Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Tiểu Sử Dịch Giả

22/06/201519:33(Xem: 4785)
Tiểu Sử Dịch Giả

Phap Su Huyen Trang

TIỂU SỬ CỦA PHÁP SƯ HUYỀN TRANG

Dịch giả Kinh Đại Bát Nhã từ Phạn sang Hán

 


 

Từ khi tác phẩm Tây du ký của Ngô Thừa Ân (khoảng 1500 – 1580) ra đời đến nay đã gây ra nhiều sự hiểu lầm đối với nhiều người về ngài Huyền Trang – bậc cao Tăng lỗi lạc đời nhà Đường - mà người ta thường hay gọi là Đường Tăng hay Đường Tam Tạng, nhất là trong những năm gần đây có nhiều phim ảnh mang nội dung của cuốn tiểu thuyết này được trình chiếu khắp nơi càng làm cho người ta hiểu lầm ngài, thậm chí còn cho ngài là một người nhu nhược, bất công, không sáng suốt, mọi việc đều phải nhờ vào kẻ khác … và có một xuất thân thật là thấp hèn, nào là cha bị giết, mẹ bị hiếp, lúc nhỏ ngài đã bị bỏ trôi sông, chưa đến tuổi trưởng thành đã báo thù báo óan… Vẫn biết Ngô Thừa Ân không tự đặt ra câu chuyện này, mà ông đã tập hợp nhiều tác phẩm mang nội dung Tây du trước đó(1) để viết ra truyện Tây du ký với nhiều mục đích chính trị và xã hội, trong đó phản ảnh rất trung thực những tiêu cực từ bề trái của cuộc sống con người ở nhiều tầng lớp khác nhau, rút ra những bài học rất giá trị cho nhiều thế hệ, nhưng việc tiểu thuyết hóa theo chiều hướng xấu một nhân vật lịch sử – một con người đạo đức đã được người đời kính ngưỡng thật là việc làm không đúng của ngừơi cầm bút.

Thực ra, ngài Huyền Trang là một ngôi sao sáng chói trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa, là vị sáng tổ của Duy Thức Pháp Tướng tông thuộc Phật giáo Đại thừa Trung Quốc, một học giả uyên bác thâm sâu về Phật học, một dịch giả có công lớn nhất từ trước đến nay. Tên thật của ngài là Trần Vĩ, sinh năm 600 (2) ở huyện Hầu Thị châu Lạc Xuyên (nay là huyện Uyển Sư tỉnh Hà Nam) Trung Quốc. Xuất thân từ một gia đình danh gia vọng tộc, cha là Trần Huệ đã từng làm huyện lệnh ở Giang Lăng, các thành viên trong gia đình đều là những Phật tử thuần thành, ngài có bốn anh em, người anh thứ hai là Trần Tiệp xuất gia ở chùa Tịnh Độ (Lạc Dương). Có lẽ do những điều thuận lợi như thế nên ngài Huyền Trang đã sớm có cơ hội gần gũi Phật pháp ngay trong thời thơ ấu.

Năm lên 10 tuổi (610) ngài được gia đình cho phép xuất gia trong một ngôi chùa ở Lạc Dương. Ngài thọ giáo Đại Bát Niết Bàn Kinh với Cảnh Pháp sư và Nhiếp Đại Thừa luận với Nghiêm Pháp sư , đến năm 13 tuổi đã thông suốt hai bộ kinh luận này lại được trúng tuyển trong danh sách 27 vị tăng do triều đình tuyển chọn. Qua năm 14 tuổi (614) ngài được sang Thành Đô học bộ Tùy Đàm tập yếu với Cơ Pháp sư và Tiềm Pháp sư, bộ A Tỳ Đàm Phật Trí luận (của ngài Ca Chiên Diên) với Chấn Pháp sư. Ngài học rất chuyên cần và tinh tấn nên chẳng bao lâu đã liễu ngộ hai bộ luận nói trên.

Năm 20 tuổi (620) , ngài Huyền Trang thọ giới Tỳ kheo tại Thành Đô, sau đó ngài tiếp tục học kinh luận và các bộ sớ giải của đất Thục. Ngài cũng đi hành cước ở nhiều nơi để học đạo, ngài đi Kinh Châu, Tương Châu, đặc biệt là đến Triều Châu để học bộ Thành Thật luận với Thẩm Pháp sư và đến Trường An để học bộ Câu Xá luậnvới Nhạc Pháp sư. Ngài là người thông minh xuất chúng học đâu biết đó, chỉ học qua một lần đã nhớ mãi không quên. Thời đó ở Trường An có hai vị Pháp sư nổi tiếng là Pháp Thường và Tâm Biện, đây là hai giảng sư rất uyên thâm về luận Đại thừa, hai ngài đã dẫn dắt ngài Huyền Trang tu học, và cũng chính hai giảng sư này lại nói rằng “Người nầy thật sự là con ngựa câu ngàn dặm trong hàng Thích tử, chiếu sáng mặt trời trí tuệ sẽ là bổn phận của người. Rất tiếc chúng tôi đã lớn tuổi nên không chứng kiến được sự thành công rực rỡ đó …”.

Ngài Huyền Trang sau khi học đạo ở nhiều nơi với nhiều danh sư đã nhận thấy rằng trong những điều đã học có nhiều điểm không tương đồng, thậm chí còn tương phản với nhau, không thể lý giải được; lúc đó lại có một vị cao tăng tên Ba-pha-mật-đa-na ở chùa Na-Lan-Đà, học trò của ngài Giới Hiền từ Ấn Độ đến Trường An bằng đường biển để thuyết giáo. Sau khi gặp vị cao tăng này cộng với những suy nghĩ trên nên ngài quyết định phải du hành sang Ấn Độ để du học những điều chưa hiểu biết và thỉnh về cho quê hương xứ sở những bộ kinh mà Trung Quốc đang còn thiếu sót. Mặc dù có lệnh của vua Đường Thái Tông cấm chỉ việc Tây du, nhưng với ý chí cương quyết và tấm lòng nhiệt thành với đạo, ngài đã lên đường sang Ấn Độ vào tháng tám niên hiệu Trinh Quán thứ 3 đời Đường (năm 629). Điểm khởi hành là Trường An, ngài đến Tân Châu, Lan Châu rồi Lương Châu ở đây bị vị Đô đốc trấn nhậm xứ này giữ lại do lệnh của Triều đình, nhưng đang đêm ngài lại lẽn ra đi, ngài đến Qua Châu sang sông Hồ Lư rồi một mình ra khỏi Ngọc Môn quan, trực chỉ đất Phật.

Trên đường đến Thiên Trúc (Ấn Độ) ngài đã băng qua con đường dài thăm thẳm với những sa mạc mênh mông, núi cao chớm chở, rừng rậm bạt ngàn… với những sông sâu thăm thẳm, ghềnh thác cheo leo, thú dữ đầy đàn, ác nhân chờ chực. Sau hai năm đối mặt với hiểm nguy với nhiều lần thoát chết ngài đã đến đất Phật thiêng liêng. Ngài tu học ở chùa Na Lan Đà và tham quan nhiều nơi khác, đã chứng đắc được giáo nghĩa thâm sâu của Phật giáo đại Thừa, ngài đã liễu ngộ được mọi vấn đề về chân không - diệu hữu. Cuối cùng ngài đã mang cái thành quả tri thức này trở về Trung Quốc – nơi quê hương xứ sở của ngài với sự đón tiếp nồng nhiệt của Triều đình và dân chúng. Tính vừa đi vừa về đúng 17 năm, ngài đã xuyên qua một quãng đường gần 10.000 km.

Ngài trở về Trung Quốc vào tháng giêng, niên hiệu Trinh Quán thứ 19 (năm 645). Khi về đến Kustana (một nước giáp biên giới phía đông của Trung Quốc), ngài đã viết thư sai người về kinh đô trình Hoàng đế Trung Quốc báo tin ngài đang trên đường về. Đường Thái Tông truyền lệnh cho Tể tướng Phòng Huyền Linh sắp xếp và tổ chức đón tiếp ngài. Phòng Tể tướng đã cử Hầu mạc Trần Đạt (Đại tướng trấn nhậm xứ Hữu Võ Hầu) Lý Thúc Tông (Tư mã Ung Châu ), Lý Càn Hựu ( Huyện lệnh Tràng An)  dẫn phái đoàn đến Tào Thượng để đón tiếp ngài, lễ đón tiếp thật long trọng.

Các loại kinh tượng, pháp bảo, ngài mang từ Ấn Độ về Trung Quốc gồm có:

1/ 150 hạt xá lợi Phật .

2/ 01 tượng Phật bằng vàng theo mẫu dùng trong hang Long Khất trên núi Chánh Giác ở Ma Kiệt Đà, tượng cao ba bộ bốn tấc Anh tính cả đế.

3/ Một tượng Phật bằng gỗ trầm hương tạc hình đức Phật chuyển pháp luân lần đầu ở Varanasi, tượng cao 3 tấc 5 Anh tính cả đế.

4/ Một tượng bằng gỗ trầm, mô phỏng tượng trầm hương do vua Udayana ở xứ Kansamhi, cao 2 tấc 9 Anh tính cả đế.

5/  Một tượng Phật bằng bạc cao 4 tấc Anh tạc hình Như Lai từ cung Trời giáng xuống thành Ca Tỳ La Vệ.

6/ Một tượng Phật bằng vàng cao 3 tấc 5 Anh tính cả đế , tạc hình Đức Phật đang thuyết kinh Pháp Hoa ở núi Linh Thứu xứ Ma Kiệt Đà.

7/ Một tượng Phật bằng gỗ trầm hương cao 1 tấc 3 Anh tính cả đế, tạc hình Đức Phật đang khuất phục mãng xà ở Nagaraha.

8/ Một tượng Phật bằng gỗ trầm hương, tạc hình Đức Phật đang khất thực quanh thành Vaishali, và một số tượng nhỏ khác.

9/ 224 bộ kinh, 192 bộ luận. Trong đó có 15 bản Thượng tọa bộ, 15 bản Đại chúng bộ, 15 bản của phái Chánh Lượng, 22 bản của phái Disatac, 27 bản của phái Ca Diếp tỉ la, 42 bản của phái Pháp Mật, 67 bản của phái Nhất Thiết Hữu, 36 bản Nhân Minh luận, 13 bản Thanh Minh luận. Tổng cộng có 520 hòm kinh sách, phải dùng 20 con ngựa để chuyên chở.

Trong 20 năm kể từ khi về đến Trung Quốc đến cuối cuộc đời, ngài đã dịch 75 bộ kinh luận gồm 1.335 quyển (đúng ra là 68 bộ, vì trong đó có những bộ nhỏ được rút ra từ những bộ lớn). Ngoài ra còn có một bộ hồi ký rất nổi tiếng là Đại Đường Tây Vực ký  thường được gọi là Đại Đường Tây Du ký, bộ nầy ngài Huyền Trang cùng ngài Biện Cơ (Khuy Cơ) hợp soạn theo lời yêu cầu của nhà vua. Trong thời gian dịch kinh ngài còn tổ chức truyền bá sâu rộng tư tưởng và giáo nghĩa Duy thức dùng Thành duy thức luận làm cơ sở, sau đó đã hình thành Duy thức tông còn gọi là Duy thức Pháp tướng tông, theo triết lý của tông này thì không có pháp nào trong thế gian, phi thế gian hay niết bàn mà lìa ngoài thức, và cứ mỗi thức trong bát thức (Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý, Mạt na, A  lại da) đều có ba phần: Tướng phần ta thường gọi là dữ kiện cảm quan; Kiến phần là cơ quan tri thức; Thị chứng phần cũng chính là bản thể của thức.

Duy thức tông tuy theo đường lối liễu tri tiệm ngô, nhưng đã đáp ứng được một phần lớn về nhu cầu giáo lý ở đời Đường, đã đưa ra chỗ bám víu tối cao mà Tam luận tông không có. Chủ truơng của Tam luận tông do ngài Cát Tạng sáng lập là “Duyên khởi hữu, tính tự không“ với giáo nghĩa rất cao siêu, nhưng cái khái niệm “tính không“ rất khó giải thích vào thời đó, các nho sĩ cứ hiểu lầm bản thể là không, cứu cánh không có thì tu làm gì.  Đến khi cái thuyết A lại da duyên khởi của ngài Huyền Trang ra đời đã bù lắp vào chổ khó hiểu của Tam luận tông. Ngoài ra Duy thức tôngcũng đóng góp được phần lý luận căn bản cho những người muốn nghiên cứu về Thiền, vì Thiền tông chỉ chú trọng ở phần chứng tri hơn ở phần liễu tri, chỉ đặt trọng tâm ở phần tu chứng hơn là lý luận, chủ trương của Thiền là “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật” tuy rất hay nhưng đa số các học giả hoặc tu sĩ còn nặng về nho học thật không hiểu nổi. Duy thức luận ra đời đã đáp ứng được vấn đề lý luận cơ bản nầy.

         Trong khi Phật giáo đang đi vào thời điểm cực thịnh ở Trung Quốc thì vào ngày mùng bốn tháng hai niên hiệu Lân Đức (năm 664) tại Ngọc Hoa cung ngài đã vĩnh viễn ra đi để lại bao nhớ thương luyến tiếc cho hàng triệu tông đồ Phật tử, trong đó có cả vua tôi nhà Đường. Cả cuộc đời ngài Huyền Trang đã hiến dâng cho đạo pháp, ngài đã vận dụng tất cả sự hiểu biết của mình để dịch thuật kinh luận và soạn dịch các kinh nghĩa đã có từ trước (trong đó có bộ Đại bát nhã gồm 600 quyển), ngài cũng vừa thành lập tông môn để truyền bá giáo lý Phật đà. Với trí tuệ và công đức vô lượng đó, vua Đường đã sắc phong cho ngài làm Quốc sư với tôn hiệu là “Tam Tạng Pháp Sư”, và sau khi ngài viên tịch Đường Cao Tông đã bãi triều ba ngày để tưởng niệm; lễ tang của ngài đươc cử hành trọng thể, có hơn một triệu người ở Trường An và các vùng phụ cận đến tham dự, sau khi an táng còn có ba mươi ngàn tông đồ và những người kính ngưỡng làm lều ở cạnh mộ ngài để ngày đêm lo hương khói. Trong lễ an táng ngài Huyền Trang, vua Đường Cao Tông đã đau đớn tuyên bố “Trẩm nay vừa mất một quốc bảo”, nhưng cho đến hôm nay – đã hơn ngàn năm qua hình bóng thân thương của ngài vẫn tồn tại và sự nghiệp lẫy lừng của ngài lúc nào cũng còn đậm nét trong kho tàng Phật học của chúng ta ./.

------------------------------

Bài của Trần Phước Thuận

(1) Trước Ngô Thừa Ân đã có một số tác phẩm mang nội dung Tây du như :

Đường Tam Tạng thủ kinh thi thoại, thời Nam Tống.

Tây Du ký bình thoại, thời Nguyên.

Đường Tam Tạng Tây thiên thủ kinh tạp kịch, thời Nguyên.

Tây du ký tạp kịch, thời Nguyên.

(2)  Cũng có tài liệu ghi ngài Trần Huyền Trang sinh vào niên hiệu Khải Hoàng thứ 16 đời Văn đế nhà Tùy, nhằm năm 596 Tây lịch.



blank
Tiểu Sử Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm

Dịch giả Kinh Đại Bát Nhã từ Hán sang Việt


Thân thế:

Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm thế danh là Phan Diệp, sinh ngày 9 tháng Giêng năm Tân Hợi (1911) tại Thôn Chánh Lộc, Xã Xuân Lộc, Huyện Đồng Xuân, (thuộc Huyện Sông Cầu ngày nay), Tỉnh Phú Yên. Thân phụ là Cụ Ông Phan Châm. Thân mẫu là Cụ Bà Nguyễn thị Tham. Ngài là người con thứ hai trong gia đình có năm anh chị em. Gia đình Ngài là một gia đình có truyền thống nhiều đời uy tín Tam Bảo.

Xuất gia tu học:

Ngài húy là Tâm Bổn, tự là Truyền Lai, hiệu là Trí Nghiêm dòng Lâm Tế đời thứ 43.

_Năm 15 tuổi (1926) xuất gia thọ giới với Ngài Vĩnh Hảo Đại Sư (cũng là cậu ruột của Ngài) tại chùa Phước Long, Xã Xuân Lộc, Huyện Đồng Xuân, Tỉnh Phú Yên.

_Năm 22 tuổi (1933), Ngài thọ Đại Giới, tại Giới Đàn Chùa Bảo Sơn Phú Yên do Hòa thượng Vạn Ân làm Đàn Đầu.

_Năm 27 tuổi (1938) Ngài được trúng tuyển vào tu học tại Phật Học Đường Bảo Quốc Huế. Tại đây Ngài đã được sự truyền dạy của Hòa Thượng Thích Trí Độ, một vị Đốc Giáo danh đức thời bấy giờ. Chính nơi đây đã đào tạo nhiều vị Tăng tài lỗi lạc cho Phật Giáo nước nhà hiện nay. Ngài đã tu học tại Phật Học Đường này 8 năm.

Đạo Nghiệp :

_ Năm 1944 (34 tuổi), sau khi mãn học, Ngài đã bắt đầu công việc hoằng hóa bằng việc lưu hành diễn giảng Giáo lý tại các Tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên…

_ Năm 1945 (35 tuổi), Ngài trở về Phú Yên làm trụ trì chùa Thiên Tôn ở Tuy An 9 năm. Trong thời gian này Ngài đã tham gia Phật Giáo Cứu Quốc thuộc liên khu V.

_ Năm 1955 Ngài lại tiếp tục công cuộc hoằng hóa, chuyên lo giảng dạy Phật Pháp tại các Tỉnh Hội Phật Học : Phú Yên, Khánh Hòa. Lúc này Ngài được coi là vị Giảng Sư kỳ cựu của Hội Phật Học Miền Trung.

_ Năm 1956, Ngài chủ trương xây dựng Trường Bồ Đề Tuy Hòa và Cô nhi viện Phước Điền Tuy Hòa, Phú Yên.

_ Năm 1957, theo thỉnh cầu của Giáo Hội, Ngài ra giữ chức Hội Trưởng Hội Phật Học Thừa Thiên Huế.

_ Năm 1960, Ngài vào thường trú để lo Phật sự tại chùa Long Sơn, trụ sở Tỉnh Giáo - Hội Phật Giáo Khánh Hòa Nha Trang hiện nay.

_ Năm 1964, Ngài là thành viên của Hội Đồng Giáo phẩm Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thống nhất.

_ Năm 1966, Ngài giữ chức Chánh Đại Diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thống nhất Khánh Hòa - Nha Trang.

_ Năm 1968, Ngài là Chứng Minh Đạo Sư của Tỉnh Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thống nhất Khánh Hòa - Nha Trang.

_ Năm 1968, Ngài là Đệ nhị Tôn Chứng tại Đại Giới Đàn Hải Đức Nha Trang (lần 2).

_ Năm 1973, Ngài làm Giáo Thọ tại Đại Giới Đàn Phước Huệ Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang.

_ Năm 1974, Ngài làm giám luật Ban Quảng trị Viện Cao đẳng Phật học Hải Đức Nha Trang.

_ Năm 1977, Ngài được Đại Lão Hòa Thượng Thích Giác Nhiên, Đệ nhị Tăng Thống GH. PG. VN TN. tấn phong Hòa Thượng.

_ Năm 1980 - Dịch xong bộ Đại Bát Nhã Kinh

_ 1980 - đến nay tiếp tục nghiên cứu và phiên dịch Kinh điển Đại Thừa tại tại Am Hoàng Trúc - thành phố Nha Trang.

Phiên dịch kinh luận:

Mặc dù bận nhiều Phật sự về lãnh đạo và hoằng hóa, nhưng Ngài vẫn tinh tấn chăm lo phiên dịch kinh luận để tiếp dẫn hậu lai.

1- Kinh Lời Vàng : Nguyên danh kinh là "Phật Giáo Thánh kinh", 1 quyển, do nữ cư sĩ Trung Hoa là Dương Tú Hạc biên soạn.

2- Kinh Phổ Môn giảng lục : 1 quyển, do Bảo Tịnh Pháp Sư giảng (dịch năm 1969).

3- Kinh Pháp Hoa giảng lục : 1 bộ, 7 quyển, 2 tập, do Thái Hư Pháp Sư giảng (dịch năm 1969)

4- Luận Thành Thật : 20 quyển, do Ha Lê Bạt Ma Tát soạn.

5- Kinh Đại Bát Nhã 24 tập, 600 quyển, 5 triệu chữ (5.000.000), do Huyền Trang Hán dịch. Khởi dịch từ năm 1973 đến năm 1980 mới hoàn tất.

Bốn kinh luận đầu đã in, riêng "Kinh Lời Vàng" và "Kinh Pháp Hoa - giảng lục" đã được tái bản một hai lần, " Kinh Đại Bát Nhã; đã in 2 lần, lần mới nhất là năm 1998 tại Sài gòn.

Ngoài ra, còn 10 bộ kinh nhỏ chưa in.

Từ năm 1981, Ngài là Chứng minh Đạo Sư của tỉnh Giáo Hội Phật Giáo Khánh - Hòa Nha Trang.

Sau một thời bệnh nặng,  mặc dù đã được hàng đệ tử, các giáo sư bác sĩ và y sĩ bệnh viện Thành phố Nha Trang tận tình chăm sóc chữa trị. Nhưng vì tuổi cao sức yếu, Ngài không vượt qua khỏi, Ngài đã an tường xả báo thân lúc 2 giờ sáng ngày 13 tháng 01 năm 2003 ( nhằm ngày 11 tháng chạp năm Nhâm Ngọ) thọ thế 93 tuổi, 70 tuổi đạo.

Suốt cuộc đời, từ khi xuất gia hành đạo cho đến lúc viên tịch, Ngài đã nỗ lực không ngừng trong công việc xiển dương đạo pháp. Cuộc đời Ngài là một tấm gương sáng ngời về đạo hạnh và sự nghiệp hoằng hóa cho Tăng ni và Phật tử noi theo. Mặc dù sắc thân của Ngài không còn nữa nhưng đạo hạnh và sự nghiệp hoằng hóa của Ngài sẽ mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho Tăng Ni Phật tử hậu lai.

Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng, lược ghi

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn