Mật Tạng Việt Nam số 41

02/05/201320:19(Xem: 10292)
Mật Tạng Việt Nam số 41

MẬT TẠNG

PHẬT GIÁO VIỆT NAM

TẬP II

Ban phiên dịch:

Thích Viên Đức, Thích Thiền Tâm

Thích Quảng Trí, Thích Thông Đức

Cư sĩ Huỳnh Thanh, Như Pháp Quân

---o0o---

MẬT TẠNG VIỆT NAM SỐ 41

PHẬT THUYẾT KINHNHẤT THIẾT NHƯ LAI

DANH HIỆU ĐÀ LA NI

MậtTạngBộ.4No.1350( Tr.864 )

TâyThiêndịchKinh, Tam TạngTriềuTánĐạiPhuThíQuangLộcKhanh, MinhGiáoĐạiPhápHiền

phụngchiếudịchPhạnraHánvăn.

Việtdịch: HuyềnThanh

Nhưthựctôinghe: MộtthờiĐứcPhậtngựtạiĐạoTrườngĐạiBồĐềPháptrongnướcMa GiàĐà. KhiNgàimớithànhChánhGiác, cácchúngBồTátMa Ha Tátgồmtámvạnngườiđếndự, lại8 vạn4 ngànvịĐạiPhạmThiênTửcũngtạiĐạoTrường, thảyđềuvâyquanhchiêmngưỡngĐứcThếTôn.

BấygiờtrongHộiVịBồTátMa Ha TáttênQuánTựTạitừchỗngồiđứngdậy, trậtáohởvaiphải, quỳgốiphảisátđất, chắptayhướngvềĐứcPhậtrồibạchrằng: "BạchThếTôn! danhhiệucủatấtcảĐứcNhưLai ĐàLa Ni.CácDanhhiệucủatấtcảNhưLai ĐàLa Ni đó, chínhđiềuchưPhậtNhưLai trongKiếpTrangNghiêm, KiếpHiền, KiếpTinhđãnói, đangnói. Nay con nươngtheouylựccủaĐứcPhậtcũnglợiíchan vuichocácchúngsanh, nênmuốndiễnnói. NguyệnxinĐứcThếTônhãylòngthươngchởche, giúpđỡ”.

Lúcđó, ĐứcThếTônkhenngợiBồTátMa Ha TátQuánTựTạirằng: "Lànhthay! LànhthayQuánTựTại! Ônghay lợiíchchotấtcảchúngsanhphátTâmĐạiBi. Nay, Ônghãydiễnnóinhưýôngmuốn”.

Thời, BồTátQuánTựTạivânglờiĐứcPhậthứa, liềnbạchPhậtrằng: "BạchThếTôn! NếungườimuốntụngĐàLa Ni nầy.Trướctiên, nênchíthànhtụngdanhhiệucủachưPhậtNhưLai.Đó: NhưLai BảoTửTựTại, NhưLai BảoVân, NhưLai BảoTrangNghiêmTạng, NhưLai TửĐạiVân, NhưLai VânTử, NhưLai TuDiNhưLai TửHống, NhưLai TửLợi, NhưLai PhạmÂm, NhưLai LiênHoaThượng, NhưLai NhiênĐăng, NhưLai LiênHoaSanh, NhưLai TốnNa La, NhưLai TrìHoaNhưLai TrìBảo, NhưLai PhápSanh, NhưLai NhậtQuang, NhưLai NhậtChiếu, NhưLai NguyệtQuang, NhưLai LượngTạng, NhưLai LượngTrangNghiêmTạngNhưLai LượngQuang, NhưLai LiênHoaTạng, NhưLai ThiênDiệuÂm, NhưLai CâuChỉLa Âm. NếungườiđượcnghedanhhiệucủacácVịPhậtNhưLai nhưvậy, rồingườikhácdiễnnóithìngườiđótrong60 ngànkiếpchẳnghềnghetêncácnẻoác, huốngchi bịđọavàoA TỳĐịaNgục".

BồTátQuánTựTạinóidanhhiệucủachưPhậtNhưLai xong, liềnnóiĐàLa Ni rằng:

- Đátnãnhtha. Tạtđổla thiđế, dụnhạnathiếtđatáthạtát-la ni. Nhạtrạchla mạttralãngkhất-lịđa.Đàla ni, sahạ. Tátlị-phạđátthangađamậulị-đểđa.ĐàLa ni, sahạ. A phạlộcátđếthuyếtla , sahạ. Tátlị-phạđátthangađôôsắt-nịsaĐàla ni, sahạ. Tátlị-phạđátthangađathỉđa.Đạtlị-ma tắc-kiếnđà.Đàla ni, saha. Tátlị-phạđátthangađathỉđa.Tápbát-đađàla ni, saha. Bátnạp-ma a nica , sahạ. A sắt-trama hạbạtđàla ni, sahạ. Thuếđaphạlan-noa, sahạ. Tátlị-phạđátthangađanama đàla ni, sahạ. A thiđếbátnạp-ma thiếtnễca , đátthangađađàla ni, sahạ. Bátnạp-ma hạtất-đa, sahạ. Tátlị-phạmãnđát-la đàla ni, sahạ.

(TADYATHÀ: CATURA ‘SITÌ YOJANA AJITASAHASRANÀMJAYA VARA MAKUTA LUMKRTA DHÀRANI SVÀHÀ. SARVA TATHÀGATA MÙRTTADHÀRANISVÀHÀ. AVALOKITE’SVARÀYA SVÀHÀ.SARVA TATHÀGATA USNÌSADHÀRANISVÀHÀ. SARVA TATHÀGATA BHASITA DHARMA SKANDA DHÀRANI SVÀHÀ. SARVA TATHÀGATA BHASITA SAPTA DHÀRANI SVÀHÀ. PADMA PÀNI KÀYA SVÀHÀ. ASTA MAHÀ PÀYA DHÀRANI SVÀHÀ.‘SUDDHA AVARNÀYA SVÀHÀ. SARVA TATHÀGATA NAMADHÀRANISVÀHÀ. AJITA PADMA JINI KÀYA TATHÀGATA DHÀRANI SVÀHÀ.PADMAHASTÀYASVÀHÀ. SARVAMANTRADHÀRANI SVÀHÀ).

Saukhi, BồTátQuánTựTạinóiĐàLa Ni nàyxong, lạibạchPhậtrằng: "BạchThếTôn! ĐàLa Ni NhấtThiếtNhưLai DanhHiệunày.Nếukẻtrailành, ngườinữthiệnthọtrì, đọctụng, suy, ghinhớngườikhácnói, thìbaonhiêunghiệpNgũGiáncủangườiđóđềuđượctiêudiệt. SaukhichếtđượctáisinhlàmvịvuacủacõiTrời, thọ84 ngàncâuđêkiếpsố.SaucùngđượcđịavịChuyểnLuânVương, thọ60 trungkiếp.Trảiqua kiếpđóxong, ngườiấysẽđượcthànhPhậttênNhưLai LiênHoaTạng, ỨngCúngChánhĐẳngChánhGiác".

KhiĐứcThếTônnóiKinhnàyxong, thì8 vạnchúngBồTátMa Ha Tátcùngvới8 vạn4 ngànVịĐạiPhạmThiênTửnghelờiĐứcPhậtnóiđềurấtvuivẻ, tin nhậnphụnghành.

Ngày19/03/1998

---o0o---

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/09/2011(Xem: 6389)
Ngài không có bàn thờ, kinh sách, chẳng có gì cả. Ngài đã học thuộc lòng tất cả các kinh sách và bài cầu nguyện trong những năm tu học tại Sera, nên Ngài không cần những thứ này.
28/09/2011(Xem: 7575)
Khi bạn thực hành Chulen, bạn tự hóa hiện như một bổn tôn, sau đó bạn dùng viên thuốc và quán tưởng rằng bạn đang thọ dụng những tinh túy của ngũ đại, không khí...
28/09/2011(Xem: 6193)
Tôi đã học ngữ pháp và thơ, rồi tiếng Phạn. Tôi đã học môn nghiên cứu về âm thanh. Có một môn Phạn ngữ khác mà bạn ghép các chữ cái để tạo thành các mật chú.
25/08/2011(Xem: 9555)
Trì tụng minh chú Om mani padme hum [Án ma ni bát di hồng] là một việc rất tốt. Tuy vậy, khi tụng chú cần phải nhớ nghĩ đến ý nghĩa của lời chú, vì sáu âm này mang ý nghĩa thâm sâu quảng đại vô cùng. Âm thứ nhất, OM, là tổng hợp của ba mẫu tự A, U và M, tượng trưng cho thân miệng ý ô nhiễm của người tụng chú, đồng thời cũng tượng trưng cho thân miệng ý thanh tịnh của Phật đà...Tất cả chư Phật đều là đã từng là chúng sinh, nhờ bước theo đường tu nên mới thành đấng giác ngộ; Phật Giáo không công nhận có ai ngay từ đầu đã thoát mọi ô nhiễm...
22/08/2011(Xem: 6396)
Bất cứ một hoàn cảnh khó khăn nào ta có thể gặp ở trung tâm Phật giáo, nơi thuyết pháp hay trong đời ta nói chung, ta sẽ chuyển hóa nó trong tâm mình.
31/05/2011(Xem: 16612)
Bộ Mật Tông - Gồm có 4 tập - Soạn giả: Thích Viên Đức
22/05/2011(Xem: 6143)
Tất cả mọi pháp hiện hữu, bắt đầu là cái Tôi, chẳng là gì cả ngoại trừ là những thứ được định danh. Không có các uẩn, không có thân, tâm, ngoại trừ những gì đã được ta quy gán.
06/05/2011(Xem: 14047)
Khi truyền bá rộng rãi sang châu Á, Phật giáo thành công khi vượt qua một số vấn đề nổi bật từ những giới hạn về ngôn ngữ trong một số trường hợp phải phiên chuyển thành một ngôn ngữ rất khác với ngôn ngữ nói của Ấn Độ. Giáo lý đạo Phật được truyền đạt bằng lời nói qua vô số ngôn ngữ và tiếng nói địa phương. Còn Kinh tạng, khi đã được viết ra, lại được phiên dịch thành hàng tá ngôn ngữ ngay cả trước thời kỳ hiện đại. Do vì nguồn gốc lịch sử không cho phép các học giả dùng ngôn ngữ nói trong việc giảng dạy, bài viết này sẽ tập trung vào những ý tưởng được viết ra, nhằm khảo sát việc truyền dạy qua lời nói chỉ trong thời kỳ Phật giáo Ấn Độ.
24/03/2011(Xem: 5868)
Mật tông hoặc Mật giáo có gốc từ chữ Sanskrit Tantra, phiên âm Hán Việt là Đát-đặc-la. Đôi khi Tantra cũng được dịch là Mật pháp và kinh sách Tantra được gọi là Mật kinh. Nguyên nghĩa của Tantra là “mở rộng, nối tiếp, kéo ra từ khung dệt, liên tục trong một thể thống nhất”. Đây là một thuật ngữ trừu tượng, khó dịch nên trong ngôn ngữ Tây phương, hầu hết các tác giả để nguyên chữ Tantra.
13/03/2011(Xem: 11670)
Trong tác phẩm “Một đời người, một câu thần chú” này, người viết cố gắng thể hiện những quan kiến Mật giáo về pháp môn trì niệm thần chú Mani từ nhiều khía cạnh khác nhau.