Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

10. Tiếng Gọi

28/08/201117:10(Xem: 966)
10. Tiếng Gọi

Diệu Nga
DỐC MƠ ĐỒI MỘNG
Tu Viện Trúc Lâm Canada Xuất Bản PL. 2547 DL. 2003

Tiếng Gọi

“Prom” là đêm trọng đại, tưng bừng hoa đăng của tất cả học sinh trung học vừa tốt nghiệp. Buổi lễ ra trường ban ngày với những bài diễn văn, những phần thưởng thật ra không đáng để họ lưu tâm bằng đêm dạ hội nàỵ
Họ được làm người lớn từ cách ăn mặc đến những bước khiêu vũ dưới ánh đèn màu, được chính thức giới thiệu với cha mẹ người bạn trai hay bạn gái của mình.
Ngọc Hà chuẩn bị quần áo cho đêm dạ vũ từ ba tháng về trước. Cô mua áo này, đổi lại cái kia, rồi thử tới thử lui, ngắm nghía mình trong gương hàng chục, hàng trăm lần; còn phải xin thêm tiền mẹ mua đôi giày, nhõng nhẽo với cha đòi cái bóp…
Đầu mùa hè, khí hậu Cali ấm áp, dễ chịu. Đêm nay Ngọc Hà mặc chiếc áo đầm nhung đen hở vai để khoe nhựa sống của tuổi thanh xuân, khoe cái eo thon thắt chặt làm nổi đường cong vẫn còn thanh mảnh.
Mặc dù mẹ đã góp ý về cách trang điểm, Ngọc Hà cứ viền vòng mắt thật đậm, thật to, lại gắn lông nheo giả cho thêm phần quyến rũ. Nàng muốn người bạn trai của mình phải ngạc nhiên khi thấy đêm nay nàng hoàn toàn khác lạ, nổi bật hơn các cô bạn cùng lớp, và muốn cha mẹ thấy mình đã là người lớn thật sự. Vả lại, nàng đã hai mươi mốt tuổi rồi, còn nhỏ nhít gì nữa. Nếu được định cư ở Hoa Kỳ sớm hơn, chắc nàng đã vào đại học lâu rồi.
Hai ông bà Lân im lặng theo dõi tivi. Thỉnh thoảng bà kín đáo ném cái nhìn quan sát vào phòng con gái. Cánh cửa phòng khép hờ cho bà thấy Ngọc Hà đang đi tới đi lui, uốn éo trước gương rồi ngồi xuống sửa lại mái tóc đã đánh rối bù, tô thêm đôi môi đã dầy cộm sáp đỏ…
Ông Lân hiểu vợ hơn ai hết, nắm nhẹ tay bà như an ủi. Dù đã dặn lòng, không muốn làm con mất vui trong đêm trọng đại này nhưng bà không thể nào chấp nhận sự “thoát xác” quá nhanh chóng của Ngọc Hà. Với lối trang điểm kỳ cục như vậy, Ngọc Hà đánh mất vẻ thơ ngây, trông ngổ ngáo như gái bụi đời. Nếu bà mở miệng góp ý kiến, Ngọc Hà sẽ vùng vằng phản ứng, sẽ nói: “má sao quê mùa, hủ lậu!” Đành ngậm tăm cho nó vui trọn đêm nay!
Có tiếng xe mô tô nổ “bình bịch” trước cửa, tiếng rồ máy rồi tắt máy. Không kịp chờ nghe tiếng chuông, Ngọc Hà phóng ra mở cửa. Cô bé ôm “thằng tây hát bóng cao lớn dềnh dàng” ấy một cách trìu mến rồi nắm tay nó kéo vào nhà.
Ông bà Lân sững sờ ngạc nhiên. Trời ơi! bạn trai của Hà đó sao? Một thằng Mễ lai Mỹ đen râu ria xồm xoàm, to lớn gấp hai lần Ngọc Hà. Đã vậy, tóc còn để dài, cột túm lại sau ót để lộ vành tai đeo đầy khoen bạc, sắp thứ tự lớp lang từ lớn tới nhỏ!
Nó tiến tới chỗ ông Lân, chìa tay ra; bà Lân kịp thấy cổ tay nó xâm đầy hình lăng nhăng, vừa ló ra sau lớp áo. Nếu nó không mặc áo sơ mi trắng mà đổi vào đấy là một cái áo da đen bóng, kèm thêm cặp kính đen sậm thì có lẽ khi nó vừa bước chân vào nhà, bà đã hô toáng lên: ăn cướp! ăn cướp!
Ông Lân miễn cưỡng bắt tay nó, nói vài câu xã giao trong khi Hà líu lo giới thiệu. Nó - thằng Lucky - nhăn hàm răng cá sấu cười với bà, bà Lân trả lời bằng cái mếu thì đúng hơn.
Sự bực tức và thất vọng làm người bà mềm nhũng, bà như sắp bị nghẹt thở. Hoa đốm lăng xăng trước mắt giúp bà khỏi nhìn thấy cô con gái cưng duy nhất của bà đang cặp tay thằng Lucky ra cửa một cách ngang nhiên và thân mật.
Cánh cửa ập lại, tiếng xe mô tô nổ máy rồ rồ bình bịch rồi rú lên, vọt đi. Căn phòng chìm trong sự im lặng hụt hẫng.
Ông Lân đã tắt tivi, rót cho vợ một ly nước lạnh. Ông dỗ dành:
- Thôi em đừng buồn, mình đang sống ở Mỹ mà! 
Nước mắt được dịp trào ra, bà rấm rức khóc:
- Mình qua Mỹ mới sáu năm mà con đã hư, nó lai căng, mất gốc rồi ông ơi!
Người chồng dịu dàng lấy khăn lau nước mắt cho vợ trong khi chính ông, ông cũng đang nén tiếng thở dài:
- Hi vọng nó bồ với thằng nầy một thời gian ngắn rồi thôi. Tụi nhỏ đổi bồ như thay áo, lo gì!
Vốn nóng tánh, bà có dịp đổ cái giận vào ông chồng:
- Lo chớ sao không! Nó là con gái mà! Ông vô tâm quá thành ra khỏe ru!
Ông Lân chợt hiểu ra: “Ờ há! rủi nó có bầu thì khổ!”
Hai vợ chồng rầu rĩ, mỗi người ngồi một góc. Không khí buồn thiu bao phủ căn nhà nhỏ xíu và cũ kỹ này. Chẳng ai muốn đi ngủ vì biết có nằm xuống cũng không ngủ được, họ đau khổ quá vì không ngờ sự thể xảy ra như vậy. Thời gian chậm chạp trôi qua, chở nặng lo sầu.
Hai giờ sáng! Ngọc Hà về thấy cha mẹ còn ngồi ở phòng khách, cô cau mặt, nện gót giày mạnh hơn rồi đi thẳng vô phòng mình, đóng cửa cái rầm.
Bà Lân đứng bật lên như cái lò xo, bà muốn tát vào mặt con bé một cái thẳng tay, tóe lửa cho hả giận nhưng ông chồng biết ý, đã vội dìu bà đi ngủ.
Những ngày sau đó, Ngọc Hà vẫn giữ vẻ mặt cày cạy dù đôi lúc ông bố muốn tạo hòa khí bằng vài câu bông đùa. Cô không thèm nói chuyện với mẹ, chỉ thỉnh thoảng mới trao đổi với cha vài câu cần thiết.
Nhà tuy chỉ có ba người nhưng họ không bao giờ gặp nhau đủ mặt trong bửa ăn, nhất là lúc sau này Hà đi về giờ giấc không nhất định.
Ngọc Hà có lý lẽ của cô: “Mình đã trưởng thành rồi, phải được tự do sống thoải mái như các bạn cùng trang lứa. Mỹ mà, đâu phải ở Việt Nam mà gò bó trong khuôn khổ xưa rích hủ lậu. Ông bà già mà tỏ ý kiểm soát, ràng buộc là mình “run away” liền, sợ gì?! Boyfriend Lucky sẵn sàng cho mình ở chung. Với đồng lương và tiền “tip” của chiêu đãi viên trong night club Mỹ, mình tự sống được, đâu cần nhờ vả ai nữa!”
Thật ra Hà cũng chưa muốn dứt áo đi quá sớm vì dù sao không khí gia đình cũng dễ chịu hơn cuộc sống xô bồ của thế giới mới chung quanh mà cô vừa thích vừa sợ. Thế giới của cảm giác, phóng túng, buông trôi làm cô mê mệt nhưng cũng sờ sợ một cái gì đó rờn rợn bất an như rừng rậm ban đêm.
Nhưng mà phải tỏ vẻ cứng rắn với ông bà già, nếu không hai người ấy sẽ rao giảng luân lý giáo khoa, sẽ tiếp tục trói cột mình vào khuôn khổ của “con nhà nề nếp”. Cha mẹ có vẻ không chấp nhận Lucky vì ông bà đâu biết được tài ca hát của chàng. Trong hộp đêm, dưới ánh đèn, chàng là thần tượng của bao cô gái Mỹ, mình may mắn lắm mới được Lucky chọn làm bồ. Phải lấy đó làm hãnh diện chứ!

***

Thứ bảy ở nhà một mình, bà Lân cảm thấy lẻ loi quá! Trưa nay cũng chẳng cần lo cơm nước vì chồng bà đi làm “over-time” đến chiều mới về, còn Ngọc Hà thì khỏi kể đến nó làm gì. Lúc sau này, nó thường đi sáng đêm, bà biết nó hư rồi, thả lỏng cho hư luôn chứ còn cứu vớt gì được nữa, đời con gái chỉ có một lần.
Dạy con từ thuở còn thơ với hi vọng uốn nắn được, đằng nầy, chỉ có một đứa, hai vợ chồng cưng như trứng, hứng như hoa, đòi gì được nấy, muốn gì cũng cho, riết rồi thành thói quen, nó luôn luôn thấy cha mẹ phải có bổn phận lo lắng phục vụ nó; còn bổn phận làm con đối với cha mẹ thì không được dạy trong nhà trường, thầy cô giáo Mỹ không nói tới, sách vở ít bàn đến nên nó không biết là phải rồi!
Hai vợ chồng tiếc rằng mình đã chọn lựa sai khi quyết định đi Mỹ. Nếu không vì tương lai của Ngọc Hà, họ ở lại Việt Nam tiếp tục bán sơn cũng đắp đổi qua ngày. Qua đây rồi mới thấy cuộc sống không dễ dàng như mọi người trong nước tưởng tượng. Học chỉ thấy hình ảnh những Việt Kiều về nước nhởn nhơ khoe của, ăn chơi chứ họ đâu biết cảnh bà ngồi may thâu đêm để kiếm từng đồng, cảnh chồng bà “đi cày” không thấy ánh mặt trời! Vậy mà con gái chẳng biết thương, còn nổi khổ nào hơn!
Có tiếng chuông gọi cửa. Bà Lân vui hẳn lên khi thấy dáng người phốp pháp quen thuộc của chị Mận in trên cửa kiếng. Hai người là bạn với nhau suốt bảy năm trung học ở trường Gia Long. Sau này lớn lên, mỗi người lập gia đình đi một phương nhưng xui khiến thế nào khi qua Mỹ, họ lại là hàng xóm láng giềng. Thành ra thân như ruột thịt.
Bà Lân mở cửa cho bạn. Ánh sáng bên ngoài lùa vào rạng rỡ làm tươi thêm vẻ mặt lúc nào cũng lạc quan hạnh phúc của Mận.
“Bà nầy không thấy già! Qua Mỹ vẫn phây phây khỏi đi cày, chồng con làm bao nhiêu đem về nộp hết, sướng thật!
Mận mang qua cho bà Lân ổ bánh bông lan nho mới nướng, nóng hổi, còn thơm phức. Dù đôi khi bị mặc cảm thua sút trước gia cảnh của Mận, bà Lân cũng thích có người nói chuyện trong lúc này cho đỡ buồn; nhất là vì Mận rất thân tình và tế nhị.
Họ cùng ăn bánh uống trà, trao đổi dăm ba câu về thời tiết. Rồi bà Mận lấy trong túi xách ra một thư màu vàng, trao cho bạn. Giọng nói của bà như trang nghiêm hơn:
- Thư chùa V.Q. mời gia đình chị đi dự lễ Vu Lan.
Như bao nhiêu lần trước, bà Lân thối thác:
- Chắc tôi không đi được chị à! Nhiều hàng gấp phải may để giao cho kịp.
- Thì bỏ ra một buổi có là bao! Tôi sẽ qua phụ cho. Chị đi một ngày, tôi giúp cho một ngày, không tính tiền công đâu!
- Cám ơn lòng tốt của chị, tôi không dám hứa.
- Mùa báo hiếu mình nên đến chùa cầu siêu cho vong linh phụ mẫu…
Hai tiếng “báo hiếu” như khơi dậy nỗi sầu, bà Lân có dịp thở than cùng bạn:
- Hồi cha mẹ tôi còn sinh tiền, tôi là đứa con hiếu thảo, tại sao bây giờ con tôi lại hổn láo vô nghì?
Biết bà bạn thân chưa hiểu đạo, chưa rõ nhân quả ba đời, chưa tin ngôi Tam Bảo nên Mận không thể giải thích qua loa trong lúc này, nhất là tâm trạng bạn đang bất an. Mận chỉ đùa cho qua câu chuyện:
- Con là nợ mà!
Nào ngờ bà Lân nắm lấy câu nói ấy, hỏi vặn lại:
- Vậy, tại sao hai đứa con của chị, đứa nào cũng ngoan ngoản, hiếu để? Tụi nó vừa đi làm giúp gia đình, vừa học hành giỏi dắn.
Dù hãnh diện về con, Mận cũng không muốn đề cập đến chuyện này để tránh cho bạn sự tủi thân.
Nhưng bà Lân lại tiếp:
- Cháu Loan cũng bằng tuổi Ngọc Hà mà bây giờ được học bổng vô đại học Berkeley giống như anh của cháu vậy. Tương lai của hai con chị tốt quá! Chắc tại chị khéo tu.
Mận an ủi:
- Khéo tu hay vụng tu cũng tùy hoàn cảnh thôi. Thường đi chùa thì mình có cơ hội làm chuyện phước thiện, bố thí, công quả, lại được tu Bát Quan Trai… chị thử theo tôi đi chùa, thấy tinh thần được an ổn hơn trước, rồi dần dần tạo phước đức về sau…
Cánh cửa bỗng xịt mở. Hai người cùng hướng mắt nhìn ra. Bà Lân ước gì đất sụp xuống cho bà chui vào đấy mà trốn bạn, xấu hổ chịu không nỗi!
Ngọc Hà đi sáng đêm, giờ mới vác bộ mặt trác táng xanh xao về; đầu tóc rối tung, áo quần vừa hở hang vừa nhăn nhúm. Đôi mắt trởm lơ thâm quầng, làn da nhễ nhại thiếu ánh sáng mặt trời, cặp môi xám xịt… Ngọc Hà trông giống như một bà già, một thây ma thì đúng hơn. Cô ta giương đôi mắt vô hồn nhìn khách rồi lặng im bước vào trong.
Mận thấy mặt bà Lân đỏ rần, biết sự xấu hổ của bạn sắp sửa đổi thành tức giận. Mận tìm cách tháo lui để tránh cơn bão sắp lùa tới, hất tung mọi thứ trong nhà này.
- Thôi, tôi về đi chợ, chị nhé!
Trong lúc Mận vội vã bước ra ngoài, bà Lân ngồi im không nhúc nhích, rán dằn cơn nóng giận cho đến lúc bạn đã đi khuất.
Bấy giờ, bà cất giọng the thé vừa gọi vừa hét:
- Này con kia, ra tao biểu!
Chỉ có sự im lặng đáp lời bà.
- Hà, ra tao biểu!
Con gái đã thay đồ bộ vào, trông đỡ hơn lúc nãy. Cô vừa đi ra vừa ngáp.
- Nghe tao hỏi đây. Mầy đi đâu sáng đêm giờ mới vác mặt về?
Cô gái cười mũi:
- Tức cười quá hà! Tôi lớn rồi, muốn đi đâu thì đi, bà hỏi làm gì?
Tuy đang giận sôi gan nhưng bà Lân biết dù sao mình cũng đã hỏi một câu thừa. Ba tháng nay, nó đi luông tuồng có ai dám nói động tới đâu – vì sợ nó bỏ nhà đi luôn. Nó biết chỗ yếu của cha mẹ nên làm tới.
Bà Lân né sang vấn đề khác:
- Mầy thật là mất dạy. Về nhà thấy khách khứa chẳng biết mở miệng chào.
Hà nín thinh. Chẳng lẽ Hà nói mình không ưa bà Mận vì con cái của bà ngoan hiền, học giỏi! Sự làm thinh của Hà khiến bà Lân giận uất người, có cảm tưởng như một thái độ khiêu khích.
Bà chồm tới, vả vào bộ mặt khinh khỉnh của Hà một cái tóe lửa.
Hà xô bà ra:
- Tức cười quá hà, sao lại đánh tôi?
Chưa bao giờ bà thấy con gái mình lại vô duyên trong lời ăn tiếng nói như vậy. Vừa vô duyên, vừa vô phép.
Bà điên tiết:
- Tao từ mày. Hãy ra khỏi nhà tao ngay lập tức!
Bây giờ tới phiên Hà lên cơn. Máu nóng dồn lên thái dương, hai mắt cô đỏ ngầu. Cô gằn giọng:
- Khỏi đuổi, tôi đi liền!
Biết mình lỡ lời, bà Lân buông ngầm sự hăm dọa:
- Cấm không được mang theo một món gì tao đã mua sắm cho.
- Khỏi cần, tôi trả chiếc xe lại cho bà luôn!
Hà vội vã nhấc điện thoại. Mười phút sau, cô ra đi mình không. Thằng Lucky rồ máy xe moto chở đứa con gái cưng của bà mất dạng.
- Trời ơi, tôi khổ quá!
Bà Lân ngất lịm trong niềm cay đắng, nỗi khổ đau và sự nhục nhã.
Trên tường, tiếng đồng hồ vẫn “tích tắc, tích tắc” đều đặn một cách vô tình.

***

Trong cuộc, có lẽ mình ông Lân là người bình tĩnh. Ông biết chuyện này dù cố tránh, vẫn sẽ xảy ra. Hai mẹ con nóng tánh như nhau. Lại thêm sự ương ngạnh của tuổi trẻ, Ngọc Hà đâu cần biết cái gì sẽ chờ đợi cô trong thế giới sống về đêm; bà Lân thì có tự ái của người lớn, cảm thấy tức tối và bất lực trước sự hư hỏng của con. Ông biết phải từ từ, chờ tình thế lắng dịu mới hi vọng bắt lại nhịp cầu giữa hai người.
Ông Lân lén vợ, âm thầm đi tìm Hà. Dù sao nó cũng là đứa con duy nhất. Nếu đời nó khổ, ông bà làm sao vui được?
Hà không còn làm ở chỗ cũ, thằng Lucky cũng vậy. Nhà nó ở đâu, ông không biết. Có lần, ông vô đại trong bar, vào tận quầy rượu, giả bộ kêu một ly rồi hỏi thăm về Hà, về Lucky.
Không ai buồn trả lời ông. Họ chỉ lắc đầu như cái máy. Ông không nản chí, cứ đôi ba tuần trở lại đó một lần. Cuối cùng nhờ biết phải quấy theo luật giang hồ, ông nắm được miếng giấy ghi địa chỉ của Lucky.
Ông Lân tìm đến căn phòng tồi tàn ấy, nơi mà ông chắc chắn rằng đứa con gái thân yêu của mình đang tá túc. Đôi dép quen thuộc của nó ở ngoài cửa kia kìa. Con ơi! Con ơi!
Ông đã run tay bấm chuông nhiều lần… Không có tiếng trả lời. “Chắc không có ai ở nhà.” Ông tự nói như vậy.
Ông trở lại lắm lần nữa, vào những giờ giấc khác nhau. Lần nào trái tim ông cũng hồi họp, xôn xao. Ông nhớ con gái quá! Trong tâm tưởng ông, Ngọc Hà vẫn là cô bé hai, ba tuổi, tóc bum bê đen nhánh, cặp mắt tròn xoe sáng ngời, đôi môi nhỏ xíu đỏ au hay nũng nịu đòi cây cà rem, đòi cái bánh in nhân đậu…
Ông thương nó lắm, dù cho phải bi lụy năn nỉ nó dẹp tự ái để trở về, ông cũng vui lòng làm như vậy. Vắng con mới mấy tháng mà căn nhà buồn như đám ma. Vợ ông tuy cứng cỏi, không nói ra niềm nhớ nhưng đêm đêm nghe tiếng bả thở dài ông cũng không sao ngủ được.
Lần nầy, trước khi đi tìm con, ông lâm râm khấn vái Phật trời dun rủi cho ông được gặp con, được thấy nó còn bình yên, ông cũng đỡ khổ phần nào. Ông giơ một ngón tay lên, run run ấn vào nút chuông trước cửa. Bấm một lần nữa, rồi hai lần, ba lần… Khi ông sắp sửa quay lưng đi thì cánh cửa chợt hé mở.
- Ngọc Hà, con ơi, con!
Ông vừa gọi tên con, vừa bước lẹ vô trong như sợ cánh cửa sẽ khép lại, tiếp tục dấu kín đứa con yêu của mình. Tuy cặp mắt đã mờ lệ nhưng ông vẫn thấy sự khác biệt của con gái ông: “Nó đang có mang.”
Ngọc Hà đứng yên, lúng túng. Hai tay cô ôm ngang bụng như muốn che dấu sự thật. Cô nhìn cha bây giờ ốm quá, đôi mắt thụt sâu, quầng đen ám chung quanh. Bao nhiêu lần cô biết cha đã nhấn chuông, cô dứt khoát không mở cửa nhưng sau mỗi lần như vậy,tim cô nhói đau, nước mắt chảy ròng ròng.
Dù giận mẹ thế mấy, cô cũng không thể giận lây cha, người cha hiền như Bụt luôn luôn cho cô những lời lẽ ngọt ngào, luôn luôn chìu mọi ý muốn của con.
Ông Lân tiến đến nắm tay Hà, miệng nói như mếu:
- Ba nhớ con quá! Thôi, về nhà đi con!
Chẳng lẽ làm thinh mãi, Ngọc Hà nói cho qua chuyện:
- Ba ngồi chơi, con rót nước ba uống.
- Thôi khỏi, gặp mầy là tao vui rồi, ăn uống gì. Sửa soạn đi về với ba.
- Con không về đâu. Má đuổi con mà, đâu phải tự ý con bỏ nhà.
- Ôi, bả giận bả nói vậy, hơi nào buồn! Con về xin lỗi một câu là xong xuôi hết.
Hà ngún nguẩy:
- Con không xin lỗi đâu. Đuổi thì đuổi chớ. Bộ ra khỏi nhà là chết đói à? Ba về nói với má: con đã bỏ lại hết quần áo, nữ trang, xe cộ. Con không nợ má cái gì hết, đừng theo đòi.
Bỗng nhiên ông Lân thấy cần phải “mở mắt” cho Ngọc Hà. Nếu không, nó chẳng biết lỗi phải gì cả.
Ông hỏi vặn lại:
- Con có chắc là con chẳng lấy của má con món gì hết không? 
- Chắc chắn như vậy!
Rồi cô vênh váo:
- Bả không tin cứ lại đây mà xét?
- Ông Lân chậm rãi ngồi xuống ghế. Ông hít một hơi thở sâu vì biết rằng nếu không giữ được bình tĩnh trong lúc này thì mọi việc sẽ hỏng cả.
- Đâu con xem kỹ lại, coi có đem theo món nào quan trọng không, cớ sao bả u sầu hoài?
Hà giậm chân, tặc lưỡi. Cô bực tức ra mặt:
- Con nói không là không mà!!
- Con ơi, còn cái hình hài của con đó, con lấy ở đâu ra? Ai đã sinh thành dưỡng dục con vậy? Nếu không có mẹ có cha làm sao con nên hình nên vóc như ngày nay? Con đâu phải từ đất nẻ chun lên, con đâu phải là đứa trẻ vô thừa nhận bị quăng ngoài đường. Từ khi con chào đời, còn đỏ hỏn trong nôi cho đến bây giờ và về sau nữa, không lúc nào cha mẹ không thương con, không lo lắng cho con. Thương yêu là món nợ thứ nhì con đã vay của mẹ, của cha, con biết không?
Ước nguyện duy nhất của mẹ cha là mong con nên người, mong đời con sáng sủa. Vì vậy mà đôi lúc mẹ mắng cha rầy khi thấy con sai đường lạc lối. Nếu con lấy đó làm phiền thì ba xin lỗi con vậy.
Nước mắt Hà nhỏ giọt vắn dài làm ướt đẫm vạt áo trước. Sự ấm nóng thấm xuống làn da bụng căng tròn; thai nhi trong bụng như cũng lây cảm xúc, nó cựa mình khe khẽ.
Ông Lân đánh thêm đòn tâm lý:
- Con sắp có con. Rồi đây con sẽ hiểu lòng cha mẹ. Trồng cây mận cây xoài còn mong ngày ăn trái chớ nuôi con, ai dám hi vọng nhờ con? Vậy mà mẹ cha nhịn ăn quên ngủ, vất vả ngược xuôi từ tháng này qua năm nọ cũng chỉ vì con. Thử hỏi, trên đời này, ngoài cha mẹ ra, ai ban cho con tình thương vô điều kiện như vậy.
Ngọc Hà liên tưởng đến thái độ của thằng bồ Lucky mấy tuần sau này. Lucky bắt đầu hờ hững lạnh nhạt với mình chỉ vì mình trở thành gánh nặng cho nó. Nó cứ xúi phá thai để sớm trở lại công việc làm nhưng mà tự nhiên sao Hà thấy thương quá đứa con còn nằm trong bụng. Cái máy, cái đạp của nó cũng làm Hà cảm động.
- Thôi, sửa soạn về nhà với ba đi con!
Dù sao, đây cũng là cơ hội tốt để giữ thai nhi. Nàng viết vội dòng chữ: “I go home” để lại cho thằng bồ. Già nhân ngãi non vợ chồng như họ thì chuyện đi, ở cũng giản dị có chừng ấy thôi.

***

Hai mẹ con gặp lại nhau, trong bụng mỗi người đều cảm thấy vui nhưng bên ngoài, vì tự ái, họ vẫn “kênh” nhau. Chiến tranh nóng lúc trước trở thành chiến tranh lạnh. Họ chỉ nói chuyện với nhau qua trung gian là ông Lân. Thành ra lúc ông Lân đi làm, ở nhà, hai mẹ con không ai nói tới ai.
“Nó là con mà không xuống nước, mình là mẹ lại phải đi xin lỗi nó à?”
“Bả đuổi mình đi, giờ không tỏ vẻ gì hối hận; người gì cứng như sỏi đá!”
Phải chi Hà đừng giống tánh mẹ, đừng cứng cỏi như bà thi mọi chuyện đã êm xuôi, đâu vào đấy. Đằng nay, không ai nhường ai nên họ cứ giữ bộ mặt lạnh lùng.
Ngọc Hà còn giận mẹ thêm khi nàng đi sinh: bà từ chối không chịu vào phòng sinh. Thật ra bà sợ chứng kiến cảnh con mình oằn oại rên la nhưng Hà lại nghĩ mẹ chẳng còn thương mình vì mình có chửa hoang, làm hại danh giá của bà.
Bởi vậy khi đem con về, dù non ngày non tháng, Hà cũng tự tay săn sóc con. Cái gì không biết thì lật sách ra đọc, cần mua gì thì nói với ba.
Bà Lân buồn lắm. Con không hiểu mình. Nhiều lần bà mon men vào phòng con, tiến đến gần cái nôi của cháu ngoại, ngắm nhìn nó đang ngủ yên, đẹp như thiên thần. Những lúc ấy, nếu Hà chỉ nhìn mẹ mà cười, bà sẽ quên hết mọi chuyện cũ, gia đình sẽ trở lại hòa khí như xưa.
Nhưng Hà đã không làm như vậy, đã không cho mẹ được một nụ cười; trái lại, cái giận làm nàng ngu si, nàng ngoảnh mặt xoay vào tường. Như là tấm vách tường đáng nhìn hơn bộ điệu muốn làm quen của mẹ vậy.
Thế là bà Lân lủi thủi trở về với bàn máy may. Bà gạt nước mắt, nhấn bàn đạp, nghĩ tới những món cần dùng của đứa cháu ngoại. “May mà nó là con trai!”
Buổi chiều, khi bà Lân uể oải sắp xếp đồ may lại cho gọn để chuẩn bị cơm nước thi nghe tiếng Ngọc Hà gọi thất thanh:
- Má ơi má! Coi nè! Sao thằng Tom lại như vầy?
Bà Lân phóng lẹ như tên. Bả hoảng hồn khi thấy đứa bé đang trợn trừng cặp mắt, tay chân quíu lại sắp sửa co giựt.
- Nó bị làm kinh. Mở nước lạnh đầy bồn tắm cho tao!
Bà ẳm đứa cháu lên, cả người nó nóng như cục than hầm, cái mặt đỏ nhừ. Rồi bà ôm lấy nó, bước tỏm vào bồn tắm, nâng Tom trong hai cánh tay cho nước lạnh ngập hết người nó. Hà chỉ biết đứng nhìn, thút thít khóc.
Chừng năm, bảy phút sau, người nó dịu lại. Áp mặt vào trán cháu, bà biết nhiệt độ đã giảm. Bảo Hà lấy sẵn cái khăn lông mềm, bà đứng lên, đưa đứa nhỏ cho mẹ nó quấn lại.
Ôm đứa con bình yên trong tay, Ngọc Hà sung sướng quá! Rồi nhìn lại mẹ, thấy bà đang lúng túng trong bộ đồ sủng nước, Hà bật cười thành tiếng, bà Lân cũng cười theo.
Chiều hôm đó ông Lân về thấy hai người thân yêu của ông đang vui vẻ trò chuyện với nhau về thằng bé, giờ đã ngủ ngon lành sau khi uống thuốc và nút cạn bình sữa.
Ngọc Hà xung phong lo dọn cơm. Lâu lắm rồi họ mới được ngồi chung với nhau, thân mật và hạnh phúc trong buổi cơm chiều.
Với niềm vui tuôn chảy trong tim, bây giờ Ngọc Hà mới hiểu rằng hễ mình khổ thì cha mẹ khổ, mình vui thì cha mẹ vui, cũng như thằng Tom bịnh thì Hà điếng hồn vậy. Tình cảm này thiêng liêng quá!
Cố thu hết can đảm, Hà đưa ra một đề nghị:
- Chừng nào thằng Tom một tuổi, con đi học lại. Má vừa may vừa giữ cháu được không?
Ông bà Lân trao nhau cái nhìn mãn nguyện.
Bà trả lời, giọng săng sái:
- Dư sức! Có nó ở nhà hủ hỉ còn vui thêm. Bản mặt nó càng nhìn càng thấy ghét.
Rồi bà tiếp, vừa nói vừa nghiến răng:
- Chờ nó lớn thêm chút nữa, tao nựng mới đã!
Ngọc Hà cúi mặt, cười chúm chím. Cô hiểu và thương mẹ hơn.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/11/202109:02(Xem: 1829)
316. Thi Kệ Bốn Núi do Vua Trần Thái Tông biên soạn. Trần Thái Tông (1218-1277), là vị vua đầu tiên của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam (triều đại kéo dài đến 175 năm sau, ông cũng là một Thiền sư đắc đạo và để lại những tác phẩm Phật học vô giá cho đời sau). Đây là Thời Pháp Thoại thứ 316 của TT Nguyên Tạng, cũng là bài giảng cuối của năm thứ 2 (sẽ nghỉ qua sang năm sẽ giảng lại) từ 6.45am, Thứ Ba, 30/11/2021 (26/10/Tân Sửu) 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹🌺🍀💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️🌻🌺🍀💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️ Múi giờ : pháp thoại của TT Trụ Trì Thích Nguyên Tạng (trong thời gian cách ly vì đại dịch Covid-19) về chư vị Tổ Sư Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam…) - 06: 45am (giờ Melbourne, Australia) - 12:45pm (giờ Cali, USA) - 03:45pm (giờ Montreal, Canada) - 09:45pm (giờ Paris, France) - 02:45am (giờ Saigon, Vietnam) 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹 💐🌹🥀🌷🍀💐🌼🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 Youtube: Tu Viện Quảng Đức (TT Thích Tâm Phương, TT Thích Nguyên Tạng, Melbourne, Australia) https://www.youtube.com
19/01/202206:39(Xem: 160)
Dân tộc Việt Nam học và hành theo giáo lý Phật thuyết trên dưới hai nghìn năm trước khi Pháp sư Huyền Tráng quy Phật cũng trên sáu thế kỷ, tuy vậy cho đến nay chúng đệ tử Phật, xuất gia cũng như tại gia, biết đến công hạnh của Ngài rất ít, và cũng biết rất ít di sản Kinh Luận của Ngài cho Phật tử Việt nam học và hiểu giáo pháp của Đức Thế Tôn một cách chân chính để hành trì chân chính. Bản dịch Đại Đường Tây vực ký của Hòa Thượng Như Điển với sự đóng góp của Cư sĩ Nguyễn Minh Tiến bổ túc cho sự thiếu sót này. Từ những hiểu biết để thán phục, kính ngưỡng một Con Người vĩ đại, hãn hữu, trong lịch sử văn minh tiến bộ của nhân loại, một vị Cao Tăng thạc đức, với nghị lực phi thường, tín tâm bất hoại nơi giáo lý giải thoát, một thân đơn độc quyết vượt qua sa mạc nóng cháy mênh mông để tìm đến tận nguồn suối Thánh ngôn rồi thỉnh về cho dân tộc mình cùng thừa hưởng nguồn pháp lạc. Không chỉ cho dân tộc mình mà cho tất cả những ai mong cầu giải thoát chân chính.
16/01/202219:46(Xem: 217)
Hành hương và chiêm bái Phật tích Ấn Độ là nhân duyên hy hữu và là một ước mơ ngàn đời của người đệ tử Phật trên khắp năm châu bốn bể. Nay ước mơ đó đã đến với Tăng Ni và Phật tử Tu Viện Quảng Đức, Melbourne, Úc Châu. Như chương trình đã sắp đặt trước cả năm, phái đoàn hành hương Ấn Độ gồm 51 người do Tu Viện Quảng Đức tổ chức đã lên đường đúng vào ngày 7-11 năm 2006. Phái đoàn do Đại Đức Phó Trụ Trì Tu Viện Quảng Đức Thích Nguyên Tạng, Sư Cô Hạnh Nguyên và Đạo Hữu An Hậu Tony Thạch (Giám đốc công ty Triumph Tour) hướng dẫn cùng với 38 Phật tử từ Melbourne, 6 từ Sydney, 1 từ Perth và 5 đến từ Texas, Cali, Hoa Kỳ.
04/01/202216:08(Xem: 574)
Không hiểu sao mỗi khi nhớ về những sự kiện của năm 1963 lòng con bổng chùng lại, bồi hồi xúc động về quá khứ những năm đen tối xảy đến gia đình con và một niềm cảm xúc khó tả dâng lên...nhất là với giọng đọc của Thầy khi trình bày sơ lược tiểu sử Đức Ngài HT Thích Trí Quang ( một sưu tầm tài liệu tuyệt vời của Giảng Sư dựa trên “ Trí Quang tự truyện “ đã được đọc tại chùa Pháp Bảo ngày 12/11/2019 nhân buổi lễ tưởng niệm sự ra đi của bậc đại danh tăng HT Thích Trí Quang và khi online cho đến nay đã có hơn 45000 lượt xem). Và trước khi trình pháp lại những gì đã đươc nghe và đi sâu vào chi tiết bài giới thiệu Bộ Pháp Ảnh Lục cùng lời cáo bạch của chính Đức Ngài HT Thích Trí Quang về bộ sách này, kính trich đoạn vài dòng trong tiểu sử sơ lược của HT Thích Trí Quang do Thầy soạn thảo mà con tâm đắc nhất về;
04/01/202206:40(Xem: 210)
Trên đất nước ta, rừng núi nào cũng có cọp, nhưng không phải vô cớ mà đâu đâu cũng truyền tụng CỌP KHÁNH HÒA, MA BÌNH THUẬN. Tỉnh Bình Thuận có nhiều ma hay không thì không rõ, nhưng tại tỉnh Khánh Hòa, xưa kia cọp rất nhiều. Điều đó, người xưa, nay đều có ghi chép lại. Trong sách Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (1) của Thượng Thư Bộ Binh Lê Quang Định soạn xong vào năm 1806 và dâng lên vua Gia Long (1802-1820), tổng cộng 10 quyển chép tay, trong đó quyển II, III và IV có tên là Phần Dịch Lộ, chép phần đường trạm, đường chính từ Kinh đô Huế đến các dinh trấn, gồm cả đường bộ lẫn đường thủy. Đoạn đường ghi chép về ĐƯỜNG TRẠM DINH BÌNH HÒA (2) phải qua 11 trạm dịch với đoạn đường bộ đo được 71.506 tầm (gần 132 km)
04/01/202206:30(Xem: 279)
Ngoài tên “thường gọi” là Cọp, là Hổ, tiếng Hán Việt là Dần, cọp còn có tên là Khái, là Kễnh, Ba Cụt (cọp ba chân), Ba Ngoe (cọp ba móng), Ông Chằng hay Ông Kẹ, Ông Dài, Ông Thầy (cọp thành tinh). Dựa vào tiếng gầm của cọp, cọp còn có tên gọi là Hầm, là Hùm, dựa vào sắc màu của da là Gấm, là Mun ... Ở Nam Bộ cò gọi cọp là Ông Cả, vì sợ cọp quấy phá, lập miếu thờ, tôn cọp lên hàng Hương Cả là chức cao nhất trong Ban Hội Tề của làng xã Nam Bộ thời xưa. Cọp cũng được con người gọi lệch đi là Ông Ba Mươi. Con số ba mươi này có nhiều cách giải thích: - Cọp sống trung bình trong khoảng ba mươi năm. - Cọp đi ba mươi bước là quên hết mọi thù oán. - Xưa, triều đình đặt giải, ai giết được cọp thì được thưởng ba mươi đồng, một món tiền thưởng khá lớn hồi đó. - Tuy nhiên, cũng có thời, ai bắt, giết cọp phải bị phạt ba mươi roi, vì cho rằng cọp là tướng nhà Trời, sao dám xúc phạm (?). Ngày nay, cọp là loài vật quý hiếm, có trong sách Đỏ, ai giết, bắt loài thú này không những bị phạt tiền mà còn ở
30/12/202116:05(Xem: 633)
Tối ngày 11/02 âm lịch (03/03/2012), vào lúc 10 giờ tối, lúc đó tôi niệm Phật ở dưới hai cái thất mà phía trên là phòng của Sư Ông. Khi khóa lễ vừa xong, bỗng nghe (thấy) tiếng của đầu gậy dọng xuống nền phát ra từ phòng của Sư Ông. Lúc đó tôi vội vàng chạy lên, vừa thấy tôi, Ông liền bảo: “Lấy cái đồng hồ để lên đầu giường cho Sư Ông và lấy cái bảng có bài Kệ Niệm Phật xuống” (trong phòng Sư Ông có treo cái bảng bài Kệ Niệm Phật). Khi lấy xuống Sư Ông liền chỉ vào hai câu: Niệm lực được tương tục, đúng nghĩa chấp trì danh, rồi Sư Ông liền chỉ vào mình mà ra hiệu, ý Sư Ông nói đã được đến đây, sau khi ngồi hồi lâu Sư Ông lên giường nghỉ tiếp.
25/12/202107:15(Xem: 290)
Cảo San đường Tuệ Nguyên Đại Tông sư (고산당 혜원대종사, 杲山堂 慧元大宗師) sinh ngày 8 tháng 12 năm 1933 tại huyện Ulju, Ulsan, một thành phố nằm ở phía đông nam Hàn Quốc, giáp với biển Nhật Bản. Ngài vốn sinh trưởng trong tộc phả danh gia vọng tộc, phụ thân Họ Ngô (해주오씨, 海州吳氏), Haeju, Bắc Triều Tiên và tộc phả của mẫu thân họ Park (밀양박씨, 密陽朴氏), Miryang, Gyeongsangnam-do, Hàn Quốc. Năm lên 7 tuổi, Ngài được sự giáo huấn của người cha kính yêu tuyệt vời, cụ đã dạy các bộ sách Luận ngữ, Mạnh Tử, Thích Độ, Đại Học, Tứ Thư và học trường tiểu học phổ thông. Vào tháng 3 năm Ất Dậu (1945), khi được 13 tuổi, Bồ đề tâm khai phát để làm tiền đề cho Bát Nhã đơm bông, Ngài đảnh lễ Đại Thiền sư Đông San Tuệ Nhật (동산혜일대선사, 東山慧日大禪師, 1890-1965) cầu xin xuất gia tu học Phật pháp. Thật là “Đàm hoa nhất hiện” khi những sợi tóc não phiền rơi rụng theo từng nhát kéo đong đưa. Tháng 3 năm 1948, Ngài được Hòa thượng Bản sư truyền thụ giới Sa di tại Tổ đình Phạm Ngư Tự (범어사, 梵魚寺), Geumjeong-gu, Busan, Hàn Qu
23/12/202107:31(Xem: 606)
Chánh Điện của một ngôi Chùa tại xứ Đức, cách đây hơn 40 năm về trước; nơi có ghi hai câu đối: "Viên thành đạo nghiệp Tây Âu quốc. Giác ngộ chúng sanh đạo lý truyền", bây giờ lại được trang hoàng thật trang nghiêm và rực rỡ với các loại hoa. Đặc biệt nhất vẫn là những chậu cây Trạng Nguyên nhỏ to đủ kiểu, nổi bật nhất vẫn là những chiếc lá đỏ phía trên phủ lên những chiếc lá xanh bên dưới. Ai đã có ý tưởng mang những cây Nhất Phẩm Hồng, có nguồn gốc ở miền Nam Mexico và Trung Mỹ vào đây? Và theo phong thủy, loại cây này mang đến sự thành công, đỗ đạt và may mắn.
10/12/202106:14(Xem: 444)
Bản dịch này cũng đã đăng tải trong các số báo đặc san Pháp Bảo, từ số 2, tháng 5 năm 1982 và còn tiếp tục đăng tải cho đến nay. Loạt bài đăng trong báo sẽ được chấm dứt trong vài kỳ báo nữa, vì các phần sau tuy cần thiết đối với người muốn nghiên cứu, nhưng lại trở nên khô khan với người ít quan tâm tới sử liệu Phật Giáo. Đó là lý do quý vị chỉ tìm thấy bản dịch được đầy đủ chỉ có trong sách này. Trong khi dịch tác phẩm, cũng như trong khoảng thời gian còn tòng học tại Nhật Bản, chúng tôi tự nghĩ: không hiểu sao Phật giáo đã du nhập vảo Việt Nam từ thế kỷ thứ 2, thứ 3 mà mãi cho tới nay vẫn chưa có được những cuốn sách ghi đầy đủ các chi tiết như bộ “Các tông phái Phật Giáo Nhật Bản” mà quý vị đang có trong tay. Điều mong mỏi của chúng tôi là Phật Giáo Việt Nam trong tương lai cố sao tránh bớt vấp phải những thiếu sót tư liệu như trong quá khứ dài hơn 1500 năm lịch sử truyền thừa! Để có thể thực hiện được điều này, cần đòi hỏi giới Tăng Già phải đi tiên phong trong việc trước t