Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Bài 36. Kinh Lăng Già giải nghĩa

26/06/201919:40(Xem: 108)
Bài 36. Kinh Lăng Già giải nghĩa

KINH LĂNG GIÀ

GIẢI NGHĨA

Toàn Không

(Tiếp theo)

 

MỤC 8:

THÁNH CHỦNG TÁNH:

1). PHÁP NIẾT BÀN:

     Khi ấy Đại Huệ Bồ Tát lại bạch Phật rằng:

- Thế Tôn nói pháp NIẾT BÀN (1), thuyết pháp nào gọi là Niết Bàn?

     Phật bảo Đại Huệ:

- Tập khí tự tánh của tất cả thức đều là pháp sinh tử, như tập khí Tạng thức, tập khí ý, tập khí ý thức, tập khí kiến. Nếu chuyển được các tập khí ấy, tức là chuyển sinh tử, gọi là Niết Bàn; cái Niết Bàn của Ta và chư Phật sở thuyết, tức là cảnh giới tánh không (2) của các pháp.

- Lại nữa, Đại Huệ! Niết Bàn là cảnh giới của Thánh Trí Tự Giác, lìa đoạn thường, lìa vọng tưởng tánh phi tánh; thế nào là phi thường? Là vọng tưởng của tự tướng cộng tướng đoạn dứt nên phi thường; thế nào là phi đoạn? Nói tất cả bậc Thánh quá khứ, vị lai, hiện tại đều được tự giác nên phi đoạn. Đại Huệ! Niết Bàn bất hoại bất tử, nếu Niết Bàn TỬ thì phải thọ sinh tương tục; nếu HOẠI, thì phải đọa tướng hữu vi; cho nên Niết Bàn lìa hoại lìa tử, là chỗ quy y của người tu hành.

- Lại nữa, Đại Huệ! Niết Bàn phi xả phi đắc, phi đoạn phi thường, phi nhứt nghĩa, phi đa nghĩa, gọi là Niết Bàn.

- Lại nữa, Đại Huệ! Niết Bàn của Thanh Văn, Duyên Giác dựa theo khổ, không, vô thường, vô ngã, quán sát các pháp tự tướng cộng tướng vốn chẳng thật thể, quán Thập nhị nhân duyên cũng thế, đều là cảnh giới náo động, chẳng ưa thân cận, ham chỗ tịch lặng, tri kiến chẳng điên đảo thì vọng tưởng chẳng sinh; vì họ chẳng thể chuyển Thức thành trí, trông thấy chỗ tịch lặng của Thức ấm cho là Niết Bàn, thật thì chẳng phải cứu cánh.

- Lại nữa, Đại Huệ! Có hai thứ tướng tự tánh. Thế nào là hai?

1.- Tướng chấp trước ngôn thuyết tự tánh: Là do tập khí chấp trước hư ngụy của ngôn thuyết từ vô thỉ mà sinh khởi.

2.- Tướng chấp trước sự tự tánh: Là do bất giác hiện ra ngằn mé tự tâm mà sinh khởi.

 

GIẢI NGHĨA:

(1) Niết Bàn: Là bản thể của tâm, là tự tính, không sinh diệt, tràn đầy không gian chỗ nào cũng hiện diện, tận cùng thời gian qúa khứ hiện tại vị lai (Xin xem chi tiết nơi giải thích 12, Mục Tán Thán Phật, Quyển 1). Ngoài ra theo Kinh này, nếu chuyển bỏ dứt trừ được hết thảy các thói quen của 8 Thức thì chuyển được sinh tử, gọi là Niết Bàn, tức là cảnh giới Tính Không của các pháp.

(2) Tánh không: Là hư không, trống rỗng không có gì nhưng diệu hữu, mọi vật đều là giả hợp coi như không có. Tính không là pháp để trị chấp ngã và chấp pháp.

 

     Đoạn 1, Mục 8, Quyển 2 này, Bồ Tát Đại Huệ thỉnh Phật giảng về Niết Bàn, Đức Phật giảng rằng: “- Tập khí tự tánh của tất cả thức đều là pháp sinh tử, như tập khí Tạng thức, tập khí ý, tập khí ý thức, tập khí kiến. Nếu chuyển được các tập khí ấy, tức là chuyển sinh tử, gọi là Niết Bàn; cái Niết Bàn của Ta và chư Phật sở thuyết, tức là cảnh giới tánh không của các pháp”.  Nghĩa là phải chuyển được các thói quen (tập khí) chấp thật sai lầm của Thức, gồm: Năm thức đầu về sự nhận biết cái thấy cái biết (kiến, văn, giác, tri), thói quen của Ý về Mạt Na là Thức thứ 7 chấp ngã cho rằng có cái ta và cái của ta. Thói quen về Ý thức là Thức thứ 6 đánh giá so sánh phân biệt này nọ, và A Lại Da là Thức thứ 8 ghi nhận lưu giữ tất cả những thói quen của 7 thức nêu trên. Nếu chuyển bỏ dứt trừ được hết thảy các thói quen của 8 Thức thì chuyển được sinh tử, gọi là Niết Bàn, tức là cảnh giới Tính Không của các pháp.

     Đức Phật giảng rằng: “Niết Bàn là cảnh giới của Thánh Trí Tự Giác, lìa đoạn thường, lìa vọng tưởng tánh phi tánh; thế nào là phi thường? Là vọng tưởng của tự tướng cộng tướng đoạn dứt nên phi thường; thế nào là phi đoạn? Nói tất cả bậc Thánh quá khứ, vị lai, hiện tại đều được tự giác nên phi đoạn.”;  Nghĩa là Niết Bàn là cảnh giới Chân Như (Thánh Trí Tự Giác) chẳng đoạn chẳng thường, lià ý niệm một bản tính cố hữu là một nhận thức sai lầm, nên nói “lià vọng tưởng tánh phi tánh”. Chẳng (phi) thường là vọng tưởng của tướng không giới hạn ở tự tướng, mà còn cộng thông với các pháp khác (tự tướng cộng tướng) đoạn dứt nên chẳng thường; chẳng đoạn là tất cả bậc Thánh qúa khứ vị lai hiện tại đều được tự giác nên chẳng đoạn.

     Ngài giảng tiếp rằng: “Niết Bàn bất hoại bất tử, nếu Niết Bàn TỬ thì phải thọ sinh tương tục; nếu HOẠI, thì phải đọa tướng hữu vi; cho nên Niết Bàn lìa hoại lìa tử, là chỗ quy y của người tu hành. Niết Bàn phi xả phi đắc, phi đoạn phi thường, phi nhứt nghĩa, phi đa nghĩa, gọi là Niết Bàn”. Nghĩa là Niết Bàn không hủy hoại không chết (bất hoại bất tử), vì nếu hủy hoại thì phải có hình tướng, nếu chết thì phải thụ sinh nối tiếp, cho nên Niết Bàn lià hủy diệt, lià chết. Niết Bàn chẳng bỏ (xả) chẳng được (đắc), chẳng đoạn diệt (đoạn) chẳng vĩnh cửu (thường), chẳng một nghĩa chẳng nhiều nghĩa, đây chính là chỗ tin theo (quy y) của người tu hành vậy.

     Đức Phật lưu ý rằng: “Niết Bàn của Thanh Văn, Duyên Giác dựa theo khổ, không, vô thường, vô ngã, quán sát các pháp tự tướng cộng tướng vốn chẳng thật thể, quán Thập nhị Nhân duyên cũng thế, đều là cảnh giới náo động”; Nghĩa là Niết Bàn của Thanh Văn, Duyên Giác dựa theo Khổ, Không, Vô thường, Vô ngã, quán sát các pháp tướng không giới hạn ở tự tướng, mà còn cộng thông với các pháp khác (tự tướng cộng tướng) vốn chẳng có thực thể, quán Mười hai Nhân duyên cũng thế, đều là cảnh giới không thanh tịnh (náo động).

     Ngài khuyên: “Chẳng ưa thân cận, ham chỗ tịch lặng, tri kiến chẳng điên đảo thì vọng tưởng chẳng sinh; vì họ chẳng thể chuyển Thức thành trí, trông thấy chỗ tịch lặng của Thức ấm cho là Niết Bàn, thật thì chẳng phải cứu cánh”. Nghĩa là chẳng nên ưa thân cận với những cảnh giới ấy, không nên ham chỗ tịch lặng, khi thấy biết (tri kiến) chẳng điên đảo thì vọng tưởng chẳng sinh. Họ chẳng thể chuyển Thức thành Trí, khi trông thấy chỗ tịch lặng của Thức Ấm lại cho là Niết Bàn, thật ra thì chẳng phải cứu cánh.

     Sau chót, Đức Phật nói có hai thứ Tướng Tự Tánh là:

 

1- TƯỚNG CHẤP TRƯỚC

NGÔN THUYẾT TỰ TÁNH:

     Là do thói quen chấp trước hư ngụy từ vô thủy đến nay của lời nói mà sinh khởi và do thói quen vọng tưởng có tính chấp thật, so sánh chấp thật mà có.

 

2- TƯỚNG CHẤP TRƯỚC SỰ TỰ TÁNH:

     Là chẳng như thật biết mà chỉ là tự tâm thấy cảnh giới bên ngoài của thế sự, do vô minh (bất giác) hiện ra giới hạn bản tâm (ngằn mé tự tâm) mà sinh khởi. Vì theo nhân duyên mà sinh khởi tất cả vạn pháp, do chủng tử của A Lại Da Thức thứ Tám làm đệ nhất nhân, đồng thời nhờ các trợ duyên khác mà sinh khởi các tướng.

2). HAI THỨ THẦN LỰC:

- Lại nữa, Đại Huệ! Như Lai dùng hai thứ thần lực kiến lập, khiến Đại Bồ Tát đảnh lễ Chư Phật, hỏi nghĩa và nghe pháp thọ giáo. Thế nào là hai thứ thần lực kiến lập?

1.- Là hiện thân thuyết pháp.

2.- Là vô ngôn thuyết, chỉ dùng tay quán đảnh, truyền thọ địa vị Như Lai.

- Đại Huệ! Đại Bồ Tát chứng Sơ Địa (1), trụ nơi thần lực của Phật, nhập Đại thừa Chiếu Minh Tam Muội. Nhập Tam Muội này rồi, thì mười phương thế giới, tất cả chư Phật dùng sức thần thông thị hiện tất cả thân diệu ngôn thuyết, như Đại Bồ Tát Kim Cang Tạng, và như các Đại Bồ Tát khác đã thành tựu tướng công đức như thế. Đại Huệ, ấy gọi là Sơ Địa Bồ Tát.

- Bậc Đại Bồ Tát được thần lực Tam muội chánh thọ (2), là do tích chứa thiện căn từ trăm ngàn kiếp sở thành tựu. Đối trị tướng sở trị (3) thứ lớp tiến lên chư Địa, cho đến Pháp Vân Địa (4), thông đạt cứu cánh, trụ nơi cung điện Đại Liên Hoa vi diệu, ngồi tòa sư tử Đại Bảo Liên Hoa, được quyến thuộc của các Đại Bồ Tát cùng loại vây quanh, các thứ báu anh lạc trang nghiêm thân thể, như hoa Chiêm Bặc bằng vàng, như ánh sáng nhựt nguyệt. Các Bồ Tát từ mười phương đến, nơi tòa đại Liên Hoa trong cung điện mà quán đảnh (5), cũng như sự quán đảnh của Tự Tại Chuyển Luân Thánh Vương và Thái Tử Đế Thích, ấy gọi là thần lực Bồ Tát trụ nơi hai thứ thần lực, thì sẽ gặp mặt chư Phật Như Lai, nếu chẳng thế thì chẳng thể gặp.

- Lại nữa, Đại Huệ! Những pháp hạnh thần túc, tam muội, phân biệt của Đại Bồ Tát, tất cả đều trụ nơi hai thứ thần lực của Như Lai. Đại Huệ! Nếu Đại Bồ Tát lìa hai thứ thần lực Phật mà có biện tài thuyết pháp, thì tất cả phàm phu cũng phải có biện tài thuyết pháp; tại sao? Vì chẳng cần trụ nơi thần lực mà tự có vậy.

- Đại Huệ! Khi Như Lai vào thành, hiện sức oai thần của Phật, khiến các thứ vô tình như núi đá, cây cối và nhạc cụ, thành ấp, cung điện đều tự nhiên phát ra tiếng âm nhạc, huống là người có tâm thức, dù mù, điếc, câm, ngọng có vô lượng khổ, đều được giải thoát; Như Lai có vô lượng thần lực như thế để lợi lạc chúng sinh.

     Đại Huệ Bồ Tát lại bạch Phật rằng:

- Thế Tôn! Do nhân duyên nào, Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác gia hộ thần lực cho bậc Bồ Tát đang trụ Tam muội chánh thọ (4) và khi được Thắng Tiến Địa quán đảnh?

Phật bảo Đại Huệ:

- Vì lìa ma nghiệp phiền não nên chẳng đọa thiền của Thanh Văn thừa; vì đắc Như Lai Tự Giác Địa và đắc pháp tinh tấn, nên Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác, đều dùng thần lực kiến lập chư Đại Bồ Tát. Nếu chẳng dùng thần lực kiến lập, ắt phải đọa ác kiến vọng tưởng của ngoại đạo, hoặc đọa Thanh Văn thừa, hoặc đọa hy vọng của chúng ma, chẳng thể đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Do đó, chư Phật Như Lai đều dùng thần lực nhiếp thọ chư Đại Bồ Tát.

     Khi ấy, Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Thần lực của chư Phật,

Do đại nguyện trong sạch.

Quán đảnh bậc Bồ Tát,

Sơ Địa đến Thập Địa.

 

GIẢI NGHĨA:

(1) Sơ địa: Là Hoan hỉ địa (pramuditā-bhūmi): Đắc quả này Bồ Tát rất hân hoan vui vẻ trên đường Giác ngộ (bodhi). Bồ Tát đã phát Bồ-đề tâm và thệ nguyện cứu độ tất cả chúng sinh thoát khỏi Luân hồi (saṃsāra), không còn nghĩ tới mình, Bố thí (dāna) không cầu phúc và chứng được tính Vô ngã (anātman) của tất cả các Pháp (dharma).
(2) Tam-muội chính thụ: Với ý nghĩa:
1. Hoàn toàn tin tưởng không nghi ngờ giáo lí, một Thánh nhân đã đạt một cấp bậc thiền định thâm sâu;

2. Định, cấp bậc tập trung cao.

(3) Sở tri: Chỗ biết, là tập khí xuất thế gian như cho là có Niết Bàn, có chứng đắc v.v….

(4) Pháp vân địa: Bồ Tát bậc thứ 10, đạt tất cả trí (Nhất thiết trí) Pháp thân của Bồ Tát đã đạt tới mức viên mãn. Ngài ngự trên toà sen với vô số Bồ Tát chung quanh trong cung trời, Phật quả của Ngài đã được Chư Phật ấn chứng; Bồ Tát đạt cấp này là Di-lặc (maitreya), Quán Thế Âm (avaloki-teśvara) và Văn-Thù (mañjuśrī).

(5) Quán đảnh: Quán là gia trì phát triển lòng từ bi, Đảnh là diệu lý của chư Phật, Quán Đảnh là đem giáo lý truyền giảng cho.

 

     Đoạn 2, Mục 8, Quyển 2 này, Đức Phật giảng về việc Chư Phật dùng hai thứ thần lực khiến Bồ Tát đảnh lễ Chư Phật, hỏi nghĩa và nghe pháp thọ giáo, hai thứ thần lực là:

1. Hiện thân thuyết pháp.

2. Vô ngôn thuyết, chỉ dùng tay quán đảnh, truyền thọ địa vị Phật.

     Bồ Tát chứng Hoan hỉ địa (Sơ Địa) trụ nơi thần lực của Phật, nhập định soi sáng (Chiếu Minh Tam Muội), khi nhập Tam Muội này rồi, thì mười phương thế giới, tất cả chư Phật dùng sức thần thông thị hiện tất cả thân soi sáng thuyết pháp (thân diệu ngôn thuyết), như Đại Bồ Tát Kim Cang Tạng và các Đại Bồ Tát khác đã thành tựu tướng công đức như thế.

     Bậc Đại Bồ Tát được thần lực đạt định thâm sâu (Tam muội chính thọ), là do tích chứa thiện căn từ trăm nghìn kiếp mà thành tựu. Đối trị các tướng tập khí của người tu (sở tri) thứ lớp tiến lên cho đến bậc Bồ Tát thứ 10 (Pháp Vân Địa), thông đạt cứu cánh, trụ nơi cung điện, ngồi tòa sư tử Đại Bảo Liên Hoa vi diệu, được quyến thuộc của các Đại Bồ Tát cùng loại vây quanh. Những pháp hạnh thần túc, tam muội, phân biệt của Đại Bồ Tát, các thứ báu anh lạc trang nghiêm thân thể như ánh sáng mặt trời mặt trăng (nhựt nguyệt), đây gọi là thần lực Bồ Tát trụ nơi hai thứ thần lực của Phật.

     Đức Phật bảo, đại ý: Như khi Ngài vào thành, mà hiện sức oai thần, khiến các thứ vô tình như núi đá, cây cối, nhạc cụ, thành ấp, cung điện đều tự nhiên phát ra tiếng âm nhạc; huống là người có tâm thức, dù mù, điếc, câm, ngọng có vô lượng khổ, đều được lợi ích như uống nước cam lộ. Chư Phật có vô lượng thần lực như thế để lợi lạc chúng sinh.

     Khi ấy Bồ Tát Đại Huệ hỏi Phật, đại ý rằng: Do nhân duyên nào, bậc Đẳng Chính Giác gia hộ thần lực cho bậc Bồ Tát tin sâu giáo lý và trụ trong thiền định thâm sâu (đang trụ Tam muội chính thọ) và được chư Phật truyền thọ giáo lý (quán đảnh)? Đức Phật giảng đại ý rằng: Vì lìa ma nghiệp phiền não và đạt pháp tinh tấn, nên Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chính Giác dùng thần lực kiến lập. Nếu chẳng dùng thần lực kiến lập, ắt đọa ác kiến vọng tưởng của ngoại đạo, hoặc đọa mong muốn (hy vọng) của chúng ma, chẳng thể đạt Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác. Do đó, Chư Phật đều dùng thần lực nhiếp thọ hàng Bồ Tát từ Sơ địa đến Thập địa.

3). THUYẾT DUYÊN KHỞI:

(Còn tiếp)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn