Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Bài 64. Kinh Lăng Già giải nghĩa

12/01/202016:12(Xem: 282)
Bài 64. Kinh Lăng Già giải nghĩa

KINH LĂNG GIÀ

GIẢI NGHĨA

Toàn Không

(Tiếp theo)

 

3). THẾ LUẬN VÀ PHI THẾ LUẬN

     Khi ấy Đại Huệ Bồ Tát bạch Phật rằng:

- Thế Tôn! Nếu ngoại đạo sở thuyết mỗi mỗi nghĩa cú nhân duyên thí dụ trang nghiêm của Thế Luận, do tự chấp trước, chẳng có tự thông. Thì Thế Tôn cũng thuyết thế luận vì mỗi mỗi Trời, Người, và A Tu La từ các phương đến tụ hội, Phật cũng rộng thuyết vô lượng nghĩa cú, há cũng chẳng phải không có tự thông ư! Há cũng lọt vào số ngôn thuyết trí huệ của tất cả ngoại đạo ư?

     Phật bảo Đại Huệ:

- Ta chẳng thuyết Thế Luận, chẳng thuyết khứ lai, chỉ thuyết bất khứ bất lai. Đại Huệ! LAI là tụ họp, KHỨ là tan rã, Chẳng Khứ Chẳng Lai là bất sanh bất diệt. Cái nghĩa của Ta thuyết chẳng đọa nơi số vọng tưởng của Thế Luận. Tại sao? Vì chẳng chấp trước ngoài tánh phi tánh, vọng tưởng nhị biên nơi tự tâm hiện chẳng thể xoay chuyển, là cảnh tướng phi tánh. Giác được tự tâm hiện thì vọng tưởng của tự tâm hiện chẳng sanh. Vọng tưởng chẳng sanh thì vào ba cửa giải thoát: KHÔNG, VÔ TƯỚNG, VÔ TÁC, gọi là giải thoát.

- Đại Huệ! Ta nhớ xưa kia cư trú một nơi, có Thế Luận Bà La Môn đến chổ Ta ở, chẳng màng đến Ta có rảnh hay không, bèn hỏi Ta rằng: "Cù Đàm! Tất cả pháp là sở tác ư?" Ta đáp ngay rằng: "Bà La Môn! Nói tất cả pháp sở tác là thuộc về Thế Luận thứ nhất". Họ lại hỏi: "Tất cả pháp là phi sở tác ư?" Ta cũng đáp rằng: "Tất cả pháp phi sở tác thuộc Thế Luận thứ hai". Họ hỏi tiếp: "Tất cả pháp thường ư? Tất cả pháp vô thường ư? Tất cả pháp sanh ư? Tất cả pháp bất sanh ư?" Ta liền đáp: "Ấy là Thế Luận từ thứ ba đến thứ sáu."

- Đại Huệ! Họ lại hỏi rằng: "Tất cả pháp là nhất ư? Tất cả pháp là dị ư? Tất cả pháp đồng ư? Tất cả pháp chẳng đồng ư? Tất cả pháp do mỗi mỗi thọ sanh mà hiện ư?" Ta trọn đáp rằng: "Ấy là Thế Luận từ thứ bảy đến thứ mười một". Đại Huệ! Họ lại hỏi: "Tất cả pháp vô ký ư? Tất cả là ký ư? Hữu ngã ư? Vô ngã ư? Có đời này ư? Chẳng đời này ư? Có đời khác ư? Chẳng đời khác ư? Có giải thoát ư? Không giải thoát ư? Tất cả là sát na ư? Tất cả chẳng là sát na ư? Là hư không ư? Là chẳng phải số diệt ư? Là Niết Bàn ư? Là do Cù Đàm tác ư? Chẳng phải tác ư? Có thân trung ấm ư? Chẳng thân trung ấm ư?"

Đại Huệ! Ta đáp rằng: "Bà La Môn! Những câu hỏi như thế đều là Thế Luận của ông, chẳng phải sở thuyết của Ta. Ta chỉ thuyết mỗi mỗi ác nghiệp tập khí vọng tưởng hư ngụy từ vô thỉ là nhân của tam giới, những người chẳng thể giác tri tự tâm hiện lượng mà sanh vọng tưởng phan duyên ngoài tự tánh, như pháp của ngoại đạo nói: “Do ngã và căn, cảnh ba duyên hoà hợp mà có cái biết sanh khởi”. Ta thì chẳng như thế. Bà La Môn! Ta chẳng thuyết Nhân, chẳng thuyết Vô Nhân, chỉ thuyết cái tánh vọng tưởng năng nhiếp sở nhiếp giả lập pháp duyên khởi, chẳng phải ông và những người chấp ngã tương tục có thể biết được."

- Lại nữa, Đại Huệ! Khi ấy Thế Luận Bà La Môn lại hỏi Ta rằng: "Do si ái nghiệp làm nhân mà có tam giới ư? Hay là vô nhân ư?" Ta đáp rằng: "Hai thứ này cũng là Thế Luận thôi". Họ lại hỏi: "Tất cả tánh đều vào tự tướng cộng tướng ư?" Ta lại đáp: "Đây là Thế Luận, Bà La Môn!” Nói tóm lại, từ những câu hỏi của ông cho đến dòng suối ý thức vọng chấp ngoại trần, tất cả đều là Thế Luận."

- Lại nữa, Đại Huệ! Khi ấy Thế Luận Bà La Môn lại hỏi Ta rằng: "Mỗi mỗi nghĩa cú nhân duyên thí dụ trang nghiêm là tông chỉ của tất cả ngoại đạo, đều thuộc Thế Luận, vậy còn có pháp nào chẳng phải Thế Luận ư?" Ta đáp rằng: "Bà La Môn! Có, mà chẳng phải ông có, phi tác phi tông, phi thuyết phi bất thuyết, phi bất nhân duyên thí dụ trang nghiêm"; Bà La Môn hỏi: "Thế nào là phi Thế Luận, phi phi tông, phi phi thuyết?" Ta đáp rằng: "Bà La Môn! có phi Thế Luận mà ngoại đạo các ông chẳng thể biết, vì vọng tưởng chẳng thật, hư ngụy chấp trước nơi ngoài thánh. Nói VỌNG TƯỞNG CHẲNG SINH, nếu giác liễu pháp hữu vô và tự tâm hiện lượng thì vọng tưởng chẳng sanh, chẳng nhiễm ngoại trần, dứt hẳn vọng tưởng, ấy gọi là Phi Thế Luận. Đây là pháp tu chẳng phải ông có vậy ".

Khi ấy, Bà La Môn lại lược thuyết sự nhận thức của họ, hoặc khứ hoặc lai, hoặc sanh hoặc tử, hoặc vui hoặc khổ, hoặc chìm hoặc nổi, hoặc ẩn hoặc hiện, hoặc hòa hợp hoặc tương tục, hoặc ái hoặc nhân ái, chấp trước đủ thứ tướng. Ta nói: "Bà La Môn! So Đo như thế đều là Thế Luận của bọn ông chẳng phải ta có". Đại Huệ! Thế Luận Bà La Môn hỏi như thế, ta đáp như thế, họ liền im lặng chẳng từ giả mà lui ra, lại còn suy tư chỗ Tự Thông mà nghĩ rằng: "Sa Môn Thích tử vượt ra ngoài tướng thông, nói Vô Sanh, Vô Tướng, Vô Nhân, giác được tướng hiện của tự vọng tưởng thì vọng tưởng chẳng sanh." Đại Huệ! Đây tức là chỗ ông hỏi Ta "Tại sao nói gần gũi Thế Luận đủ thứ biện luận, là nhiếp thọ tham dục, chẳng nhiếp thọ pháp?"

 

GIẢI NGHĨA:

     Đoạn 3, Mục 10, Quyển 3, Bồ Tát Đại Huệ lại bạch Phật đại ý rằng: Nếu ngoại đạo thuyết chỗ mỗi ý nghĩa nhân duyên thí dụ trang nghiêm của Thế Luận, do chấp trước, chẳng lià vọng tưởng, chẳng lià chấp nhân duyên, chẳng rơi vào hai bên, chẳng vượt khỏi tâm, ý và ý thức (chẳng có tự thông). Thì Thế Tôn cũng thuyết thế luận vì Trời, Người và A Tu La từ các phương đến tụ hội, Phật cũng rộng thuyết vô lượng nghĩa, chẳng phải không lià vọng tưởng, không lià chấp nhân duyên, bị rơi vào hai bên, chẳng vượt khỏi tâm, ý và ý thức (không có tự thông), cũng lọt vào số ngôn thuyết trí huệ của tất cả ngoại đạo sao?

     Đức Phật giảng đại ý rằng Ngài chẳng thuyết Thế Luận, chẳng thuyết khứ lai, chỉ thuyết chẳng qúa khứ chẳng tương lai; LAI thì tụ họp, KHỨ đã tan rã, CHẲNG KHỨ CHẲNG LAI là bất sinh bất diệt. Cái nghĩa của Đức Phật thuyết chẳng rơi vào vọng tưởng của Thế Luận, vì chẳng chấp vào ý niệm bản tính cố hữu là một nhận thức sai lầm (ngoài tánh phi tánh), vọng tưởng hai bên nơi tự tâm hiện chẳng thể xoay chuyển, là cảnh tướng chẳng phải tính. Biết (Giác) được sự biết phân biệt sai của khái niệm (tự tâm hiện) thì vọng tưởng của tâm chẳng sinh, vọng tưởng chẳng sinh thì vào ba cửa: KHÔNG, VÔ TƯỚNG, VÔ TÁC, gọi là giải thoát.

     Đức Phật kể Ngài nhớ xưa cư trú tại một nơi, có Thế Luận Bà La Môn đến chỗ Ngài ở, chẳng màng đến Ngài có rảnh hay không, bèn hỏi rằng: "Cù Đàm! Tất cả pháp là cái tạo ra (sở tác) ư?" Ngài đáp ngay rằng: "Bà La Môn! Nói tất cả pháp là cái tạo ra là thuộc về Thế Luận thứ nhất"; họ lại hỏi: "Tất cả pháp là chẳng phải cái tạo ra (phi sở tác) ư?" Ngài cũng đáp rằng: "Tất cả pháp chẳng phải cái tạo ra thuộc Thế Luận thứ hai". Họ hỏi tiếp: "Tất cả pháp thường ư, tất cả pháp vô thường ư, tất cả pháp sinh ư, tất cả pháp chẳng sinh ư?" Ngài liền đáp: "Ấy là Thế Luận từ thứ ba đến thứ sáu."

     Khi ấy, họ lại hỏi rằng: "Tất cả pháp là một ư, tất cả pháp là khác ư, tất cả pháp giống nhau ư, tất cả pháp chẳng giống nhau ư, tất cả pháp do thọ sinh mà hiện ư?" Ngài đáp rằng: "Ấy là Thế Luận từ thứ bảy đến thứ mười một". Họ lại hỏi: "Tất cả pháp không ghi nhận (vô ký) ư, tất cả pháp là ghi nhận () ư? Có cái ta ư, không có cái ta ư; có đời này ư, chẳng đời này ư, có đời khác ư, chẳng đời khác ư, có giải thoát ư, không giải thoát ư; tất cả là sát na ư, tất cả chẳng là sát na ư? Là hư không ư, là chẳng phải số diệt ư, là Niết Bàn ư; là do Cù Đàm tác ư, chẳng phải tác ư; có thân trung ấm ư, chẳng thân trung ấm ư?" Tất cả Ngài đáp rằng: "Những câu hỏi như thế đều là Thế Luận của ngoại đạo, chẳng phải sở thuyết của Ngài”.

 Ngài chỉ thuyết ác nghiệp thói quen (tập khí) vọng tưởng hư ngụy từ vô thủy là nhân của ba cõi Dục, Sắc và Vô Sắc (tam giới), những người chẳng thể hiểu biết (giác tri) được sự nhận biết phân biệt sai của khái niệm (tự tâm hiện lượng) mà sinh vọng tưởng phan duyên ngoài tự tánh, như pháp của ngoại đạo nói: “Do ngã, căn và cảnh, ba duyên hoà hợp mà có cái biết sinh khởi”. Đức Phật thì chẳng như thế, Ngài chẳng thuyết Nhân, chẳng thuyết Vô Nhân, chỉ thuyết cái tính vọng tưởng thu giữ (năng nhiếp sở nhiếp) giả lập pháp duyên khởi, chẳng phải những người chấp ngã tương tục có thể biết được.

     Khi ấy, Thế Luận Bà La Môn lại hỏi Ngài rằng: "Do si ái nghiệp làm nhân mà có tam giới ư? Hay là vô nhân ư?" Ngài đáp rằng: "Hai thứ này cũng là Thế Luận thôi". Họ lại hỏi: "Tất cả tánh đều vào tự tướng cộng tướng ư?" Ngài lại đáp: "Đây là Thế Luận, nói tóm lại, từ những câu hỏi của ông cho đến dòng suối ý thức vọng chấp ngoại trần, tất cả đều là Thế Luận."

     Lại nữa, Thế Luận Bà La Môn lại hỏi Ngài rằng: "Mỗi nghĩa cú nhân duyên thí dụ trang nghiêm là tông chỉ của tất cả các (ngoại) đạo, đều thuộc Thế Luận, vậy còn có pháp nào chẳng phải Thế Luận ư?" Ngài đáp rằng: "Bà La Môn! Có, mà chẳng phải ông có, phi tác phi tông, phi thuyết phi bất thuyết, phi bất nhân duyên thí dụ trang nghiêm"; Bà La Môn hỏi: "Thế nào là phi Thế Luận, phi tông, phi phi thuyết?" Ngài đáp rằng: "Bà La Môn! Có phi Thế Luận, mà ngoại đạo các ông chẳng thể biết, vì các ông vọng tưởng chẳng thật, hư ngụy chấp trước nơi ngoài Thánh

     Ngài nói đại ý: VỌNG TƯỞNG CHẲNG SINH là nếu biết rõ (giác liễu) pháp có không và biết được sự nhận biết phân biệt sai của khái niệm (tự tâm hiện lượng) thì vọng tưởng chẳng sinh, chẳng nhiễm ngoại trần, dứt hẳn vọng tưởng, đây gọi là Phi Thế Luận; đây là pháp tu chẳng phải ngoại đạo có vậy.

     Khi ấy, Bà La Môn lại lược thuyết sự nhận thức của họ rằng: “Hoặc khứ hoặc lai, hoặc sinh hoặc tử, hoặc vui hoặc khổ, hoặc chìm hoặc nổi, hoặc ẩn hoặc hiện, hoặc hòa hợp hoặc tương tục, hoặc ái hoặc nhân ái”, họ chấp trước đủ thứ tướng. Ngài nói: "Bà La Môn! So Đo như thế đều là Thế Luận của các ông chẳng phải Ta có". Thế Luận Bà La Môn hỏi như thế, Ngài đáp như thế, họ liền im lặng chẳng từ giả mà lui ra, họ lại còn suy tư chỗ Tự Thông mà nghĩ rằng: "Sa Môn Thích tử vượt ra ngoài tướng thông, nói Vô Sinh, Vô Tướng, Vô Nhân, biết được tướng hiện của tự vọng tưởng thì vọng tưởng chẳng sinh." Đây là lời Bồ Tát Đại Huệ hỏi Phật: "Tại sao nói gần gũi Thế Luận đủ thứ biện luận, là nhiếp thọ tham dục, chẳng nhiếp thọ pháp?"

 

4). NHIẾP THỌ THAM

DỤC VÀ PHÁP:

(Còn tiếp)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn