Mật Tạng Việt Nam số 39

02/05/201320:17(Xem: 11030)
Mật Tạng Việt Nam số 39

MẬT TẠNG

PHẬT GIÁO VIỆT NAM

TẬP II

Ban phiên dịch:

Thích Viên Đức, Thích Thiền Tâm

Thích Quảng Trí, Thích Thông Đức

Cư sĩ Huỳnh Thanh, Như Pháp Quân

---o0o---

MẬT TẠNG VIỆT NAM SỐ 39

PHẬT THUYẾT KINH THÁNH DIỆU MẪU ĐÀ LA NI

Mật Tạng Bộ.4No.1303( Tr.421 - Tr.422 )

Truyền Giáo Đại Sư Pháp Thiên phụng chiếu

dịchPhạn ra Hán văn.

Việt dịch :Huyền Thanh

Như vậy tôi nghe, một thời Đức Phật ngự tại Đại Thành A Noa Ca Phộc Đế.Bấy giờ, có vô số Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn Đạt Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Nhân , Phi Nhân với Mộc Tinh, Hỏa Tinh, Kim Tinh, Thủy Tinh, Thổ Tinh, Thái Âm, Thái Dương, La Hầu, Kế Đô, 27 Diệu của nhóm như vậy cung kính vây quanh. Kim Cương Tam Muội Trang Nghiêm Đạo Trường này lại có vô số ngàn Bồ Tát Ma Ha Tát chúng.Tên các vị ấy là: Bồ Tát Kim Cương Thủ, Bồ Tát Kim Cương Phẫn Nộ, Bồ Tát Kim Cương Quân, Bồ Tát Kim Cương Bá Ni, Bồ Tát Kim Cương Chủ, Bồ Tát Kim Cương Trang Nghiêm, Bồ Tát Kim Cương Minh, Bồ Tát Kim Cương Số, Bồ Tát Quán Tự Tại, Bồ Tát Phổ Quán Thế, Bồ Tát Cát Tường, Bồ Tát Liên Hoa Tràng, Bồ Tát Liên Hoa Tạng, Bồ Tát Liên Hoa Mục, Bồ Tát Từ Thị, Bồ Tát Ma Ha Tát Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử. Các Vị Đại Bồ Tát như vậy cung kính vây quanh.Đức Phật vì tất cả mà thuyết Pháp: Sơ thiện, Trung thiện, Hậu thiện. Nghĩa đó thâm sâu, ngôn ngữ xảo diệu, thuần nhất không tạp, đầy đủ thanh bạch, trang nghiêm như ý.

Lúc đó Bồ Tát Ma Ha Tát Kim Cương Thủ liền từ chỗ ngồi đứng dậy, dùng sức thần thông nhiễu quanh bên phải Đức Thế Tôn trăm ngàn vòng, cúi đầu làm lễ rồi ngồi Kiết già, dùng mắt thanh tịnh quán sát Đại Chúng xong, liền chắp tay Kim Cương bạch với Đức Thế Tôn rằng :"Có các Tú Diệu, hình mạo hung ác, tâm nhiều phẫn nộ, não hại chúng sinh. Hoặc chặt đứt mệnh căn, hoặc tổn hoại tài bảo của con người, hoặc làm giảm sút tinh thần của con người, hoặc cần tuổi thọ của con người.Như vậy thường gây tổn não cho tất cả chúng sinh.Nguyện xin Đức Thế Tôn nói Pháp Chính Mật để tác ủng hộ".

Đức Phật bảo :"Lành thay! Lành thay! Ông có lòng Từ mẫn, hay vì lợi ích cho tất cả chúng sinh mà hỏi về Pháp bí mật tối thượng của Như Lai. Nay ông hãy lắng nghe, hãy khéo suy nghĩ, Ta sẽ vì ông mà nói.

Này Kim Cương Thủ !Các Tú Diệu ác cùng với hàng Trời, Rồng , Dạ Xoa, Càn Đạt Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Nhân, Phi Nhân v.v...nhưvậy, nên dùng nước Ứ già tối thượng, âm nhạc... y theo Pháp gia trì, mỗi mỗi cúng dường khiến cho họ vui vẻ diệt trừ các ác ".

Thời ở ngay trong trái timcủa Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tuôn ra ánh hào quang lớn tên là Bi Quang nhập vào đỉnh đầu các Tú Diệu. Trong khoảng sát na, tất cả Tú Diệu với Nhật, Nguyệt liền từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu làm lễ dưới chân Đức Phật rồi quỳ gối phải sát đất, chắp tay cunh kính bạch với Đức Phật rằng :"Bạch Thế Tôn ! Đức Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác Nguyện xin ban ân nhiếp thọ !Hãy vì chúng con mà nói Chính Pháp. Nếu chúng con nghe được sẽ ủng hộ các hữu tình, khiến cho họ không có não hại cùng với hết thảy sự cấm buộc cột trói ( Cấmphộc ) đao kiếm, độc trùng, tất cả thứ độc. Con sẽ kết Địa Giới để thường ủng hộ ".

Bấy giờ Đức Như Lai Thích Ca liền nói Chân Ngôn Cúng Dường Tú Diệu :

- Án- Mính củ la-ca da Sa-phộc ha. Án- Thi đán xả vĩSa-phộc hạ.Án- Lạc khất-đán nga câu ma la dã Sa-phộc hạÁn- Mạo đà dã, mạo đà dã Sa-phộc hạ.Án- Bộ nga sa-ba na dã Sa-phộc hạ.Án- A tô la tát đa ma dãSa-phộc ha.Án- Khất-lý sắt-noa phộc la-noa dã Sa-phộc haï.Án- A mật-lý đa bát-lý dạ dã Sa-phộc haï.Án- Nhũ để kế đa phệ Sa-phộc hạ

( OM- ANÕGÀRAKÀYA SVÀHÀ. OM- ‘SANIH ‘SCETESVÀHÀ. OM-‘SUKRAHKUMALÀYA SVÀHÀ. OM-BUDHÀYABUDHÀYA SVÀHÀ. OM-PITASVANÀYA SVÀHÀ.OM-ASURAATMÀYA SVÀHÀ. OM- KRSNAAVARNÀYASVÀHÀ. OM- AMRTA‘SRÌYÀYASVÀHÀ. OM- ANUDGATAVIHSVÀHÀ ).

Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói Chân Ngôn xong liền bảo Bồ Tát Kim Cương Thủ rằng: "Cửu Diệu Chân Ngôn như vậy, người niệm đều được thành tựu. Trước hết nên y theo Pháp dùng nước thơm xoa Man Noa La ( Đàntrường ) rộng 12 ngón tay. Hoặc dùng vật khí bằng vàng bạc, hoặc vật bằng đồng, vật bằng sành sứ hiến nước Ứ Già cúng dường Tinh Diệu, dùng Chân Ngôn trước đều niệm 108 biến, thì việc mong cầu ắt đều thành tựu ".

Đức Phật bảo :"Này Bồ Tát Kim Cương Thủ! Nay Ta lại nói Đà La Ni tên là Thánh Diệu Mẫu có sức lực của Đại Minhhaylàm việc ủng hộ, tất cả Tú Diệu nghe được đều vui vẻ. Nếu có Bật Sô, Bật Sô Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di nghe Kinh Điển này ở trong Man Noa La hiến Ứ già cúng dường, niệm Chân Ngôn này 7 biến liền được giàu có, caosang, trường thọ. Nếu mỗi ngày đều trì tụng, thì tất cả Tú Diệu ấy hay làm cho thỏa mãn tất cả ý nguyện của Hữu Tình.

Đà La Ni Tú Diệu Mẫu là :

- Nẵng mô la đát-nẵng đát-la dạ dã. Nẵng mô một đà dã Nẵng mô phộc nhật-la đà la dã.Nẵng mô bát nại-ma đà la dã Nẵng mô tát phộc cật-la ha nản Tát phộc Thương bà lị Bố la ca nản Nẵng mô nhược khất-xoa đát-la nản.Nẵng mô nạp-phộc na xả la thi nam Đát nễ-dã tha : Án- Một đệ Phộc nhật-lý, phộc nhật-lý Bát nại-mính Sa la Sa la Bát-la sa la, bát-la sa la Sa-ma la, sa-ma la Khất-lý noa dã, khất-lý noa dã Mạt lý-noa dã Già đa dã, già đa dã Tát phộc vĩ cận-nẵng Cụ lỗ, cụ lỗ thân na, thân na Tần na, tần na Sát bả dã, sát bả dã Phiến đế, phiến đế Nan đế, nan đế Na ma dã, na ma dã Nạp-lỗ đát na lị xá dã tát-ma nam Ma Ma Lạc khất-xoa, lạc-khất xoa Tát phộc tát đát-phộc thất ta Tát phộc nhược khất-sát đát-la, khất-la ha bế nản Ma nễ lị-phộc la duệ Bà nga phộc để Ma hạ ma duệ , bát-la sa đà dã Tát phộc bá bá nễ di Tát phộc tát đát-phộc nan Tán ni, tán ni Độ lỗ, độ lỗ Ba nga phộc đế Tán ni, tán ni Tô mẫu, tô mẫu Tổ mẫu, tổ mẫu Bà phộc bà phệ Ô cật-lị, ô cật-la Đa bế bố la dã Ma ma Tát phộc tát đát-phộc nan tả Ma nỗ la tha Tát phộc đát tha nga đa địa sắt-xỉ đa tam bà duệ Sa-phộc ha. Án- Saphộc hạ. Hồng Sa-phộc hạ.Gật-lăng Sa-phộc hạ. Thông Sa-phộc hạ.Định Sa-phộc hạ.Phộc nhật-la đà la dã Sa-phộc hạ Bát nại-ma đà la dã Sa-phộc hạ.A nãnh để-dã dã Sa-phộc ha.Tô ma dã Sa-phộc hạ. Đà la ni tô đa dãSa-phộc hạ. Mẫu đà dã Sa-phộc hạ. Vật-lý hạ tát-ba đa duệ Sa-phộc hạ.Tốc khất-la dã Sa-phộc hạ.Ngật-lý sắt-noa phộc la-noa dã Sa-phộc hạ.La hạ phệ Sa-phộc hạ. Ca đa phệ Sa-phộc hạ. Một đà dã Sa-phộc hạ. Phộc nhật-la đà la dã Sa-phộc hạ Bát na-ma đà la dã Sa-phộc hạ.Câu ma la dã Sa-phộc hạ Nhược khật-xoa đát-la nản Sa-phộc haï. Tát lý vũ ba na-la phộc nản Sa-phộc hạ.Án- Tát lị-phộc vĩ nễ, hồng, phát tra Sa-phộc hạ

( NAMORATNATRAYÀYA. NAMOBUDDHÀYA. NAMOVAJRADHÀRÀYA. NAMO PADMA DHÀRÀYA. NAMO SARVA GRAHÀNAMSARVAA’SAM PARIPÙRAKANÀM. NAMO NAKSATRANÀM. NAMO DHVA DA‘SA RSINÀM TADYATHÀ : OM- BUDDHE VAJRI VAJRI PADMI SARA SARA PRASARA PRASARA SMARA SMARA GRNÀYA GRNÀYA AVARNÀYA JATÀYA JATÀYA SARVA VIGHNÀM KURU KURU CCHINDHA CCHINDHA BHINDHA BHINDHA STAMBHÀYA STAMBHÀYA ‘SÀNTI ‘SÀNTI DÀNTE DÀNTE NAMÀYA NAMÀYA TRÙ SADHÀRI ‘SAYA ATMANÀM MAMA RAKSA RAKSA SARVA SATVANÀMCA SARVA NAKSATRA GRAHE BHYAH MADIRVARÀYE BHAGAVATI MAHÀ MAYE PRASÀDHÀYA SARVA PÀPAN IME SARVA SATVANÀM CANDI CANDI DHURU DHURU BHAGAVATI CANDI CANDI SUMU SUMU CUMU CUMU BHAVA BHAVE UGRI UGRA DHAPE PÙRÀYA MAMA SARVA SATVANÀMCA MANU ARTHA SARVA TATHÀGATA ADHISTITA SAMBHAVE SVÀHÀ. OM- SVÀHÀ. HÙMSVÀHÀ. TRIMSVÀHÀ. ‘SRÙMSVÀHÀ. HRUM SVÀHÀ. VAJRA DHÀRÀYA SVÀHÀ. PADMA DHÀRÀYA SVÀHÀ. ADITYÀYA SVÀHÀ. SOMÀYASVÀHÀ. DHÀRANISUTÀYASVÀHÀ. BUDHÀYASVÀHÀ. VRHASPATÀYESVÀHÀ. ‘SUKRÀYASVÀHÀ. KRSNAAVARNÀYASVÀHÀ. RAHUVESVÀHÀ. KETUVESVÀHÀ. BUDDHÀYA SVÀHÀ. VAJRA DHÀRÀYASVÀHÀ. PADMA DHÀRÀYA SVÀHÀ. KUMALÀYASVÀHÀ. AKSATRANÀMSVÀHÀ. SARVAUPADRAVANÀMSVÀHÀ. OM-SARVAVIDE HÙM SVÀHÀ ) Ï

Bấy giờ Đức Thế Tôn nói Đà La Ni này xong, liền bảo Bồ Tát Kim Cương Thủ rằng: "Nay, bí mật tối thượng của Chân Ngôn này là hay cho chúng sinh mãn tất cả nguyện. Nếu có người cầu sự trường thọ, thì vào ngày mồng bảy tháng tám bắt đầu thọ trì trai giới đến đêm ngày 14, y theo Pháp cúng dường Tú Diệu cho đến ngày 15, trong một ngày đêm đọc tụng Đà La Ni này thì người đó sẽ sống lâu đến 99 năm. Hết thảy hàng Lôi Điển, Rồng, Quỷ, các Tinh Diệu ác đều chẳng có thể gây sợ hãi.Lại được Túc Mệnh Trí, mọi sở nguyện đều như ý ".

Khi ấy tất cả Tú Diệu nghe lời Đức Phật nói đều khen ngợi rằng :"Lành thay ! Lành thay !Thật là hiếm có !Chúng con xin thọ trì". Nói xong, liền cúi đầu làm lễ dưới chân Đức Thế Tôn rồi đột nhiên chẳng hiện .

PHẬT THUYẾT KINH THÁNH DIỆU MẪU ĐÀ LA NI

07 /09/ 1998

---o0o---

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/09/2011(Xem: 6370)
Ngài không có bàn thờ, kinh sách, chẳng có gì cả. Ngài đã học thuộc lòng tất cả các kinh sách và bài cầu nguyện trong những năm tu học tại Sera, nên Ngài không cần những thứ này.
28/09/2011(Xem: 7541)
Khi bạn thực hành Chulen, bạn tự hóa hiện như một bổn tôn, sau đó bạn dùng viên thuốc và quán tưởng rằng bạn đang thọ dụng những tinh túy của ngũ đại, không khí...
28/09/2011(Xem: 6153)
Tôi đã học ngữ pháp và thơ, rồi tiếng Phạn. Tôi đã học môn nghiên cứu về âm thanh. Có một môn Phạn ngữ khác mà bạn ghép các chữ cái để tạo thành các mật chú.
25/08/2011(Xem: 9517)
Trì tụng minh chú Om mani padme hum [Án ma ni bát di hồng] là một việc rất tốt. Tuy vậy, khi tụng chú cần phải nhớ nghĩ đến ý nghĩa của lời chú, vì sáu âm này mang ý nghĩa thâm sâu quảng đại vô cùng. Âm thứ nhất, OM, là tổng hợp của ba mẫu tự A, U và M, tượng trưng cho thân miệng ý ô nhiễm của người tụng chú, đồng thời cũng tượng trưng cho thân miệng ý thanh tịnh của Phật đà...Tất cả chư Phật đều là đã từng là chúng sinh, nhờ bước theo đường tu nên mới thành đấng giác ngộ; Phật Giáo không công nhận có ai ngay từ đầu đã thoát mọi ô nhiễm...
22/08/2011(Xem: 6349)
Bất cứ một hoàn cảnh khó khăn nào ta có thể gặp ở trung tâm Phật giáo, nơi thuyết pháp hay trong đời ta nói chung, ta sẽ chuyển hóa nó trong tâm mình.
31/05/2011(Xem: 16534)
Bộ Mật Tông - Gồm có 4 tập - Soạn giả: Thích Viên Đức
22/05/2011(Xem: 6114)
Tất cả mọi pháp hiện hữu, bắt đầu là cái Tôi, chẳng là gì cả ngoại trừ là những thứ được định danh. Không có các uẩn, không có thân, tâm, ngoại trừ những gì đã được ta quy gán.
06/05/2011(Xem: 14006)
Khi truyền bá rộng rãi sang châu Á, Phật giáo thành công khi vượt qua một số vấn đề nổi bật từ những giới hạn về ngôn ngữ trong một số trường hợp phải phiên chuyển thành một ngôn ngữ rất khác với ngôn ngữ nói của Ấn Độ. Giáo lý đạo Phật được truyền đạt bằng lời nói qua vô số ngôn ngữ và tiếng nói địa phương. Còn Kinh tạng, khi đã được viết ra, lại được phiên dịch thành hàng tá ngôn ngữ ngay cả trước thời kỳ hiện đại. Do vì nguồn gốc lịch sử không cho phép các học giả dùng ngôn ngữ nói trong việc giảng dạy, bài viết này sẽ tập trung vào những ý tưởng được viết ra, nhằm khảo sát việc truyền dạy qua lời nói chỉ trong thời kỳ Phật giáo Ấn Độ.
24/03/2011(Xem: 5850)
Mật tông hoặc Mật giáo có gốc từ chữ Sanskrit Tantra, phiên âm Hán Việt là Đát-đặc-la. Đôi khi Tantra cũng được dịch là Mật pháp và kinh sách Tantra được gọi là Mật kinh. Nguyên nghĩa của Tantra là “mở rộng, nối tiếp, kéo ra từ khung dệt, liên tục trong một thể thống nhất”. Đây là một thuật ngữ trừu tượng, khó dịch nên trong ngôn ngữ Tây phương, hầu hết các tác giả để nguyên chữ Tantra.
13/03/2011(Xem: 11652)
Trong tác phẩm “Một đời người, một câu thần chú” này, người viết cố gắng thể hiện những quan kiến Mật giáo về pháp môn trì niệm thần chú Mani từ nhiều khía cạnh khác nhau.