Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Bài 39. Kinh Lăng Già giải nghĩa

28/09/201913:02(Xem: 22)
Bài 39. Kinh Lăng Già giải nghĩa

KINH LĂNG GIÀ

GIẢI NGHĨA

Toàn Không

(Tiếp theo)

 

6). MÊ HOẶC VÀ NHƯ HUYỂN:

     Đại Huệ Bồ Tát bạch Phật rằng:

- Thế Tôn! Mê hoặc là hữu hay vô?

     Phật bảo Đại Huệ:

- Pháp như huyển chẳng có tướng chấp trước, nếu mê hoặc có tướng chấp trước thì tánh chấp trước chẳng thể diệt; pháp duyên khởi của ta thuyết, ắt đồng như pháp Nhân Duyên Sanh của ngoại đạo.

     Đại Huệ Bồ Tát bạch Phật rằng:

- Thế Tôn! Nếu mê hoặc như huyễn thì phải làm nhân cho mê hoặc khác?

     Phật bảo Đại Huệ:

- Chẳng phải nhân duyên mê hoặc nên chẳng có lỗi, Huyễn chẳng sinh lỗi, vì chẳng có vọng tưởng, Đại Huệ! Huyễn từ chỗ minh liễu sinh khởi, chẳng từ chỗ lỗi tập khí vọng tưởng của chính mình sinh khởi, cho nên chẳng có lỗi; Đại Huệ! Ấy là do tâm mê hoặc của phàm phu chấp trước, chẳng phải Thánh Hiền vậy.

     Khi ấy, Thế Tôn muốn lập lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Thánh chẳng thấy mê hoặc,

Trong đó cũng chẳng thật.

Trong đó nếu chân thật,

Mê hoặc tức chân thật.

Xa lìa tất cả mê,

Nếu còn có tướng sinh,

Ấy cũng là mê hoặc,

Bất tịnh như bệnh nhặm.

- Lại nữa, Đại Huệ! Đã nói mê hoặc tức chân thật thì như huyển tức phi huyển, phi huyển tức như huyển; chân thể của phi huyển chẳng có tương tự, nay nói phi huyển chẳng phải không thấy tất cả pháp như huyển.

     Đại Huệ Bồ Tát bạch Phật rằng:

- Thế Tôn! Vì chấp trước đủ thứ tướng huyển nên nói tất cả pháp như huyển ư (?), hoặc vì chấp trước đủ thứ tướng phi huyển mà nói tất cả pháp như huyển ư? Thế Tôn! Nếu như huyển và phi huyển có tánh khác biệt, ắt phải có tánh chẳng như huyển; vì mỗi mỗi sắc tướng chẳng có nhân, Thế Tôn! Nếu mỗi mỗi sắc tướng chẳng có nhân mà hiện tướng như huyển, thì chẳng có đủ thứ tướng huyển để chấp trước cho có tánh tương tự là như huyển.

     Phật bảo Đại Huệ:

- Chẳng phải đủ thứ tướng huyển chấp trước tương tự, nói tất cả pháp như huyển; vì tất cả pháp chẳng thật, chóng diệt như điện, ấy là như huyển. Ví như điện chớp hiện trong sát na, mới hiện liền diệt. Tất cả tánh như thế, đều chẳng thuộc nơi hữu và vô, chỉ do tự tâm vọng tưởng chấp có tự tướng cộng tướng, nếu quán sát tất cả pháp vô tánh, thì chẳng phải sự hiện sắc tướng chấp trước của phàm phu.

     Khi ấy, Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Phi huyển chẳng thể dụ,

Thuyết pháp tánh như huyển,

Chẳng thật như điện chớp,

Cho nên nói như huyển.

 

GIẢI NGHĨA:

 

     Đoạn 6, Mục 8, Quyển 2 này, Bồ Tát Đại Huệ hỏi Phật: “Mê hoặc là có hay không?” Đức Phật đáp rằng: “- Pháp như huyển chẳng có tướng chấp trước, nếu mê hoặc có tướng chấp trước thì tánh chấp trước chẳng thể diệt; pháp duyên khởi của ta thuyết, ắt đồng như pháp Nhân Duyên Sanh của ngoại đạo”. Nghĩa là Pháp mê loạn chấp thật đủ thứ tướng không gọi là “có” hay “không”, vì có và không này ở trong vọng tưởng hư vọng. Pháp như huyển, chẳng có tướng chấp thật, nếu mê hoặc có tướng chấp thật thì tính chấp thật chẳng thể diệt; như vậy nếu chấp thật “pháp Duyên Khởi” Phật thuyết, thì ging như “pháp Nhân Duyên Sinh” của ngoại đạo.

 

     Bồ Tát Đại Huệ lại hỏi rằng: “Nếu mê hoặc như huyển thì phải làm nhân cho mê hoặc khác sao?” Đức Phật giảng đại ý: Chẳng phải pháp mê hoặc sinh ra lỗi lầm phiền não, nếu chẳng phân biệt pháp mê loạn thì chẳng sinh ra các lỗi lầm. Huyển chẳng sinh lỗi, vì chẳng có vọng tưởng, huyển từ chỗ hiểu thấu (minh liễu) sinh, chẳng từ chỗ lỗi thói quen (tập khí) vọng tưởng của chính mình sinh khởi, cho nên chẳng có lỗi; đây là do tâm mê loạn của phàm phu chấp thật sinh ra lỗi lầm, chẳng phải Thánh Hiền vậy.

 

     Đức Phật lp lại nghĩa này mà nói kệ đại ý: BậcThánh chẳng thấy mê loạn, cũng chẳng thấy thật, nếu cho là chân thật, thì mê tức chân thật; vì vậy cần phải xa lìa tất cả mê loạn, nếu còn tướng Có Không này nọ sinh, thì vẫn là mê loạn bất tịnh, giống như bệnh nhặm mắt vậy.

 

     Đức Phật lại giảng: “Đã nói mê hoặc tức chân thật thì như huyển tức phi huyển, phi huyển tức như huyển; chân thể của phi huyển chẳng có tương tự, nay nói phi huyển chẳng phải không thấy tất cả pháp như huyển”. Nghĩa là nếu nói mê loạn tức chân thật thì như huyển tức chẳng huyển, chẳng huyển tức như huyển; mà thể của chân (chẳng huyển) không có cái gì để so sánh tương tự, nên nói chẳng huyển chẳng phải không thấy tất cả pháp như huyển.

 

     Bồ Tát Đại Huệ lại thắc mắc hỏi: “Vì chấp trước đủ thứ tướng huyển nên nói tất cả pháp như huyển ư (?), hoặc vì chấp trước đủ thứ tướng phi huyển mà nói tất cả pháp như huyển ư? Thế Tôn! Nếu như huyển và phi huyển có tánh khác biệt, ắt phải có tánh chẳng như huyển; vì mỗi mỗi sắc tướng chẳng có nhân, Thế Tôn! Nếu mỗi mỗi sắc tướng chẳng có nhân mà hiện tướng như huyển, thì chẳng có đủ thứ tướng huyển để chấp trước cho có tánh tương tự là như huyển”.

 

     Đức Phật giảng đại ý: Chẳng phải đủ thứ tướng huyển chấp thật tương tự, mà nói tất cả pháp như huyển; vì tất cả pháp chẳng thật, mau chóng diệt như điện, nên là như huyển, ví như điện chớp hiện trong chớp mắt (sát na), mới hiện liền diệt. Tất cả tính như thế, đều chẳng thuộc nơi Có và Không, chỉ do tự tâm vọng tưởng chấp có cái thể tướng đặc thù tướng riêng cộng thông với các pháp khác (tự tướng cộng tướng), nếu quán sát tất cả pháp Tính Không (vô tánh), thì sự chấp thật hiện sắc tướng của phàm phu là chẳng đúng.

 

     Khi ấy, Đức Phật muốn lp lại nghĩa này mà nói kệ đại ý: Chẳng huyển không thể thí dụ, nói tính như huyển chẳng thật, vì sinh diệt mau như điện chớp, nên nói như huyển.

7). TÁNH VÔ SINH:

(Còn tiếp)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn