Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Bài 41. Kinh Lăng Già giải nghĩa

11/08/201920:08(Xem: 6)
Bài 41. Kinh Lăng Già giải nghĩa

KINH LĂNG GIÀ

GIẢI NGHĨA

Toàn Không

(Tiếp theo)

MỤC 9:

TƯỚNG PHÂN BIỆT

VỌNG TƯỞNG TỰ TÁNH:

 

1). TỨ QỦA TỨ HƯỚNG

 

    Khi ấy Đại Huệ Bồ Tát lại bạch Phật rằng:

- Thế Tôn! Cúi xin vì đại chúng thuyết Tứ quả, Tứ hướng của thừa Thanh Văn về tướng thông nhau và sai biệt. Nếu Đại Bồ Tát khéo biết tướng thông và sai biệt của Tứ quả, Tứ hướng (1), thì có nhiều phương tiện vì chúng sanh thuyết pháp, khiến chúng sanh thông đạt cứu cánh, như hai thứ tướng vô ngã (2) và trừ sạch hai thứ phiền não và sở tri chướng (3), trải qua tướng chư Địa (4), đến cảnh giới cứu cánh bất tư nghì của Như Lai. Giống như hạt châu Ma Ni tùy sắc, khéo dùng tất cả pháp cảnh giới vô tận thân tài (5) để nhiếp thọ, lợi ích tất cả chúng sanh.

     Phật bảo Đại Huệ:

- Hãy chú ý nghe và khéo ghi nhớ, nay Ta vì ông thuyết.

     Đại Huệ Bồ Tát bạch Phật rằng:

- Lành thay Thế Tôn! Con xin thọ giáo.

     Phật bảo Đại Huệ:

- Có ba thứ Tu Đà Hoàn, Tu Đà Hoàn quả sai biệt, thế nào là ba? Nghĩa là hạ, trung, thượng. Hạ đó, bảy đời sanh mới vào Niết Bàn; Trung đó, ba hoặc năm đời mới vào Niết Bàn; Thượng đó, ngay đời ấy liền vào Niết Bàn. Ba hạng này còn tam kết hạ, trung, thượng, ấy là: Thân kiến (6), nghi kiến (7) và giới thủ kiến (8), đó là tam kết sai biệt, dần dần tiến lên thì đắc quả A La Hán.

THÂN KIẾN có hai thứ: Là Câu Sanh (mới sanh đã sẵn có) và vọng tưởng, như duyên khởi vọng tưởng, tự tánh vọng tưởng, là nương theo duyên khởi tự tánh thì các thứ vọng tưởng tự tánh chấp trước sanh khởi. Vì tướng vọng tưởng chẳng thật, phi hữu phi vô, cũng chẳng phải hữu và vô mà phàm phu vọng tưởng chấp trước mỗi mỗi tự tánh vọng tưởng, như con nai đang khát tưởng dương diệm là nước, đó là thân kiến vọng tưởng của Tu Đà Hoàn. Bậc này tu theo nhân (người) vô ngã, nhiếp thọ pháp vô tánh, dứt trừ vô tri chấp trước lâu đời.

- Đại Huệ! Câu sanh là thân kiến của Tu Đà Hoàn, chấp có tự thân tha thân v.v... Vì có tướng bốn ấm Vô Sắc (9), có năng tạo và sở tạo lần lượt làm nhân tướng mà sanh ra sắc. Vì đại chủng (10) và sắc chẳng phải một, nên Tu Đà Hoàn quán pháp hữu và vô chẳng hiện thì thân kiến liền đoạn. Thân kiến đoạn thì tham dục chẳng sanh, ấy gọi là tướng thân kiến hết.

- Đại Huệ! TƯỚNG NGHI là tướng thấy được các pháp thiện (tức là đắc nhơn vô ngã thì lý nghi dứt) và hai thứ vọng tưởng thân kiến ở trên đã dứt, thì pháp nghi chẳng sanh. Không ở nơi khác khởi kiến chấp nghi bậc Sư là tịnh hay là bất tịnh thì nghi Sư (Thầy) dứt. Đến đây, nghi lý, nghi pháp, nghi Sư đều hết, ấy gọi là tướng Nghi của Tu Đà Hoàn đoạn dứt.

- Đại Huệ! Thế nào là GIỚI THỦ KIẾN? Tu Đà Hoàn chẳng thủ giới, vì thấy rõ tướng khổ nơi vị lai thọ sanh nên chẳng thủ. Đại Huệ! Nói THỦ, là sự quyết định thực tập khổ hạnh tinh tấn của phàm phu, cầu sanh cảnh giới thú vui của cõi Trời. Bậc họ chẳng thủ, là hồi hướng chỗ tối thắng tự giác, vốn lìa vọng tưởng, tu pháp Vô Lậu, hành tướng phương tiện, dù chẳng thủ, nhưng cũng thọ trì giới chi (11), ấy gọi là đoạn dứt tướng giới thủ của Tu Đà Hoàn. Tu Đà Hoàn đoạn dứt tam kết, tham si chẳng sanh, nếu Tu Đà Hoàn nghĩ như thế, nói "Ta chẳng thành tựu các kết này", ắt có hai lỗi: Đọa thân kiến và các kết chẳng dứt.

     Đại Huệ Bồ Tát bạch Phật rằng:

- Thế Tôn! Phật nói nhiều tham dục, vậy họ đoạn dứt tham dục gì?

     Phật bảo Đại Huệ:

- Họ đoạn dứt những trói buộc như yêu thích người nữ, tham trước đủ thứ phương tiện, tạo thân khẩu ác nghiệp, thọ sự vui trước mắt mà gieo khổ đời vị lai v.v... chẳng sanh tham dục kể trên; tại sao? Vì họ đắc sự vui của Tam muội chánh thọ (12), nên họ đoạn dứt tham dục thế gian mà chẳng phải đoạn dứt sự ham Niết Bàn.

- Đại Huệ! Thế nào là tướng Tư Đà Hàm? Ấy là đốn chiếu soi sắc tướng vọng tưởng, chẳng sanh tướng thấy tướng sanh; vì khéo thấy được tướng thiền hạnh, nên vãng lai thế gian này một lần, mong dứt sạch khổ để đắc Niết Bàn, nên gọi là Tư Đà Hàm.

- Đại Huệ! Thế nào là A Na Hàm? Nghĩa là đoạn dứt sự sanh kiến chấp lỗi lầm của kết tập (13), chẳng sanh vọng tưởng sắc tướng nơi quá khứ, vị lai, hiện tại, tánh phi tánh, gọi là A Na Hàm.

- Đại Huệ! Nói là A La Hán, là do sức sáng suốt giải thoát Tam muội của chư Thiền, dứt sạch tất cả khổ, phiền não của vọng tưởng tánh phi tánh, nên gọi là A La Hán.

Đại Huệ bạch Phật rằng:

- Thế Tôn! Phật thuyết ba hạng A La Hán, nói A La Hán này là thuộc hạng nào? Thế Tôn! Vì đắc tịch tịnh của đạo Nhất thừa, nên Đại Bồ Tát phương tiện thị hiện A La Hán để giúp Phật giáo hóa.

Phật bảo Đại Huệ:

- Đắc tịch tịnh là đạo Nhất thừa của Thanh Văn, chẳng phải thừa khác. Thừa khác là hành hạnh Bồ Tát, do phương tiện khéo léo của bốn nguyện, nên ở nơi chúng sanh thị hiện thọ sanh và giúp Phật giáo hóa, cũng vì trang nghiêm quyến thuộc của Phật vậy. Đại Huệ! Ở nơi vọng tưởng thuyết đủ thứ pháp, nói đắc quả đắc thiền, thiền giả nhập thiền, thảy đều xa lìa, thị hiện chứng đắc tự tâm hiện lượng, đắc tướng quả, gọi là đắc quả. Lại nữa, Đại Huệ! Muốn siêu việt thiền của vô lượng Vô Sắc Giới, nên lìa tướng tự tâm hiện lượng (14). Đại Huệ! Nói chánh thọ (15), thọ tưởng, siêu việt tự tâm hiện lượng là chẳng đúng. Tại sao? Vì còn có tâm lượng (16) vậy.

     Khi ấy, Thế Tôn lặp lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

1. Chư thiền Tứ Vô Lượng,

Vô sắc Tam Ma Đề.

Tất cả thọ, tưởng diệt,

Tâm lượng vốn không có.

2. Sơ quả và nhị quả,

Tam quả A Na Hàm.

Tứ quả A La Hán,

Đều dứt tâm mê hoặc.

3. Thiền giả duyên thiền định,

Đoạn chấp thấy Chân Đế.

Dù vọng tưởng vô lượng,

Giác ngộ liền giải thoát.

 

GIẢI NGHĨA:

(1) Tứ Qủa Tứ Hướng: Là 4 qủa vị tu Thanh Văn hướng tới, gồm Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm và A Na Hán.

(2) Hai thứ tướng vô ngã: Là Tướng Nhân Vô Ngã và Tướng Pháp Vô Ngã

(3) Phiền não và sở tri chướng: Là hai thứ phiền não, Phiền Não Chướng chỉ tất cả các đau khổ buồn phiền bất tiện lợi; Sở Chi Chướng chỉ trí tuệ do học hỏi và tri kiến do bộ óc nhận thức gây chướng ngại kiến tính, nghĩa là các điều học hỏi kinh nghiệm được ở thế gian làm trở ngại cho việc đạt đạo thành Phật.

(4) Tướng Chư địa: Là tướng các cảnh giới Thanh Văn, Duyên Giác và địa vị mười bậc Bồ Tát

(5) Thân tài: Thân là thân xác, Tài là tiền của, vật dụng.

(7) Nghi kiến: Là không tin ngờ vực.

(8) Giới thủ kiến: Cũng gọi là Kiến Thủ Kiến là chấp giữ Ngã Kiến (Chấp ta), Biên Kiến (Chấp một bên), Tà Kiến (Phân biệt sai lầm về sự vật).

(9) Tướng bốn ấm Vô Sắc: Là tướng của “Thụ, Tưởng, Hành, Thức”, là bốn vô sắc trong Năm Uẩn.

(10) Đại chủng: Là “Đất, Nước, Gió, Lửa, Không, Thức”.

(11) Giới chi: Là phần giới vô lậu, tức không có dính mắc.

(12) Tam-muội chánh thọ: Có 2 ý nghĩa:
1. Tín: Hoàn toàn tin tưởng không nghi ngờ giáo lí của một Thánh nhân đã đạt một cấp bậc thiền định thâm sâu;

2. Định: Cấp bậc tập trung cao đạt đến thanh thản thân tâm.

(13) Kết tập: Là các kết nạp khi tiếp xúc gây phiền não.

(14) Tự tâm hiện lượng: Tâm nhận biết chưa suy xét đã nhận thức đối tượng.

(15) Chánh thọ: Là tâm tưởng đều bặt, suy tư mất hết, tam muội tương ứng, chính định hiện tiền. Đây là chỉ cho sự thanh thản của thân tâm.

(16) Tâm lượng: Tâm so đo phân biệt đo lường.

 

     Đoạn 1, Mục 9, Quyển 2 này, đại ý Bồ Tát Đại Huệ thưa xin Đức Phật vì đại chúng thuyết sự sai biệt Bốn qủa vị của tu Thanh Văn (Tứ quả, Tứ hướng). Nếu Đại Bồ Tát khéo biết tướng thông và sai biệt của Tứ quả, Tứ hướng, thì có nhiều phương tiện vì chúng sinh thuyết pháp, khiến chúng sinh thông đạt cứu cánh. Như hai thứ tướng nhân pháp vô ngã sẽ trừ sạch hai thứ phiền não chướng và sở tri chướng, trải qua các cảnh giới địa vị mười bậc Bồ Tát (chư Địa), đến cảnh giới cứu cánh không thể nghĩ bàn của chư Phật (bất tư nghì của Như Lai). Giống như hạt châu Ma Ni tùy sắc, khéo dùng tất cả pháp cảnh giới vô tận của thân xác và tiền tài của cải để thu nhận (nhiếp thọ) lợi ích tất cả chúng sinh. Do đó Đức Phật nói bốn loại qủa như sau:

 

1. TƯỚNG TU ĐÀ HOÀN:

(Còn tiếp)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn