Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
(Xem: 1845)
Bảy đóa sen vàng nânggót ngọc Ba nghìn thế giới đónNhư Lai. Mỗi năm vào ngày trăng tròn tháng tư âm lịch, người con Phật khắp nơi hân hoan đón mừng ngày Đản Sanh của Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni, để tưởng nhớ và kỷ niệm về sự xuất hiện của Ngài, mang ánh sáng Chánh Pháp giúp đẩy lùi bóng tối vô minh, khai mở con đường sáng, đưa mọi chúng sanh đến bến bờ an vui giải thoát. Đối với người con Phật tại Tu Viện Quảng Đức, Melbourne ngày Phật Đản là một sự kiện vô cùng trọng đại, tuy nhiên Lễ Phật Đản năm nay lại về trong bối cảnh thế giới đang ở giữa đại dịch Corona Virus, một loại dịch bệnh giết người này quá nguy hiểm, đã tạo ra sự khủng hoảng cho loài người và làm tê liệt cho toàn xã hội. Tính đến nay đã có 5 triệu 922,781 người nhiễm bệnh và 362,391 người chết, riêng quốc gia Úc của chúng ta đã có 7,165 người nhiễm bệnh và 103 người chết và con số này vẫn đang tiếp tục gia tăng.
(Xem: 322)
Từ đầu năm 2020 dịch Corona bùng phát khắp thế giới, một loại dịch nguy hiểm chết người, dễ lây lan, không thuốc chữa. Đã có vô số người chết và nhiễm bịnh. Con số kể ra thật chóng mặt, đau lòng. Chỉ riêng Thụy Sĩ thôi, nước nhỏ, dân số 10 triệu người, mà hằng ngày cả ngàn ca nhiễm, hằng trăm người chết. Chao ôi, cứ đà này là hết dân số!
(Xem: 580)
Đại Lễ Phật Đản lần thứ 2644 tại Chùa Pháp Hoa Nam Úc, thứ Bảy 06-06-2020. Trụ trì Thượng Toạ Thích Viên Trí
(Xem: 692)
Muốn thành một vị Phật, một người tu hành phải trải qua ba nguyên tắc đào luyện tu tập; nếu không hoàn thành ba nguyên tắc này thì người đó dù ở địa vị nào ở cấp bực nào đem xét nghiệm thì sẽ nhận biết họ không bao giờ được thành Phật.
(Xem: 1046)
Cõi trời Đâu Suất Bồ Tát giáng trần Khi quán Sa Bà nhân duyên hội đủ Hoàng hậu Ma Da nằm mộng đêm đó Thấy Voi Sáu ngà nhập ở bên hông
(Xem: 1203)
Một sáng tinh sương ..... Đức Thế Tôn thành đạo . Phiền não đoạn tận, chiến thắng ma quân , Ánh sáng Giác Ngộ lan tỏa đến tha nhân Gieo rắc niềm tin ...khổ đau được chuyển hoá !
(Xem: 1621)
Ngày thành đạo của đức Thế Tôn cách đây 26 thế kỷ, đã mở ra cho nhân loại một kỷ nguyên mới. Một kỷ nguyên của chánh kiến, thấy rõ thế gian là vô thường và những gì cấu tạo nên nó chỉ là do quan hệ duyên khởi và trống rỗng tự ngã. Những nỗi khổ đau của con người ở trong thế gian không do một ai có thẩm quyền áp đặt, mà chính là do lòng tham dục, tính hận thù và sự kiêu căng nơi tâm họ tạo nên. Tâm cũng vô thường như bất cứ những sự vô thường nào ở trong thế gian, nên những khổ đau của con người không phải là tuyệt lộ. Nó có thể thay đổi khi nhân và duyên của nó được thay đổi. Nhân và duyên làm thay đổi khổ đau của thế giới con người là Bát Thánh Đạo. Thực hành Bát Thánh Đạo, do đức Phật công bố tại vườn Nai, sau khi Ngài thành đạo, trong thời thuyết giảng đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như, tại vườn Nai thì những khổ đau của thế giới con người sẽ bị diệt tận.
(Xem: 1046)
Cõi trời Đâu Suất Bồ Tát giáng trần Khi quán Sa Bà nhân duyên hội đủ Hoàng hậu Ma Da nằm mộng đêm đó Thấy Voi Sáu ngà nhập ở bên hông
(Xem: 1826)
Bài viết này để trả lời một câu hỏi: Làm thế nào để ngộ? Ngộ đây là ngộ tông chỉ Thiền, tức ngộ tông chỉ Phật. Người viết không dám trả lời minh bạch, vi bản thân tu và học đều chưa sâu, nơi đây chỉ trình bày qua nhiều kinh luận để giúp độc giả tham khảo.
(Xem: 2303)
Người tu Phật ai ai cũng có đức tin, nhưng nếu không rõ được rành mạch những lịch sử hoặc những hành vi của các vị Bồ tát phải hành thế nào để thành được một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác và do nhờ pháp Ba-la-mật (PÀRAMITA) nào đưa các ngài qua tới bờ giác ngạn là Niết Bàn, thì đức tin ấy có khi cũng mơ hồ và có khi cũng lầm lạc. Vì vậy nên tôi không nệ tài hèn học kém, ráng sao lục tóm tắt theo Tam Tạng Pàli (TIPITAKA) bộ kinh Chánh giác tông (BUDDHAVAMSA) và quyển Chư Bồ tát vị lai (ANÀGATAVAMSA) để đem lại một vài tia sáng cho các nhà tu Phật. Ai là người có chí muốn thành một bậc Chánh Biến Tri, hãy noi theo gương lành của các Ngài và thực hành theo mới mong chứng quả được. Trong quyển kinh này có nhiều đoạn hơi khó hiểu hoặc không thể tin được vì oai lực và pháp Ba-la-mật của một vi Phật Tổ khác Thường xuất chúng và thời đại cũng khác nhau vượt qua khỏi trình độ suy nghĩ hoặc hiểu biết của phàm nhơn. Nên độc giả xem quyển kinh này nên dùng đức tin mà hiểu biết rằng: "Muốn thà
(Xem: 7581)
Video: Hành Trình Khám Phá về Sự Thật Xá Lợi của Đức Phật (Rất hay, rất cảm động khi xem, quý vị nên tranh thủ vào xem liền, chân thành cảm ơn nhà văn, nhà khảo cô người Anh Charles Allen đã thực hiện cuốn phim tài liệu công phu và độc nhất vô nhị để tôn vinh và tìm ra sự thật về xá lợi của Đức Thế Tôn sau 26 thế kỷ, from Thích Nguyên Tạng, chủ biên trang nhà Quảng Đức)

31. Chú Thích Của Dịch Giả

04/02/201108:40(Xem: 405)
31. Chú Thích Của Dịch Giả

CUỘC ĐỜICỦA ĐỨC PHẬT
THESTORY OF BUDDHA
NguyênTác: JOHNATHAN LANDAW - Người Dịch: HT. THÍCH TRÍ CHƠN

CHÚTHÍCH CỦA DỊCH GIẢ

Vềchữ viết tắt dùng dưới đây, P là Pali (tiếng Ba Lị); Slà Sanskrit (tiếng Phạn) và Jap. là Japanese (Nhật ngữ).

1.(HOÀNG HẬU) MA GIA: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Màyà (BaLị và Phạn) hay Maka (Nhật). Mẹ của đức Phật và vợ của vua Tịnh Phạn (Ba Lị: Suddhodana). Bà sống ởnước Câu Ly (Ba Lị: Koliya) thời xưa, nay thuộc vương quốc Nepal. Bà còn có tên gọi là Ma Ha Ma Gia (Ba Lị: Mahà Màyà).

2.TỊNH PHẠN: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Suddhodana (Ba Lị);Suddhodana (tiếng Phạn) hay Jòbonnò (Nhật ngữ). Thân phụ củathái tử Tất Ðạt Ða (Phạn: Siddhàrta) và là tộc trưởngbộ tộc Thích Ca (Ba Lị: Sakiya). Ông là vua cai trị một nướcnhỏ ở dưới chân núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayas) có kinh đôđóng tại thành Ca Tỳ La Vệ (Ba Lị: Kapilavatthu), ngày naythuộc vương quốc Nepal.

3.LÂM TỲ NI: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Lumbini (Ba Lị vàPhạn). Tên một hoa viên nơi đức Phật Thích Ca Mâu Ni (BaLị: Buddha Shakyamuni) đã ra đời hơn 2.600 năm trước. Nó nằmgần kinh đô Ca Tỳ La Vệ của bộ tộc Thích Ca. Ngày nay LâmTỳ Ni (Lumbini) có tên gọi là Rummindei thuộc lãnh thổ xứNepal. Vua A Dục (Asoka) của Ấn Ðộ (273-232 trước tây lịch)đến viếng thăm nơi này khoảng vào năm 250 trước tây lịch.Ðức vua đã cho xây dựng một trụ đá tại đây để kỷniệm chuyến đi hành hương chiêm bái của Ngài. Lâm Tỳ Nilà một trong bốn thánh tích quan trọng nhất của Phật Giáo.Ba Phật tích kia là Phật Ðà Ca Da (Buddha Gaya), vườn LộcUyển (Sarnath) và Câu Thi Na (Kusinara).

4.TẤT ÐẠT ÐA: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Siddhattha (BaLị), Siddhàrtha (Phạn) hay Shittta-Taishi (Nhật ngữ). Nghĩa đenlà “người đã hoàn thành mục tiêu đại nguyện của mình”.Tục danh của đức Phật trước khi Ngài xuất gia.

5.A TƯ ÐÀ: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Asita (Ba Lị và Phạn)hay Ashida (Nhật). Vị đạo sĩ ẩn tu ở tiểu quốc Ca TỳLa Vệ thời xưa (nay thuộc xứ Nepal). Khi thái tử Tất ÐạtÐa giáng sinh ông đến thăm tiên đoán rằng sau này nếu tháitử ở đời sẽ là một đại vương và nếu xuất gia đitu ngài sẽ thành Phật.

6.ÐỀ BÀ ÐẠT ÐA: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Devadatta(Ba Lị và Phạn) hay Daibadatta (Nhật). Bà con với đức Phật.Ðầu tiên, Ðề Bà Ðạt Ða là đệ tử của đức Thế Tônnhưng sau ông từ bỏ và trở thành kẻ thù của Ngài. Hai lầnông mưu toan ám hại đức Phật. Lần thứ nhất, ông đứngtrên đồi lăn đá xuống làm đức Phật bị thương, nhưngsau Ngài được y sĩ Kỳ Bà (Jivaka) chữa lành. Lần thứ hai,Ðề Ðà Ðạt Ða xúi giục người giữ voi ở thành VươngXá (Ràjagaha) nước Ma Kiệt Ðà (Magadha) ngày xưa thả voi sayNalagiri chạy ra đường để giết đức Phật, nhưng khi đếngần voi quỳ xuống bên chân Ngài. Vào cuối đời, Ðề BàÐạt Ða nhận biết lỗi lầm của mình. Ngày nọ, ông đangtrên đường đến gặp đức Thế Tôn mong được sám hốiđể Ngài tha thứ, nhưng chưa kịp tới gặp đức Phật thìông đã bị đọa rơi vào hỏa ngục.

7. DA DU ÐÀ LA: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Yasodharà (Ba Lị),Yásodhara (Phạn) hay Yashudara (Nhật). Vợ của thái tử TấtÐạt Ða (Siddhàrta) trước khi Ngài đi tu và là mẹ của LaHầu La (Ba Lị: Rahula), con của đức Phật. Sau này, bà đãxuất gia làm Tỳ Kheo Ni.

8.THIỆN GIÁC: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Suprabuddha (Ba Lị)hay Zenkaku (Nhật ngữ). Vị vua trị vì bộ tộc Câu Ly (Koliya)có kinh đô đóng tại thành Devadaha, nay thuộc xứ Nepal. Ônglà thân sinh của Da Du Ðà La (Yasodharà).

9.LA HẦU LA: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Rahula (Ba Lị vàPhạn), hay Ragora (Nhật). Con của đức Phật, sinh ra trướckhi Ngài vượt thành xuất gia. Mẹ của La Hầu La (Rahula) làDa Du Ðà La (Yasodhàra). Sau này, ông trở thành một trong mườiđại đệ tử của đức Phật.

10.CA TỲ LA VỆ: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Kapilavatthu (BaLị), Kapilavastu (tiếng Phạn) hay Kabira-e (Nhật). Kinh đô củabộ tộc. Thích Ca (Sakya) dưới quyền cai trị của vua TịnhPhạn (Suddhodana) Ðức Phật ra đời tại vườn Lâm Tỳ Ni(Lumbini) gần thị trấn Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) và Ngài đãtrải qua thời niên thiếu tại đó. Ngày nay, Ca Tỳ La Vệ(Kapilavatthu) được các nhà khảo cổ Ấn Ðộ xác nhận thuộclàng Tilaurakota trong địa hạt Terai, xứ Nepal.

11.XA NẶC: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Channa (Ba Lị), Chandaka(Phạn) hay Shanoku (Nhật). Người hầu cận thân tín của tháitử Tất Ðạt Ða (đức Phật). Ông đã mang ngựa Kiền Trắc(Kanthaka) đến cho thái tử cỡi để vượt thành xuất gia.Sau này Xa Nặc trở thành đệ tử của đức Phật.

12.KIỀN TRẮC: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Kanthaka (Ba Lị),Kanthaka (Phạn) hay Kenchoku (Nhật). Tên con ngựa mà đức Phậtđã dùng để cỡi khi Ngài rời bỏ cung điện đi xuất gia.

13.MA KIỆT ÐÀ: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Magadha (Ba Lịvà Phạn) hay Makada (tiếng Nhật). Một trong 16 nước lớn củaẤn Ðộ thời đức Phật còn tại thế. Lúc ấy, Ma KiệtÐà (Magadha) dưới quyền cai trị của vua Tần Bà Sa La (Bimbisàra:543-493 trước tây lịch) có kinh đô đóng tại thành VươngXá (Rajagaha) nước Ma Kiệt Ðà (Magadha) xưa kia, nay thuộc cácquận Patna và Gaya, tiểu bang Bihar, miền đông bắc ấn Ðộ.

14.TẦN BÀ SA LA: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Bimbisàra (Balị và Phạn) hay Bimbashara (Nhật). Tên vị vua cai trị vươngquốc Ma Kiệt Ðà (543-493 trước tây lịch) thời đức Phậtcòn tại thế. Ông đã kiến tạo thành Vương Xá (Ràjagaha).Kinh sách tiếng Ba Lị (Pali) ghi chép rằng Tần Bà Sa La (Bimbisàra)lên ngôi vua vào năm mười lăm tuổi, và năm sau ông quy y làmđệ tử của đức Thế Tôn. Ông là vị vua đã hết lòngủng hộ Phật Giáo, đã dâng cúng Tu Viện Trúc Lâm cho đứcPhật và chư Tăng.

15.VƯƠNG XÁ THÀNH: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Ràjagaha (BaLị), Ràjagrha (Phạn) hay Òsha-jò (Nhật): Kinh đô của vươngquốc Ma Kiệt Ðà (Magadha) thời xưa, nay là thành phố Rajgirtrong tiểu bang Bihar, vùng đông bắc Ấn Ðộ.

16.A LA LA:: Danh từ Hán Việt dịch âm ngắn gọn của chữ Alàra-Kàlàma(Ba Lị), Àràda-Kàlàma (Phạn) hay Ararakaran (Nhật). Tên vịđạo sĩ thái tử Tất Ðạt Ða đến hỏi đạo giải thoátngay sau khi Ngài rời cung điện đi xuất gia và trở thành nhàtu khổ hạnh. Ðược biết đạo sĩ A La La là một triết giatheo phái Số Luận (Samkhya) và sống gần thành Tỳ Xá Ly (BaLị:Vesali), nay là thành phố Besàrh trong quận Muzzaffapur, tiểubang Bihar, vùng đông bắc Ấn Ðộ.

17.UẤT ÐẦU LAM PHẤT: Danh từ Hán Việt dịch âm ngắn gọnchữ Uddaka-Ràmaputta (Ba Lị), Udraka-Ràmaputra (tiếng Phạn).Tên một trong các đạo sư thái tử Tất Ðạt Ða đến hỏiđạo sau khi xuất gia và trước khi Ngài thành Phật.

18.NI LIÊN THUYỀN: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Neranjarà (BaLị), Nairanjanà (Phạn) hay Nirenzenga (Nhật). Tên một con sôngvào thời đức Phật còn tại thế, ngày nay dân chúng ẤnÐộ gọi là sông Phalgu hay Lilajana với nước trong xanh, sạchvà mát. Dòng sông phát xuất từ vùng gần Simeria, trong quậnHazaribagh, miền trung tiẻu bang Bihar, vùng đông bắc Ấn Ðộ.Sa môn Tất Ðạt Ða (Siddhàrtha) đã viếng thăm và tắm ởsông này sau khi Ngài từ bỏ lối tu ép xác khổ hạnh. Cạnhbờ sông có khu rừng Sa-La, nơi đây đức Phật đã nghỉ ngơivào buổi chiều ngay trước đêm Ngài thành Ðạo sau 49 ngàyngồi thiền định dưới cội Bồ Ðề tại làng Phật ÐàCa Da (Buddha Gaya) nằm cách xa một khoảng ngắn về hướngtây con sông này.

19.CA DA: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Gayà (Ba Lị) hay Gaya(tiếng Nhật). Tên một thành phố thiêng liêng thuộc tiểubang Bihar, miền đông bắc Ấn Ðộ. Ðây là nơi đức Phậthay viếng thăm khi Ngài còn tại thế. Ngày nay Ca Da (Gaya) baogồm thành phố Sahebganj về phía tây bắc và thị trấn Gayacũ ở hướng nam. Phật Ðà Ca Da (Buddha Gaya) nơi đức Phậtthành Ðạo cách thành phố Ca Da (Gaya) khoảng 10 cây số vềphía nam.

20.TU GIÀ ÐA: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Sujàtà (Ba Lị).Tên người con gái của vị điền chủ ở làng Senani gầnthị trấn Ưu Lâu Tần Loa (Ba Lị: Uruvela) thời đức Phậtcòn tại thế, nay là làng Urel cách xa sáu dặm thị trấn CaDa (Gaya) trong quận Gaya thuộc tiểu bang Bihar, vùng đông bắcẤn Ðộ. Nàng phát tâm hứa sẽ dâng cúng cho vị thần câyđa cạnh nhà một bữa ăn cháo sữa nếu như nàng sanh mộtđứa con trai. Sau đó, cô sanh cháu trai, lòng mong ước củacô được mãn nguyện. Cô sai người hầu gái sửa soạn nơicho cô đến lễ bái tạ ơn Người tớ gái thấy sa môn TấtÐạt Ða đang ngồidưới gốc cây đa, cô tưởng ngài là vịthần cây hiện ra để thọ nhận lễ vật. Sau khi được ngườihầu gái thông báo, tín nữ Tu Già Ða (Sujàtà) rất vui mừng,mang thức ăn đựng trong bình bát bằng vằng đến cúng dườngcho Ngài. Ðây là bữa ăn duy nhất của đức Phật trướckhi Ngài chứng đạo giác ngộ sau thời gian 49 ngày ngồi thiềnđịnh dưới cội Bồ Ðề tại làng Phật Ðà Ca Da (BuddhaGaya) trong tiểu bang Bihar, miền đông bắc Ấn Ðộ.

21.BA LA NẠI: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Bàrànasi (Ba Lịvà Phạn) hay Haranashi (Nhật). Tên cũ còn gọi là Banaras. Thànhphố nằm cạnh bờ sông Hằng, kinh đô của vương quốc CaThị (Ba Lị: Kasi), một trong 16 nước của Ấn Ðộ thời đứcPhật còn tại thế. Cách thành phố Ba La Nại khoảng bảydặm (miles) la vườn Lộc Uyển (Sarnath) nơi đức Phật đãthuyết bài pháp đầu tiên “Kinh Chuyển Pháp Luân” cho nămngười đệ tử xuất gia của Ngài. Thành Ba La Nại (Baranasihay Banaras) xưa kia, ngày nay là thị trấn Varanasi hay Benaresthuộc tiểu bang Uttar Pradesh, miền bắc Ấn Ðộ (Xem chú thíchsố 22).

22.LỘC UYỂN: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Migadàya (Ba Lị),Mrgadàva (Phạn) Rokuya-on (Nhật). Nghĩa đen là “Vườn Nai”.Là một trong bốn thánh địa quan trọng của Phật Giáo. Xưakia Lộc Uyển (Migadàya)có tên Isipatana (Ba Lị) hay Rsipatana(Phạn). Ngày nay gọi là Sarnath, cách xa bảy dặm thành phốBa La Nại (Benares hay Varanasi), trong tiểu bang Uttar Pradesh, miềnbắc Ấn Ðộ. Ðây là nơi đức Phật đã thuyết cho năm vịđệ tử xuất gia của Ngài bài pháp đầu tiên kinh “ChuyểnPháp Luân” tiếng Ba Lị là “Dhammacakkappavattana-Sutta” hayPhạn ngữ “Dharmacakrapravartana-Sùtra”. Lộc Uyển (Sarnath)cũng là nơi đức Thế Tôn đã trải qua mùa an cư kiết hạđầu tiên.

23.MA VƯƠNG: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Màra (Ba Lị và Phạn)hay Ma (tiếng Nhật). Nghĩa là quỷ sứ, yêu ma, thần của lòngtham ái, tội lỗi và chết chóc. Ma Vương là vua làm chủ cõitrời “Tha Hóa Tự Tại Thiên” hay“Paranirmita-vasavartin”(tiếng Phạn) tức là cảnh trời thứ sáu trong cõi Dục giới.Ma Vương thường được vẽ với hình tượng ngài có mộttrăm cánh tay và ngồi cỡi trên con voi. Trong Phật Giáo, MaVương là biểu tượng của những dục vọng khống chế, ngănchận con người cũng như mọi hành động của chúng ta hướngđến việc lành và tiến bộ trên con đường giải thoát,giác ngộ.

24.PHẬT hay PHẬT ÐÀ: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Buddha (BaLị và Phạn), hay Butsuda (Nhật). Chữ “Buddha” (Phật) phátxuất từ ngữ căn tiếng Phạn “Budh” nghĩa là hiểu rõ,thấy biết hay tỉnh thức. Phật là người đã giác ngộ,không còn bị sanh tử luân hồi và hoàn toàn giải thoát.

25.KỲ ÐÀ QUẬT SƠN: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Gijjhakùta(Ba Lị), Grdhrakùta (Phạn) hay Gishakutsu-sen (Nhật). Cũng gọilà núi Linh Thứu hay “Núi hình chim Kên” (Vulture's Peak) vìngọn núi có hình dáng giống như con chim kên và cũng bởichim kên thường hay tụ tập đậu trên đỉnh núi này. Ðâylà một trong năm ngọn núi danh tiếng tại thành Vương Xá(Ràjagaha) thời đức Phật còn tại thế, tức là thành phốRajgir ngày nay, trong tiểu bang Bihar, miền đông bắc Ấn Ðộ.Xưa kia, nhiều đạo sĩ thường vào ẩn tu trong các hang độngở ngọn núi này và đức Phật cũng hay ghé lại tọa thiềnnơi đây mỗi khi Ngài đến hoằng pháp tại Vương Xá. Ðượcbiết trên đỉnh núi này đức Phật đã thuyết nhiều kinhđiển Ðại Thừa quan trọng trong đó có kinh Diệu Pháp LiênHoa.

26.A XÀ THẾ: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Ajàtasattu (Ba Lị),Ajàtasatru (tiếng Phạn) hay Ajase (Nhật). Con vua Tần Bà Sa La(Bimbisàra) và hoàng hậu Vi Ðề Hi (Vaidehi). Ông lên làm vuatrị vì nước Ma Kiệt Ðà (494-462 trước tây lịch) khoảngtám năm cuối cùng của đức Phật và tiếp 24 năm sau khi đứcThế Tôn nhập diệt. Tên A Xà Thế (Ajàtasattu) nghĩa là “kẻthù (sattu) khi chưa sanh ra (Ajata) “ vì theo truyền thuyết bảorằng lúc hoàng hậu Vi Ðề Hi mang thai ông, bà thường haythèm khát hút máu nơi đầu gối của chồng. Do vậy, các chiêmtinh gia đoán rằng đứa con trong bụng bà tương lai sẽ sáthại cha nó (Tần Bà Sa La) để lên nắm quyền cai trị đấtnước. Thực vậy, theo sử liệu Phật Giáo, A Xà Thế sau nàyđã bắt giam và bỏ đói giết chết vua cha trong ngục thất.Cùng với Ðề Bà Ðạt Ða (Devadatta), ông đã âm mưu chốnglại đức Phật nhưng thất bại. Sau này, ông đã quy y làmđệ tử của đức Thế Tôn và ủng hộ mạnh mẽ Phật Giáo.Cuối cùng, A Xà Thế đã bị giết chết bởi chính con củaông là thái tử Udayabadra, người đã ở ngôi vua được 14năm.

27.A NAN hay A NAN ÐÀ: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Ananda (BaLị và Phạn) hay Anan (tiếng Nhật). Ðại Ðức A Nan hay A NanÐà, bà con với đức Phật, là một trong mười vị đạiđệ tử của Ngài. Ðại Ðức là vị đệ tử theo hầu cận(làm thị giả) đức Thế Tôn trong hơn hai mươi năm. Ðạèức là người có trí nhớ siêu phàm, đã có thể đọc lạithuộc lòng những bài thuyết của đức Phật mà về sau đượcghi chép thành Kinh Tạng. Ðược biết rằng sau khi đức Phậtnhập diệt, Ðại Ðức A Nan mới chứng đạo giác ngộ (đắcquả A La Hán) và Ngài sống thọ đến tuổi 120.

28.CÂU THI NA: Danh từ Hán Việt dịch âm chữ Kusinàrà (Ba Lị),Kúsinagara (tiếng Phạn) hay Kushinagara (Nhật Kinh đô của xứMạt La (Ba Lị: Mallas), một trong 16 vương quốc của Ấn Ðộthời đức Phật còn tại thế. Ngày nay là làng Kasia cáchxa 55 cây số về hướng đông thị trấn Gorakhpur, trong tiểubang Uttar Pradesh, miền bắc Ấn Ðộ. Ðây là nơi đức Phậtđã nhập Niết Bàn (viên tịch) trong rừng Sa La vào năm 543trước tây lịch. Sau đó, kim thân của Ngài được hỏa thiêuvà một phần xá lợi của đức Thế Tôn đã được tôn tríthờ trong một bảo tháp tại Câu Thi Na. Vì là nơi đức Phậtđã nhập diệt cho nên thành phố này đã trở thành một trongbốn thánh địa thiêng liêng nhất của Phật Giáo.

NguyênTác Anh Ngữ










Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn