Mật Tạng Việt Nam số 54

02/05/201320:28(Xem: 10718)
Mật Tạng Việt Nam số 54

MẬT TẠNG

PHẬT GIÁO VIỆT NAM

TẬP II

Ban phiên dịch:

Thích Viên Đức, Thích Thiền Tâm

Thích Quảng Trí, Thích Thông Đức

Cư sĩ Huỳnh Thanh, Như Pháp Quân

---o0o---

MẬT TẠNG VIỆT NAM SỐ 54

BẢO TẠNG THIÊN

Thiên Bảo Tạng, còn xưng là Thiên Nữ Bảo Tạng. Đây là vị Thần chủ về phước đức, cho nên được xem như đồng với nhóm Cát Tường và Biện Tài Thiên…

Thiên Bảo Tạng có tên Phạn là Tra La Khư, nhưng không phải được dịch âm từ chữ Phạn Bảo Tạng ( Ratna garbha ) lại do Pháp Thiên Nữ Bảo Tạng Đà La Ni, xưng Thiên Vương Bảo Tạng là Tra La Khư mà có.

Phạn ngữ Tra La Khư thì chẳng rõ.Nhưng Phạn Ngữ có chữ Tàrakha mang nghĩa là “Người cứu trơ”ïvà đây cũng là tên gọi của một loài Quỷ ác.Ngoài ra, trong Đồ Tượng quyển 3 có ghi câu Phạn Chú là: OM- DARAGADARAGAVIDARADI SVÀHÀ và được dịch âm là : “Án, tra la khư, tra la khư, tỳ đa la nễ, sa-phạ ha”. Như vậy Tra La Khưdịch Âm của Phạn ngữ Daraga.

Nay theo sự khảo cứu của chúng tôi, thì Phạn Ngữ Daraga không biết rõ nghĩa mà chỉ có Phạn ngữ Dàraka mang ý nghĩa là :bẻ gẫy, đập phá, hủy diệt, từ bỏ thói quen, tạo nên sự gián đoạn, cắt đứt quan hệ, chia ly, xé rách, xé nát, tàn phá, khiển tráchNgoài ra trong Đàn Pháp Quán Tưởng của Pháp Tra La Khư, thì lại quán chữ Tra ( ) biến thành viên ngọc báu, rồi viên ngọc báu biến thành Thiên Nữ.Như vậy chữ Tra La Khư có thể là Phạn ngữ Tàraka Và câu Chú: “Án, tra la khư, tra la khư, tỳ đa la nễ, sa-phạ ha“ cóthể được phục hồi là :

OM- TÀRAKATÀRAKAVIDARADI SVÀHAØ

( HỡiĐấng Cứu Độ ! Hãy giúp cho con.Khiến cho con xa lìa sự nguy hiểm sợ hãi, thành tựu điều tốt lành ).

Pháp Đà la ni Thiên Nữ Bảo Tạng ghi là: “Vị Thiên này có đủ uy đức lớn ,thần lực không gì sánh, hay ở Thế gian hành các việc thù thắng như : Lay trời động đất, dời núi lấp biển, việc hơn thua trong binh qua đều theo ý chí mà thành. Tiền của, lụa là, vàng, báu chất cao như núi.Hay mãn các nguyện mong cầu về :quan vị, kỹ nghệ, phòng giặc cướp, trị bệnh…. Hình tựợng Thiên Nữ, thân khoác áo bào đỏ tía, thắt dây lưng bằng vàng, đi giày ủng màu đen.Tay phải cầm hoa sen, tay trái cầm Bảo Châu Như Ý, diện mạo đoan chánh sáng tỏ”.

Thầy truyền là :“Thiên Nữ có Chủng Tử Hùm ( ) , Tam Ma Gia Hình là Viên Ngọc Báu ”.

PHÁP THÊN NỮ BẢO TẠNG

Thắng Câu Chi Viện ghi là: Tượng Thiên Nữ Bảo Tạng dài 2 thước 5 thốn. Quán Tưởng như sau :

Trên Đàn có cái Tòa bằng lụa ngũ sắc, bên trên có chữ Tra ( ) biến thành viên ngọc báu.Viên ngọc báu biến thành Thiên Nữ: đầu đội mão hoa, trang điểm bằng hoa đoan chánh, thân khoác áo bào đỏ tía, thắt dây lưng bằng vàng, đi giày ủng màu đen. Tay phải cầm hoa sen, taytrái cầm viên ngọc Như Ý, tỏa ánh hào quang, có uy đức không gì sánh bằng.

Tay trái co ngón giữa, ngón vô danh, đem ngón cái đè lên móng 2 ngón, duỗi thẳng ngón trỏ và ngón út để ngang trái tim. Tay phải cầm tràng hạt.Niệm Chân Ngôn :

- Án, tra la khư, tra la khư, tỳ đa la nễ, sa-phạ ha.

Tụng đủ một ngàn biến, các Nguyện sẽ như ý.

BÀI TÁN THIÊN NỮ BẢO TẠNG

Vidiệu thù thắng khó luận bàn

Sáng như mặt trời tỏa hương thơm

Dung nhan đoan chánh thật hiếm có

Da mềm láng mịn tựa Đâu La ( LoạiGấm Lụa quý )

Hơi thơm từ miệng tràn nhân thế

Khiến ai gặp gỡ cũng nhìn trông ( chiêmngưỡng)

Một lòng mong cầu người như vậy

Thường thêm cung kính, Tâm chẳng nghi

Tuy đây là việc của Thế Gian

Rốt ráo mau thành Đạo Thanh Tịnh

Hay khiến người Trì đến Bồ Đề

Cùng nhau tu tập Vô Thượng Giác

Chọn ngày mồng năm tháng năm.Trước đó 7 ngày, 14 ngày, 21 ngày, 100 ngày hoặc 39 ngày tính đến ngày mồng năm tháng năm thì vừa vặn đủ, ắt Pháp ấy đều thành.

Riêng 8 câu Chú, tụng mỗi câu 21 biến trước khi tác Pháp thì Đồ Tượng 3 ghi nhận hơi khác với Kinh Bản:

1- Án, hưng bà la đế tra, cấp cấp cấp, sa-phạ ha.

2- Án, chiết la đế tra ma gia, sa-phạ ha.

3- Án, lặc xoa nađế tra, sa-phạ ha.

4- Án, bà bà lệ nhạ đế, sa-phạ ha.

5- Án, bột nhạ la đế tra, sa-phạ ha.

6- Án, dược xoa, dược xoa tế na, sa-phạ ha.

7- Án, già đế tỳ chiết duệ, hồng phấn, sa-phạ ha.

8- Án, chiết lặc nagia đáo bà đế tra, sa-phạ ha.

Nay phối hợp với phần dịch âm của Kinh Bản, chúng tôi xin phục hồi 8 câuChútrên là :

1- OM( Cảnh giác ) HAVAH( Lời kêu gọi ) RASITA( Hương vị đem lại tâm tư tình cảm ) JAH JAH( Câu triệu, kêu gọi khiến cho mau đến ) SVÀHAØ ( Quyết định thành tựu ).

2- OM( Quy mạng ) ‘SVA( Tự tánh ) RASITA( Hương vị đem lại tâm tư tình cảm ) MÀYÀ ( Huyễn hóa ) SVÀHAØ ( Quyết định thành tựu ).

3- OM( Quymạng ) LAKSANA( Hình tướng ) ‘SITA( Thon thả mảnh mai ) SVÀHÀ( Thành tựu tốt lành ).

4- OM( Quy mạng ) BHAVA( Hữu, sự có, sự được ) ALA( Đấng Tối Cao, Thánh Thần ) JATI( Phát sanh ) SVÀHAØ ( Quyết định thành tựu ).

5- OM( Cảnh giác ) BHUJA( Chi phối , lãnh đạo, thưởng thức ) RASITA( Hương vị đem lại tâm tư, tình cảm ) SVÀHAØ ( Quyết định thành tựu ).

6- OM( Quymạng ) YAKSA( Dược Xoa ) YAKSASENA( Dược Xoa Quân ) SVÀHÀ( Thành tựu tốt lành ).

7- OM( Quy mạng ) GATE( Thú hướng, lối nẻo ) VI’SVAYE( Nhóm xảo diệu ) HÙM( Khủng bố ) PHAT( Phá bại ) SVÀHÀ( Thành tựu tốt lành ).

8- OM( Quymạng ) SVARA( Âm thanh ) NAYA( Lý thú ) RASITA( Hương vị đem lại tâm tư tình cảm ) SVÀHÀ(Thành tựu tốt lành).

Ấn của 8 câu Chú trên là Ấn Ngọc Hoàn:Tay trái co ngón giữa, ngón vô danh. Đem ngón cái đè lên móng 2 ngón tayấy. Duỗi thẳng ngón trỏ và ngón út, đặt ngang trái tim.

25/10/1999


MẬT TẠNG VIỆT NAM SỐ 54

PHÁP THIÊN NỮ BẢO TẠNG ĐÀ LA NI

Mật Tạng Bộ 4 .No 1282 ( Tr342 - Tr 343 )

Việt dịch :Huyền Thanh

Bấy giờ Tam Thập Tam Thiên chủ, Thiên Vương Ma Hê Thủ La, cùng với các chúng Thiên nữ khen ngợi Thiên Vương Bảo Tạng tên là “ TraLa Khư ” có uy đức lớn, sắc đẹp, sức lực không thể sánh, hay ở thế gian làm các việc thù thắng như lay trời, động đất, nghiêng núi, lấp biển, binh qua ý chí thắng lợi mà thành. Tiền của, tơ lụa, vàng bạc tích chứa như núi cao, là chỗ thọ dụng của thế gian.Liền nói chú là:

- Án – Tra La KhưTraLa Khư Tỳ Đa La Nể Sa Phạ ha .

( OM- DARAGA DARAGA VIDARADI SVÀHA ).

Nếu muốn thọ trì Pháp này.Trước tiên, vẽ một hình Thiên Nữ.Pháp Nê Dàn, thì trước ngày mồng 5 tháng 5 cho đến ngày mồng 7, ăn loại cháo hiếm có, trường trai, ý muốn đến nơi nào thì nên tĩnh khiết.

Phàm hành Pháp này thì chẳng kêu gọi mà Thiên Nữ tự đến, xong nên chí thành gìn giữ tư tưởng và biểu hiện ra bên ngoài.Pháp này ắt nên ở đêm mồng 5 tháng 5 thọ trì liền thành tựu quả.Đêm ngày 5 tháng 5 tập trung tư tưởng, gìn giữ suy nghĩ, luôn luôn tụng Chú 1008 biến, chẳng được gấp gáp, cho đến canh ba thì tâm liền hôn ám giống như ngủ. Thiên nữ sai các Thị nữ đến khiến cho cùng thử chơi đùa, ắt đừng nói chuyện.Đến lần thứ hai, thì vị Thiên Nữ Tra La Khư ấy tự đến tương kiến.Người tác pháp nầy, chẳng được đứng lên, mà qùy dài chắp tayđỉnh lễ hai lạy.

Thiên Nữ ấy liền hỏi: “ Ngươicần điều gì ? ”

Người tác pháp đó tùy miệng đáp: Cầu xin hảo lạc, trường sinh bất tử, thông linh, tình cảm thuộc vạn sự của thế gian, suốt đời phụng sự Thiên Nữ, sanh ý muốn làm vợ chồng.

Thiên Nữ nghe xong, rất là hoan hỷ.Ngay đêm đó liền cùng giao hợp, các nguyện như ý.Nếu muốn làm chị em thì sự việc ắt phải rõ ràng, đừng sinh hồ nghi.

Đàn Pháp ấy rộng 2 khuỷu tay, mặt bằng phẳng, dùng phân bò xoa đất, liền dùng bột hương tô đất. Dùng 5 màu vẽ, lại lụa 5 màu đều dài 2 thước 1 tấc ( Đơnvị đo lường của Trung Hoa ). Ở bên trong Đàn, đặt toà ngồi cho Thiên Nữ.Đem các loại như, mật, sữa, trái cây vào một cái bát. Hoa, bánh 5 màu đều có 5 cây.Gom chunghạt dẻ, luá mạch thiêu đốt hoa tùy ý cúng dường.

Về Pháp vẽ Tượng.Thân Thiên Nữ dài 2 thước 5 tấc, đầu đội mão hoa, tô điểm hoa cực diệu đoan chính.Thân mặc áo bào màu đỏ thẩm, giây lưng vàng, giày ủng màu đen.Tay phải cầm hoa sen, taytrái cầm trái châu Như Ý. Thiên Nữ đó có hào quang đoan chính mà họa sư ở thế gian chẳng có thể vẽ được, ắt cần có hảo thủ, chẳng được tranh luận trả giá.Lúc tương ứng thì tâm thông linh tự tại, tiền của lụa là dư thừa, liễu đạt tất cả họa phước, trong Quan vị cao tuân, nam nữ qúy tiện thảy đều vui vẻ.

Phàm có di động, thì tất cả qủy thần đều đến nghinh đón như kính Thiên Quan; sợ hãi chiêm ngưỡng, liền được vô ngại cho đến nghề nghiệphảodiệu của thế gian đều tùy ý mà thành.

Khi có người ác đến hãm hại, liền hô lên: “Giặc cướp” thảy đều được tự trói tự đánh. Nói “thả”, liền thả.Sự chết chóc, mất mát của thế gian đều như nghiệm.Vạn bệnh trước mắt, khởi ý trì thì đều khỏi bệnh.

Lại có 8 chân ngôn sau, phải nên thanh tịnh, tắm gội, mặc áo mới sạch.Ở trước hình tượng Phật, đều tụng 21 biến, sau đó tác pháp.

1- Chân ngôn thứ nhất :

- Án- Dữ bà la đế tra cấp cấp saphạ ha.

2- Chân ngôn thứ hai :

- Án- Phạt la đế tra lợi ma nala Sa phạ ha. 

3- Chân ngôn thứ ba :

- Án- Lặc xoa nađế tra sa tra Sa phạ ha.

4- Chân ngôn thứ tư :

- Án- Bà bà lệ nhạ đế tra Saphạ ha.

5- Chân ngôn thứ năm :

- Án- Bột nhạ la đế tra Saphạ ha.

6- Chân ngôn thứ sáu :

-Án- Dược xoa dược xoa đế nabà Sa phạ ha.

7- Chân ngôn thứ bảy :

- Án- Già đế tỳ phạt duệ hồng phấn tra Saphạ ha.

8- Chân ngôn thứ tám :

- Án- Phạt lặc nagia lợi bà đế tra Sa phạ ha.

Đem ngón giữa, ngón vô danh co lại, để ngón cái đè móng hai ngón, duỗi ngón trỏ với ngón út antrên trái tim.Tay phải cầm tràng hạt niệm chân ngôn. Đây gọi là Ấn Ngọc Hoàng .

23/ 5 / 1996

---o0o---

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/09/2011(Xem: 6372)
Ngài không có bàn thờ, kinh sách, chẳng có gì cả. Ngài đã học thuộc lòng tất cả các kinh sách và bài cầu nguyện trong những năm tu học tại Sera, nên Ngài không cần những thứ này.
28/09/2011(Xem: 7546)
Khi bạn thực hành Chulen, bạn tự hóa hiện như một bổn tôn, sau đó bạn dùng viên thuốc và quán tưởng rằng bạn đang thọ dụng những tinh túy của ngũ đại, không khí...
28/09/2011(Xem: 6153)
Tôi đã học ngữ pháp và thơ, rồi tiếng Phạn. Tôi đã học môn nghiên cứu về âm thanh. Có một môn Phạn ngữ khác mà bạn ghép các chữ cái để tạo thành các mật chú.
25/08/2011(Xem: 9520)
Trì tụng minh chú Om mani padme hum [Án ma ni bát di hồng] là một việc rất tốt. Tuy vậy, khi tụng chú cần phải nhớ nghĩ đến ý nghĩa của lời chú, vì sáu âm này mang ý nghĩa thâm sâu quảng đại vô cùng. Âm thứ nhất, OM, là tổng hợp của ba mẫu tự A, U và M, tượng trưng cho thân miệng ý ô nhiễm của người tụng chú, đồng thời cũng tượng trưng cho thân miệng ý thanh tịnh của Phật đà...Tất cả chư Phật đều là đã từng là chúng sinh, nhờ bước theo đường tu nên mới thành đấng giác ngộ; Phật Giáo không công nhận có ai ngay từ đầu đã thoát mọi ô nhiễm...
22/08/2011(Xem: 6351)
Bất cứ một hoàn cảnh khó khăn nào ta có thể gặp ở trung tâm Phật giáo, nơi thuyết pháp hay trong đời ta nói chung, ta sẽ chuyển hóa nó trong tâm mình.
31/05/2011(Xem: 16541)
Bộ Mật Tông - Gồm có 4 tập - Soạn giả: Thích Viên Đức
22/05/2011(Xem: 6130)
Tất cả mọi pháp hiện hữu, bắt đầu là cái Tôi, chẳng là gì cả ngoại trừ là những thứ được định danh. Không có các uẩn, không có thân, tâm, ngoại trừ những gì đã được ta quy gán.
06/05/2011(Xem: 14010)
Khi truyền bá rộng rãi sang châu Á, Phật giáo thành công khi vượt qua một số vấn đề nổi bật từ những giới hạn về ngôn ngữ trong một số trường hợp phải phiên chuyển thành một ngôn ngữ rất khác với ngôn ngữ nói của Ấn Độ. Giáo lý đạo Phật được truyền đạt bằng lời nói qua vô số ngôn ngữ và tiếng nói địa phương. Còn Kinh tạng, khi đã được viết ra, lại được phiên dịch thành hàng tá ngôn ngữ ngay cả trước thời kỳ hiện đại. Do vì nguồn gốc lịch sử không cho phép các học giả dùng ngôn ngữ nói trong việc giảng dạy, bài viết này sẽ tập trung vào những ý tưởng được viết ra, nhằm khảo sát việc truyền dạy qua lời nói chỉ trong thời kỳ Phật giáo Ấn Độ.
24/03/2011(Xem: 5851)
Mật tông hoặc Mật giáo có gốc từ chữ Sanskrit Tantra, phiên âm Hán Việt là Đát-đặc-la. Đôi khi Tantra cũng được dịch là Mật pháp và kinh sách Tantra được gọi là Mật kinh. Nguyên nghĩa của Tantra là “mở rộng, nối tiếp, kéo ra từ khung dệt, liên tục trong một thể thống nhất”. Đây là một thuật ngữ trừu tượng, khó dịch nên trong ngôn ngữ Tây phương, hầu hết các tác giả để nguyên chữ Tantra.
13/03/2011(Xem: 11653)
Trong tác phẩm “Một đời người, một câu thần chú” này, người viết cố gắng thể hiện những quan kiến Mật giáo về pháp môn trì niệm thần chú Mani từ nhiều khía cạnh khác nhau.