Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Bài 68. Kinh Lăng Già giải nghĩa

08/02/202023:00(Xem: 356)
Bài 68. Kinh Lăng Già giải nghĩa

KINH LĂNG GIÀ

GIẢI NGHĨA

Toàn Không

(Tiếp theo)

 

QUYỂN BỐN

 

MỤC 1:

NHƯ LAI ỨNG CÚNG

ĐẲNG CHÍNH GIÁC:

 

     Khi ấy, Đại Huệ Bồ Tát bạch Phật rằng:

- Thế Tôn! Cúi xin vì chúng sanh thuyết Tam Miệu Tam Phật Đà, khiến con và các Đại Bồ Tát đối với tự tánh của Như Lai, khéo tự giác và giác tha.

     Phật bảo Đại Huệ:

- Cho ông tùy ý hỏi, Ta sẽ tùy sự hỏi của ông mà thuyết.

     Đại Huệ Bồ Tát bạch Phật rằng:

- Thế Tôn! Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác là tác hay chẳng tác? Là sự ư? Là nhân ư? Là tướng ư? Là sở tướng ư? Là thuyết ư? Là sở thuyết ư? Là giác ư? Là sở giác ư? Những từ ngữ như thế là khác hay chẳng khác?

     Phật bảo Đại Huệ:

- Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác đối với những từ ngữ này Phi sự cũng Phi nhân. Tại sao? Vì đều có lỗi. Đại Huệ! Nếu Như Lai là SỰ, hoặc tác hoặc vô thường; nếu nói vô thường thì tất cả sự đều là Như Lai, Ta và chư Phật chẳng cho như thế. Nếu chẳng phải sở tác, là Vô Sở đắc, pháp phương tiện thành không, đồng như sừng thỏ, như con của Thạch Nữ, vì chẳng có gì cả. Đại Huệ! Nếu Vô Sự Vô Nhân thì phi hữu phi vô. Nếu phi hữu phi vô thì lọt vào tứ cú; tứ cú là ngôn thuyết của thế gian, nếu lìa tứ cú thì chẳng đọa tứ cú, vì chẳng đọa tứ cú là chứng đắc của thật trí, nghĩa cú của tất cả Như Lai cũng như thế. Đại Huệ nên biết, như Ta sở thuyết, tất cả pháp Vô Ngã. Nếu biết nghĩa Vô Ngã là tánh vô ngã. Tất cả pháp có tự tánh, chẳng tha tánh như trâu ngựa. Đại Huệ! Ví như con trâu chẳng có tánh ngựa, con ngựa chẳng có tánh trâu. Kỳ thật phi hữu phi vô, nghĩa ấy chẳng phải không có tự tánh. Như thế, Đại Huệ! Tất cả các pháp chẳng phải không có tự tướng, có tự tướng nhưng Vô Ngã, chẳng phải phàm phu dùng vọng tưởng có thể biết. Nói tất cả pháp Không, Vô Sanh, Vô Tự Tánh, nên biết nghĩa như trên.

- Như Lai nói ngũ ấm chẳng phải khác chẳng phải không khác. Nếu chẳng khác tức là vô thường, nếu khác thì phương tiện thành không. Nếu cho là hai thì phải có khác, như sừng trâu, mỗi mỗi tương tự nên chẳng khác; có dài ngắn sai biệt nên có khác, tất cả pháp cũng như thế. Đại Huệ! Như sừng trâu bên phải khác với sừng trâu bên trái, sừng bên trái khác với sừng bên phải, đủ thứ sắc tướng dài, ngắn mỗi mỗi khác nhau cũng như thế. Đại Huệ! Như Lai nói ấm giới nhập chẳng phải khác hay không khác. Do đó, pháp sở thuyết cuả Như Lai gọi là giải thoát. Nếu Như Lai khác với giải thoát, ắt phải do sắc tướng tạo thành. Nếu do sắc tướng tạo thành thì vô thường, nếu chẳng khác thì người tu hành được tướng giải thoát không thể phân biệt, mà người tu hành thấy có phân biệt, cho nên chẳng phải khác hay chẳng khác, cũng như trí và nhĩ diệm, chẳng phải khác hay chẳng khác.

- Đại Huệ! Nói "Trí và nhĩ diệm chẳng phải khác hay chẳng khác" là phi thường phi vô thường, phi tác phi sở tác, phi hữu vi phi vô vi, phi giác phi sở giác, phi tướng phi sở tướng, phi ấm phi khác với ấm, phi thuyết phi sở thuyết, phi nhất phi dị, phi đồng phi chẳng đồng. Vì phi nhất phi dị, phi đồng phi chẳng đồng, nên lìa tất cả lượng. Lìa tất cả lượng thì vô ngôn thuyết, vô ngôn thuyết thì vô sanh, vô sanh thì vô diệt, vô diệt thì tịch diệt, tịch diệt là tự tánh Niết Bàn, tự tánh Niết Bàn là vô sự vô nhân, vô sự vô nhân thì chẳng có phan duyên, chẳng có phan duyên thì siêu việt tất cả hư ngụy; siêu việt tất cả hư ngụy tức là Như Lai, Như Lai tức là Tam Miệu Tam Phật Đà. Đại Huệ! Tam Miệu Tam Phật Đà của Phật Đà lìa tất cả căn lượng.

 

     Khi ấy Thế Tôn muốn lập lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

1. Pháp lìa chư căn lượng,

Vô sự cũng Vô Nhân.

Đã lìa giác sở giác,

Cũng lìa tướng sở tướng.

2. Ấm duyên đồng chánh giác,

Nhất dị chẳng thể thấy.

Nếu thật chẳng thể thấy,

Thì làm sao phân biệt?

3. Phi tác phi bất tác,

Phi sự cũng phi nhân.

Phi ấm phi lìa ấm,

Cũng chẳng có pháp khác.

4. Chẳng phải có các tánh,

Như vọng tưởng họ thấy.

Mỗi mỗi pháp cũng thế,

Phi hữu cũng phi vô.

5. Vì hữu nên nói vô,

Vì vô nên nói hữu.

Nếu VÔ chẳng thể lập,

Thì HỮU làm sao có! 6. Hoặc nơi ngã, phi ngã,

Lưu luyến theo ngôn thuyết.

Chìm đắm nơi nhị biên,

Tự hoại, hoại thế gian.

7. Tạo lỗi chướng giải thoát,

Tướng Thông ta quán sát.

Chẳng báng Đại Đạo Sư,

Ấy gọi là chánh quán.

 

GIẢI NGHĨA:

 

     Mục 1, Quyển 4 này, Kinh nói: “Bồ Tát Đại Huệ thỉnh Phật vì chúng sanh thuyết Tam Miệu Tam Phật Đà, khiến con và các Đại Bồ Tát đối với tự tánh của Như Lai, khéo tự giác và giác tha.  Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chính Giác là tác hay chẳng tác, là sự ư, là nhân ư, là tướng ư, là nơi tướng ư, là thuyết ư, là sở thuyết ư, là giác ư, là sở giác ư? Những từ ngữ như thế là khác hay chẳng khác?     

 

     Đức Phật giảng rằng: “- Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác đối với những từ ngữ này Phi sự cũng Phi nhân. Tại sao? Vì đều có lỗi. Đại Huệ! Nếu Như Lai là SỰ, hoặc tác hoặc vô thường; nếu nói vô thường thì tất cả sự đều là Như Lai, Ta và chư Phật chẳng cho như thế. Nếu chẳng phải sở tác, là Vô Sở đắc, pháp phương tiện thành không, đồng như sừng thỏ, như con của Thạch Nữ, vì chẳng có gì cả. Đại Huệ! Nếu Vô Sự Vô Nhân thì phi hữu phi vô. Nếu phi hữu phi vô thì lọt vào tứ cú; tứ cú là ngôn thuyết của thế gian, nếu lìa tứ cú thì chẳng đọa tứ cú, vì chẳng đọa tứ cú là chứng đắc của thật trí, nghĩa cú của tất cả Như Lai cũng như thế”.

 

     Nghĩa là Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác đối với những từ ngữ này chẳng (Phi) Sự cũng chẳng Nhân vì đều có lỗi; nếu Như Lai là SỰ, thì tất cả Sự đều là Như Lai, Ngài và Chư Phật chẳng cho như thế. Nếu chẳng phải chỗ (sở) tạo tác là không thể được (Vô Sở đắc), thì pháp phương tiện thành không, nên chẳng thể có (đồng như sừng thỏ), giống như con của hòn đá gái (Thạch Nữ), vì chẳng có gì cả. Nếu Vô Sự Vô Nhân thì chẳng có chẳng không (phi hữu phi vô), nếu chẳng có chẳng không thì lọt vào bốn câu (tứ cú); bốn câu là lời nói (ngôn thuyết) của thế gian, nếu lìa bốn câu thì chẳng rơi vào (đọa) bốn câu, vì chẳng rơi vào bốn câu là chứng đắc của thật trí, nghĩa của tất cả Như Lai cũng như thế.

 

     Ngài lưu ý: “Đại Huệ nên biết, như Ta sở thuyết, tất cả pháp Vô Ngã. Nếu biết nghĩa Vô Ngã là tánh vô ngã. Tất cả pháp có tự tánh, chẳng tha tánh như trâu ngựa. Đại Huệ! Ví như con trâu chẳng có tánh ngựa, con ngựa chẳng có tánh trâu. Kỳ thật phi hữu phi vô, nghĩa ấy chẳng phải không có tự tánh. Như thế, Đại Huệ! Tất cả các pháp chẳng phải không có tự tướng, có tự tướng nhưng Vô Ngã, chẳng phải phàm phu dùng vọng tưởng có thể biết. Nói tất cả pháp Không, Vô Sanh, Vô Tự Tánh, nên biết nghĩa như trên”.

 

     Nghĩa là tất cả pháp Vô Ngã, nếu biết nghĩa Vô Ngã là tính vô ngã, thì tất cả pháp có bản chất của chính nó (tự tánh), chẳng tha tính như trâu ngựa, con trâu chẳng có tính ngựa, con ngựa chẳng có tính trâu. Kỳ thật chẳng có chẳng không (phi hữu phi vô), nghĩa này chẳng phải không có bản chất của chính nó. Như thế, tất cả các pháp chẳng phải không có bản thể hình trạng (tự tướng), có bản thể hình trạng nhưng Vô Ngã, do đó nói tất cả pháp Không, Vô Sinh, Vô Tự Tính. Chẳng phải phàm phu dùng ý niệm nhận thức tưởng tượng những hình ảnh cảm giác không phù hợp với sự thật (vọng tưởng) có thể biết.

 

     Đức Phật giảng tiếp:

(Còn tiếp)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn