Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

29. Tổ Huệ-Khả

16/04/201109:18(Xem: 1721)
29. Tổ Huệ-Khả

BAMƯƠIBA VỊ TỔ ẤN HOA
HTThíchThanh Từ soạn dịch
TuViệnChơn Không 1971

Tổthứhai Trung-Hoa
29.–Huệ-Khả (494 – 601 T.L)

Sưhọ Cơ quê ở Võ-Lao, giòng tôn thất nhà Chu, cha mẹ Sư lớntuổi không con, lắm phen đến chùa cầu con, sau mẹ có thaisinh ra Sư. Khi Sư lọt lòng mẹ, có hào quang lạ chiếu sángtrong nhà, nên đặt tên Sư là Quang.

Thuởbé, Sư học hết sách đời, rất thông Lão-Trang. Năm ba mươituổi, Sư tự cảm than: < Lão, Dịch là sách thế gian chẳngtột được đại lý >. Sư bắt đầu xem kinh Phật. Sư viễndu tìm thầy học đạo, đến Lạc-Dương lên núi Hương-Sơnchùa Long-Môn gặp thiền sư Bảo-Tịnh bèn xin xuất gia. Sauđó, Sư đến chùa Vĩnh-Mục thọ giới ở tại Phù-Du Giảng-Tứ.Sư chuyên học Kinh luận, chưa bao lâu thảy được tinh thông.Năm 32 tuổi, Sư trở về Bổn sư nơi Hương-Sơn. Ở đây trọnngày, Sư ngồi thiền quán trên núi. Trải tám năm như thế,một hôm khi Sư đang thiền định, bỗng có vị thần hiệnra thưa: -Ngài không nên ở đây lâu, muốn được đạo quảhảy đi về phương Nam.

Hômsau, trên đầu Sư chợt đau như kim châm không thể chịu được.Sư định đi tìm thuốc trị, chợt nghe trong hư không có tiếngnói: <Đây là đổi xương, chẳng phải bệnh thường>.Sư đem việc nầy thuật lại Thiền-sư Bảo-Tịnh. Bảo-Tịnhngăn không cho trị thuốc. Sáng hôm sau, Bảo-Tịnh xem trênđầu Sư quả thấy đầu xương nổi cao như năm ngọn núi, bảo:

-Lạthay! ngươi có tướng tốt này ắt sẽ đắc đạo. Thầnlại dạy ngươi sang miền Nam, ta nghe Đại-sĩ Bồ-Đề-Đạt-Mađến ở chùa Thiếu-Lâm, chắc đó là thầy của ngươi vậy.Nhơn có Thần mách bảo, nên Bổn sư Bảo-Tịnh đổi hiệuSư là Thần-Quang. Sư tìm đến chùa Thiếu-Lâm yết kiến TổBồ-Đề-Đạt-Ma và được truyền tâm ấn. Sư ở đây chođến lúc Tổ qui tịch. Sau đó, sư sang Bắc-Tề hoằng truyềnchánh pháp. Một hôm, Sư gặp một người cư sĩ trạc 40 tuổi,chẳng nói tên họ, đến đảnh lễ Sư thưa: -Đệ tử mangbệnh ghẻ lở đầy mình, xin thầy từ bi vì đệ tử sámtội. Sư bảo: -Đem tội ra, ta sẽ vì ngươi sám hối. Ôngcư sĩ đứng sững giây lâu thưa: -Đệ tử tìm tội khôngthể được. –Ta đã vì ngươi sám hối rồi. Nhưng, ngươinên nương tựa Phật Pháp Tăng. -Hiện giờ đệ tử thấythầy đã biết được Tăng. Chẳng biết thế nào là Phậtvà Pháp?

-Tâmấy là Phật, tâm ấy là Pháp, Phật Pháp không hai, ngươicó biết đó chăng? –Nay đệ tử mới biết tánh tội khôngở trong, ngoài, chặng giữa; như tội, tâm cũng vậy, thậtPhật Pháp không hai. Sư nghe nói rất hoan hỷ, cho cạo tócxuất gia bảo:-Ngươi là vật báu của ta, nên đặt tên Tăng-Xán. Ngày 18tháng 3 niên hiệu Thiên-Bình năm thứ hai (536 T.L).

Tăng-Xánđược thọ giới cụ túc tại Chùa Quang-Phước. Từ đó,bệnh của ông lần lần thuyên giảm. Ông theo hầu thầy đượchai năm. Một hôm, Sư Huệ-Khả gọi ông đến bảo: -Tổ Bồ-Đề-Đạt-Machẳng ngại xa xôi từ Ấn-Độ sang, đem chánh pháp nhãn tạngtruyền cho ta, nay ta trao lại cho ngươi cùng với y bát, ngươikhéo giữ gìn chớ để đoạn tuyệt. Nghe ta nói kệ: Bổnlai duyên hữu địa, Nhơn địa chúng hoa sanh, Bổn lai vô hữuchủng, Hoa diệc bất tằng sanh.

Dịch:Xưa nay nhơn có đất, Bởi đất giống hoa sanh, Xưa nay khôngcó giống, Hoa cũng chẳng từng sanh

Đọcbài kệ xong Sư lại tiếp: -Ngươi phải tìm nơi núi sâu ởẩn, không nên đi giáo hóa sớm, trong nước sẽ có nạn. Tăng-Xánthưa: -Thầy đã biết trước mọi việc, cúi xin từ bi dạycon rành rẽ. –Đây không phải tự ta nói, mà là lời huyềnký của Tổ Bát-Nhã-Đa-La do Tổ Đạt-Ma thuật lại cho tanghe: Sau khi Tổ nhập Niết-bàn 150 năm sẽ có những việcxảy ra như bài kệ nầy: Tâm trung tuy kiết ngoại đầu hung,Xuyên hạ tăng phòng danh bất trung, Vi ngộ độc long sanh võtử, Hốt phùng tiểu thử tịch vô cùng. Dịch: Trong tâm tuykiết ngoài đầu hung, Đất xuyên phòng tăng tên chẳng trúng,Vì gặp độc long sanh con võ, Chợt nghe chuột nhỏ lặng vôcùng.

Xétvề niên số nhằm đời của ngươi, ngươi cố gắng gìn giữ.Ta cũng có cái nợ ngày trước nay cần phải trả. Sư sangxứ Nghiệp-Đô tùy nghi giáo hóa thuyết pháp độ sanh ngótba mươi bốn năm. Lúc đó, có một văn sĩ nổi tiếng là thầnđồng tên Mã-Tăng-Ma. Năm 21 tuổi, ông đã giảng được sáchLễ, kinh Dịch tại miền Đông-Hải, thính giả đến nghe đôngnhư chợ. Một phen gặp Sư, Tăng-Ma liền xin xuất gia đầuPhật. Từ đây về sau, ông chẳng cầm đến cây viết, bỏhết sách thế gian, chỉ một y một bát, một tọa cụ, ngàyăn một bửa, dưới gốc cây ngủ một lần, chuyên tu hạnhđầu đà.

Lạicó ông cư sĩ Hướng là nhà văn Uyên bác chẳng màng đếnbả công danh, tánh thích rừng sâu quê vắng, đói ăn lá cây,khát uống nước giếng, làm bạn với nước biếc non xanh,để di dưỡng tinh thần. Nghe Sư hoằng hóa ở Bắc-Tề, ôngbiên thơ đến hỏi, thơ viết: -Bạch-Thầy, Theo thiển ý củatôi, người đời cảnh tạm, công danh phú quý như lùm mâynổi, lạch biển cồn dâu, đài các phong lưu, như hòn bọtnước. Có cái gì là chơn thật, đáng để ta quí trọng.

Vìbởi bóng do hình mà có, vang theo tiếng mà sanh, đuổi bóngnhọc hình, chẳng biết hình là gốc của bóng, to tiếng đểngăn vang, đâu biết tiếng là cội của vang. Trừ phiền nãomà thú hướng Niết-bàn, dụ bỏ hình mà tìm bóng; lìa chúngsanh mà cầu Phật quả, dụ im tiếng mà tìm vang. Cho nên biết,mê ngộ một đường, ngu trí chẳng khác, không tên mà đặttên, nhơn tên đó mà có thị phi. Không lý mà tạo thành lý,nhơn lý đó mà khởi tranh luận. Huyễn hóa chẳng phải chơn,thì cái gì phải ? cái gì quấy ? Hư vọng chẳng thật, thìcái gì không? cái gì có?

Muốnđem cái biết < được mà không chỗ được, mất mà khôngchỗ mất > trình với Thầy mà chưa có dịp gặp. Nay thốlộ ý nầy, mong thầy từ bi đáp cho. Sư đáp thơ: Bị quánlai ý giai như thật, Chơn u chi lý cảnh bất thù, Bổn mê ma-nivị ngõa lịch, Hoát nhiên tự giác thị chơn châu, Vô minhtrí huệ đẳng vô dị, Đương tri vạn pháp tất giai như,Mẫn thị nhị kiến chi đồ bối, Thân từ tá bút tác tưthơ, Quán thân dữ Phật bất sai biệt, Hà tu cánh mích bỉvô dư?

Dịch:Ông cư sĩ Hướng, Xem rõ ý ông gởi đến đây, Đối lý chơnu có khác gì, Mê bảo ma-ni là ngói gạch, Bỗng nhiên giácngộ biết chơn châu, Vô minh trí huệ đồng chẳng khác, Muônpháp đều như, phải liễu tri, Thương kẻ chấp thường vàchấp đoạn, Bày lời mượn bút viết thơ này, Quán thân vớiPhật không sai khác, Nhọc gì tìm kiếm Niết-bàn chi?

Ôngcư sĩ Hướng được thơ Sư, đọc xong ông tìm đến đảnhlễ và thọ nhận ấn ký. Sau nầy, Sư đổi đạo phục, giảdạng thế gian, có khi vào quán rượu, hoặc lúc đến hàngthịt, hoặc ở giữa đám đông thuyết pháp, hoặc làm ngườikhuân vác v.v… Có người biết hỏi Sư: -Thầy là nhà tu,tại sao làm như thế ? Sư đáp: -Ta tự điều phục tâm, đâucó quan hệ gì đến việc của ngươi. Sư đến huyện Quản-Thành,ở trước tam quan chùa Khuôn-Cứu diễn nói đạo vô thượng.Nhằm lúc ông trụ trì là pháp sư Biện-Hòa đang giảng KinhNiết-bàn, thính giả bên trong từ từ rút lần ra nghe Sư diễnhóa. Ông Biện-Hòa bực tức mới đi cáo gian với quan Ấp-Tểtên Địch-Trọng-Khản rằng < Sư giảng tà thuyết làm việcphi pháp >.

Địch-Trọng-Khảnkhông biết nhận xét, cứ nghe bướng liền bắt Sư gia hình.Sư không đối khán vẫn mặc nhiên thừa nhận để trả nợtrước cho xong. Ngay lúc gia hình, Sư thị tịch nhằm niên hiệuKhai-Hoàng năm thứ 13 nhà Tùy (601T.L)

Sưhưởng thọ 107 tuổi. Thiện tín thương xót đem di thể củaSư về chôn ở Từ-Châu phía đông-bắc huyện Phú-Dương.

Đếnđời vua Đức-Tông nhà Đường truy phong Đại-Tổ-Thiền-Sư.

_________________________________________

Phần-Phụ:Sư Mã-Tăng-Ma sau có đệ tử hiệu là Huệ-Mãn. Sư bảo Huệ-Mãn:-Tâm ấn của Tổ-Sư chẳng phải chuyện khổ hạnh, khổ hạnhchỉ là giúp đạo mà thôi. Nếu người khế được bản tâm,phát cái dụng tùy ý chơn quang, thì khổ hạnh như nắm đấtthành vàng. Nếu người chỉ chú trọng khổ hạnh mà khôngrõ bản tâm, lại yêu ghét trói buộc thì khổ hạnh như đêmba mươi đi trong đường hiểm. Ngươi muốn rõ được bảntâm, phải suy cùng xét cạn, khi gặp sắc gặp thinh mà chưakhởi suy nghĩ, tâm ở chỗ nào ? là không chăng ? là có chăng? Đã chẳng rơi vào chỗ có không, thì tâm chân tự sáng thườngchiếu thế gian, chưa có một mảy bụi làm gián cách, chưatừng có tướng khoảng sát-na đứt nối.

Huệ-Mãnsau cũng hành hạnh đầu đà.

Thiền-SưHạo-Nguyệt hỏi Thiền-Sư Trường-Sa-Cảnh-Sầm rằng: -Cổ-đứcnói: < Liễu tức nghiệp chướng bổn lai không, vị liễuưng tu thường túc trái > ( Hai câu này trích trong < ChứngĐạo Ca > của Thiền-Sư Huyền-Giác ).

NhưTổ Sư-Tử và Tổ Huệ-Khả vì sao lại đền nợ trước?Trường-Sa bảo: -Đại-Đức chẳng biết bổn lai không. Hạo-Nguyệthỏi: -Thế nào là bổn lai không ? -Nghiệp chướng. -Thế nàolà nghiệp chướng? -Bổn lai không. Hạo-Nguyệt lặng thinh.Trường-Sa dùng kệ chỉ bày: Giả hữu nguyên phi hữu, Giảdiệt diệc phi vô, Niết-bàn thường trái nghĩa, Nhất tánhcánh phi thù. Dịch: Giả có vốn chẳng có, Giả diệt cũngchẳng không, Nghĩa Niết-bàn, đền nợ, Một tánh lại nàohai.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn