Mật Tạng Việt Nam số 49

02/05/201320:25(Xem: 9931)
Mật Tạng Việt Nam số 49

MẬT TẠNG

PHẬT GIÁO VIỆT NAM

TẬP II

Ban phiên dịch:

Thích Viên Đức, Thích Thiền Tâm

Thích Quảng Trí, Thích Thông Đức

Cư sĩ Huỳnh Thanh, Như Pháp Quân

---o0o---

MẬT TẠNG VIỆT NAM SỐ 49

BỒ TÁT QUÁN TỰ TẠI

PHÁP NIỆM TỤNG TÂM CHÂN NGÔN NHẤT ẤN

MậtTạngBộ3No.1041( Tr.32 - Tr.33 )

ChùaĐạiHưngThiện, Tam TạngSa MônĐạiQuảngTríBấtKhôngphụngchiếudịchPhạnraHánvăn.

Việtdịch:HuyềnThanh

Phàmngườituhành, lúcmuốnniệmtụng, thìtrướcnêntụngChânNgônThanhTịnh7.ChânNgôn:

- Án- truậtđệnậuthúđànẵngsa-phạhaï.

( OM- ‘SUDDHE NU’SÀDDHA NÀYA SVÀHÀ) 

( TheoýngườidịchthìcâuChútrênphảighi: OM(BaThânquymạng) ‘SUDDHE(Thanhtĩnh) ANU(Tuântheo) ’SUDDHA NÀYA(thúThanhTịnh) SVÀHAØ (Quyếtđịnhthànhtựu) ).

Do tụngChânNgônnày, banghiệpliềnđượcthànhthanhtịnh, dùngnướcPhápCôngĐứcrướitắmthântâm, rồikếtẤnBồTátQuánTựTại: Hai( 2 tay) cùngcàichéocácngónvớinhau, nắmlạithànhquyền, đưaThiềnĐộ( Ngóncáiphải) rangoàiduỗithẳngcứng, liềnthành. TụngTâmChânNgôn7 biến.ChânNgôn:

- Án, Alựcca sa-phạhạ

( OM- AROLIK SVÀHÀ ). 

Do kếtẤntụngChânNgônnầy, liềnthànhTam MuộiGia

LạikếtẤnlúctrước, tụngChânNgôn3 biến, đưaẤnxoaytheobêntrái3 vòng, liềnthànhTịchTrừtấtcảcácloàiMa Chướng.

LạikếtẤnlúctrước, tụngChânNgôn3 biến, đemẤnchuyểntheobênphải3 vòng, liềnthànhKếtGiới. Liềntưởngtrướcmặthoasen8 cánh.LạikếtẤntrước, tụngChânNgôn7 biến, đưaThiềnĐộ( Ngóncáiphải) hướngvềthânđểtriệumời, thờiBồTátQuánTựTạitấtcảThánhChúngthuộcBộLiênHoađềuđếntậphội

Liềndùng2 taynângvậtchứanướcthơmgià(Argha: Nướchoathơm, nướcCôngĐức) ngangvầngtrándânghiến, tụngChânNgôn7 biến, tưởngtắmThánhChúng

LạikếtẤntrước, tụngChânNgôn7 biếnliềnthànhPhápHiếntoàhoasen.

LạikếtẤntrước, tụngChânNgôn3 biếnliềnthànhPhápcúngdườnghươngthoabôi( ĐồHương: Dầuthơm). 

LạikếtẤntrước, tụngChânNgôn3 biếnliềnthànhPhápcúngdườngHoaMan ( Trànghoa, vònghoa). 

LạikếtẤntrước, tụngChânNgôn3 biếnliềnthànhPhápcúngdườngmọithứthứcănuốngtuyệtdiệucủachưThiên.

LạikếtẤntrước, tụngChânNgôn3 biếnliềnthànhPhápcúngdườngđènđuốc.

LạikếtẤntrước, đểngangtráitimtụngChânNgôn7 biến, liềntưởngTựThânngồitrênĐàiChánhGiữacủahoasen8 cánh, đầyđủtướngtốtđẹp, uyquangviênmãnđồngvớiBồTátQuánTựTại. Ở 8 cánhhoasen, trênmỗimộtcánhđềumộtĐứcNhưLai nhậpđịnh, hướngmặtvềBồTátQuánTựTại.

HànhGiảquánniệmchothậtràng, rồinângẤnlêntrênđảnhđầuxảẤn.

LạilấySổChâu(Trànghạt) cầmtronglòngbàntay, chắp2 taylạiđểngangtráitim. TụngGiaTrìSổChâu7 biến.ChânNgôn:

- Án,tảnẵngma la sa-phạhạ.

(OM- VAILOCANAMALASVÀHÀ). 

( Bảnkhácghi: OM- VAIROCANA MÀLÀ SVÀHÀ). 

Theo NghiTắc, thìđể2 tayngangtráitim, chụm5 ngónlạinhưhìnhHoaSenchưanở. Đặt( Xâuchuổi) ngangtráitim, tụngChânNgônkhôngchậmkhôngmauchothậtràng, chẳngnênniệmratiếng. Cứlặnglẽniệmtụng, mỗiâmthanhcủachữcuốicùngthuộcChânNgônthìlầnqua mộthột.trongcâuChânNgôn, bỏqua chữđầuchữsau( Đừngchúýchữtrướcchữsau), lúcniệmtụngđừngđểchotánloạn, thântâmvắnglặngchẳngtheoduyênkhác, chỉquánBổnTônchuyênchúniệmtụng

Liềnquántưởngtrướcthân, trênhoasen8 cánhNgàiBồTátQuánTựTại, tướngtốtđẹpviênmãn, bêntrongvànhtrăng.LạiquánTựthânđồngvớiBồTátQuánTựTạikhôngsaikhác.Niệmtụngđủsốxong, nângxâuchuổilênđảnhđầuđểđội.RồikhởitâmTừBi, phátthệnguyệnlớnnơihyvọngcủatấtcảhữutình, ThượngnguyệnthùthắngcủaThếGianmauđượcthànhtựu.Xong, đểxâuchuổivàochỗ.

LạikếtẤnnhưtrước, đểngangtráitimtụngChânNgôn7 biến, liềnthànhTam MuộiGia. LạiđemẤngiatrì5 nơitrênthânmình: trán, vaiphải, vaitrái, tráitimcổhọng. ĐógọiNgũXứ.MỗinơitụngChânNgônmộtbiếngiatrì, rồibuôngẤntrênđỉnhđầu.

LạikếtẤntrước, nhưPháphiến5 loạicúngdường, đềutụngChânNgônmộtbiến, ắtthànhcúngdườngrộnglớn. Liềndùng2 taynângnướcGiàngangvầngtránphụnghiến, tụngChânNgônmộtbiến.

LạikếtẤnnhưtrước, chuyểnbêntráimộtvòngliềnthànhGiảiGiới.

LạikếtẤntrước, đemThiềnĐộ( Ngóncáiphải) hướngrangoàiném, tụngChânNgôn3 biến, nângẤnđểtrênđảnhđầuliềnthànhPhụngTốngtấtcảThánhChúng.

LạikếtẤnlúctrước, giatrì5 nơitrênthânmình, đềutụngChânNgônmộtbiến, ắtthànhBịGiáp(Mặcáogiáp), rồixảẤntrênđảnhđầu.

Ngườituhànhnhưvậy, y theoPhápyếumậtnày: Tinhthànhniệmtụng, tácýtutrì, thìtấtcảnơilàmmauđượcthànhtựu, viênmãncácNguyệnThếgianXuấtThếgian, tiêutrừnghiệpchướng, Tam Muộihiệntiền, chẳngchuyểnthânnày, nhảyvộtlênkhôngtùyýtựtại, liềnqua mườiphươngTịnhThổphụngsựchưPhật, mauthànhThượngBồĐề.

BátGiaLụcghirằng:

BồTátQuánTựTạiTâmChânNgônNhấtẤnniệmtụngPháp( Nhân) : BấtKhông.

ChữNhân( ) trongđâyViênNhân, tứctênhúycủaĐạiTừGiác.

Nhưvậy, Bảnnàydo ĐạiTừGiácthỉnhvềvậy.

20/05/1997

---o0o---

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/09/2011(Xem: 6377)
Ngài không có bàn thờ, kinh sách, chẳng có gì cả. Ngài đã học thuộc lòng tất cả các kinh sách và bài cầu nguyện trong những năm tu học tại Sera, nên Ngài không cần những thứ này.
28/09/2011(Xem: 7563)
Khi bạn thực hành Chulen, bạn tự hóa hiện như một bổn tôn, sau đó bạn dùng viên thuốc và quán tưởng rằng bạn đang thọ dụng những tinh túy của ngũ đại, không khí...
28/09/2011(Xem: 6189)
Tôi đã học ngữ pháp và thơ, rồi tiếng Phạn. Tôi đã học môn nghiên cứu về âm thanh. Có một môn Phạn ngữ khác mà bạn ghép các chữ cái để tạo thành các mật chú.
25/08/2011(Xem: 9545)
Trì tụng minh chú Om mani padme hum [Án ma ni bát di hồng] là một việc rất tốt. Tuy vậy, khi tụng chú cần phải nhớ nghĩ đến ý nghĩa của lời chú, vì sáu âm này mang ý nghĩa thâm sâu quảng đại vô cùng. Âm thứ nhất, OM, là tổng hợp của ba mẫu tự A, U và M, tượng trưng cho thân miệng ý ô nhiễm của người tụng chú, đồng thời cũng tượng trưng cho thân miệng ý thanh tịnh của Phật đà...Tất cả chư Phật đều là đã từng là chúng sinh, nhờ bước theo đường tu nên mới thành đấng giác ngộ; Phật Giáo không công nhận có ai ngay từ đầu đã thoát mọi ô nhiễm...
22/08/2011(Xem: 6368)
Bất cứ một hoàn cảnh khó khăn nào ta có thể gặp ở trung tâm Phật giáo, nơi thuyết pháp hay trong đời ta nói chung, ta sẽ chuyển hóa nó trong tâm mình.
31/05/2011(Xem: 16560)
Bộ Mật Tông - Gồm có 4 tập - Soạn giả: Thích Viên Đức
22/05/2011(Xem: 6140)
Tất cả mọi pháp hiện hữu, bắt đầu là cái Tôi, chẳng là gì cả ngoại trừ là những thứ được định danh. Không có các uẩn, không có thân, tâm, ngoại trừ những gì đã được ta quy gán.
06/05/2011(Xem: 14033)
Khi truyền bá rộng rãi sang châu Á, Phật giáo thành công khi vượt qua một số vấn đề nổi bật từ những giới hạn về ngôn ngữ trong một số trường hợp phải phiên chuyển thành một ngôn ngữ rất khác với ngôn ngữ nói của Ấn Độ. Giáo lý đạo Phật được truyền đạt bằng lời nói qua vô số ngôn ngữ và tiếng nói địa phương. Còn Kinh tạng, khi đã được viết ra, lại được phiên dịch thành hàng tá ngôn ngữ ngay cả trước thời kỳ hiện đại. Do vì nguồn gốc lịch sử không cho phép các học giả dùng ngôn ngữ nói trong việc giảng dạy, bài viết này sẽ tập trung vào những ý tưởng được viết ra, nhằm khảo sát việc truyền dạy qua lời nói chỉ trong thời kỳ Phật giáo Ấn Độ.
24/03/2011(Xem: 5865)
Mật tông hoặc Mật giáo có gốc từ chữ Sanskrit Tantra, phiên âm Hán Việt là Đát-đặc-la. Đôi khi Tantra cũng được dịch là Mật pháp và kinh sách Tantra được gọi là Mật kinh. Nguyên nghĩa của Tantra là “mở rộng, nối tiếp, kéo ra từ khung dệt, liên tục trong một thể thống nhất”. Đây là một thuật ngữ trừu tượng, khó dịch nên trong ngôn ngữ Tây phương, hầu hết các tác giả để nguyên chữ Tantra.
13/03/2011(Xem: 11657)
Trong tác phẩm “Một đời người, một câu thần chú” này, người viết cố gắng thể hiện những quan kiến Mật giáo về pháp môn trì niệm thần chú Mani từ nhiều khía cạnh khác nhau.