được, nếu không có cây cam trước kia mà có cây cam hiện nay mới gọi là có sinh ra, song kỳ thật không như vậy, do đó gọi là “chẳng sinh”. Nếu cây cam trước kia diệt thì nay không thể có cây cam, nhưng kỳ thật có cây cam hiện nay, thế nên gọi là “chẳng diệt”.

3). PHÁP VÔ SANH:

 

 (Còn tiếp)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn