Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

08. Thiền

22/02/201115:45(Xem: 3093)
08. Thiền

PHÁP NGỮLỤC
ThíchĐức Niệm
PhậtHọc Viện Quốc Tế Xuất Bản Phật Lịch 2535 - 1991

8. THIỀN

Kínhthưa quý vị,

Hômnay tôi trình bày về pháp môn thiền. Thiền là một pháp môn tu trong muôn ngànpháp môn tu của đạo Phật.

Gầnđây, người ta hướng về thiền rất nhiều. Đến nỗi thiền như một hấp dẫn lực, mộtthứ thời trang. Nhất là đối với tuổi trẻ, khi nghe đến thiền như là một nhânduyên kỳ ngộ, thích thú, bị quyến rủ ngay. Họ không ngần ngại rủ rê lôi kéo đitu thiền, mà chẳng cần biết loại thiền gì.

Chínhvì cái tính chất hấp dẫn của thiền, khiến cho người ta có thể nghĩ rằng, đây làthời đại thiền; thiền là đại diện cho Phật giáo!? Nên không cần đem tâm trí suyxét phân minh, khi cầu học thiền. Miễn nghe ai nói nơi nào có tu thiền là họnhào tới. Nhất là khi nghe nói ngồi thiền thì hồn được đi vào thế giới thiênthai. Ngồi thiền thì được cái cảm giác trong người lành lạnh, nong nóng, âm ấm,cảm thấy siêu việt nọ kia. Ngồi thiền thì thấy khói xanh đỏ nơi lổ tai, xì hơilổ mũi. Ngồi thiền thì được xuất hồn, ngao du đến các cõi bồng lai tiên cảnh.Ngồi thiền mà cảm thấy ngứa nơi ót, lạnh xương sống, nóng nơi đầu, vỡ xương sọ,đó là được tiếp điện từ cõi trên, hoặc ông thánh nọ bà tiên kia giáng nhập chothấy cái này, cho biết cái kia, xuất hồn chỗ nọ. Tu thiền là con đường tu tắt,thành Phật gấp! Ôi thôi đủ luận điệu, đủ phương cách để mê hoặc quyến rủ. Họkhông cần suy xét người dạy thiền là hạng người nào. Nên những kẻ nhẹ dạ hiếukỳ, thiếu kiến thức căn bản giáo lý đạo Phật dễ lầm tưởng đó là chân thậtthiền, liền say đắm.

Họđắm say đến nỗi bỏ công việc làm ăn, bỏ nhà cửa vợ con, để theo học tập cáiloại thiền mê hoặc lòng người đó. Thật là tội nghiệp! Trước kia tôi cũng hiếukỳ, lại bị bạn bè rủ rê, nên đã có một dạo tôi đi theo tu học thiền với mộtngười trần tục, mà đội lớp tự xưng là Phật là thánh. Ông ta bảo: "Ngồithiền không nên tưởng đến Phật, Bồ Tát chi hết. Chỉ cần tưởng nhớ đến ông ta làđủ, là sẽ thấy cảm giác nóng sau ót, lạnh xương sống, ấm nơi đầu v.v... đó làlúc sắp được xuất hồn, lên thiên giới dạo chơi nơi tiên cảnh. Xuất hồn đâukhông thấy, mà tôi chỉ thấy những bạn tôi say mê theo lối thiền kỳ quặc này,bây giờ có đứa trở thành ngây dại, có đứa lờ đờ tàng tàng điên điên, có đứa bỏvợ bỏ chồng bỏ con, có đứa gia đình phân tán không còn hạnh phúc như xưa. Ôngta dạy đừng tụng kinh. Tụng kinh thì hao hơi, tổn khí, bệnh hoạn. Họ còn dámđại ngôn bảo rằng, khi có lâm nạn, bịnh hoạn, hoặc chết, cứ tưởng niệm đến họlà họ đến cứu ngay. Họ là Phật là Bồ Tát.

Thưaquý vị,

CóPhật nào Bồ Tát nào tự xưng tự hào như vậy đâu? Xin quý vị xem kinh Thủ LăngNghiêm đọan nói về Đại thừa Tâm giới thì sẽ thấy họ là ma mị tà nhơn, hiện hìnhmưu đồ phá hoại Phật giáo.

Tôithấy hiện tượng mất thần trí bình thường của các bạn tôi. Tôi nghe lời họ nóikỳ quái, tôi bắt đầu lo ngại e dè và khủng khiếp. Tôi nhớ lại lời quý Thầy ngàyxưa khi ở quê nhà dạy thiền mà tôi đã nhiều lần xin theo học. Khi giảng Thiền,quý Ngài dẫn lời Phật, lời Tổ, chứ chưa bao giờ dám lỗ mãng tự xưng thay thếPhật, đừng niệm Phật tụng kinh. Niệm danh hiệu tôi (kẻ tự xưng là Phật, làThánh) là đủ rồi! Thật quá sức hàm hồ lộng ngôn!!! Các bậc Thầy tôi ở Việt Namcũng như Trung Hoa, mỗi lần giảng kinh đều dẫn lời Phật lời Tổ và đều khuyênngười niệm Phật tụng kinh tham thiền để được định tâm kiến tánh. Như Ngài ThiềnTổ Tông Bổn dạy rằng:

HữuThiền vô Tịnh Độ vạn nhơn đắc nhứt

VôThiền hữu Tịnh Độ vạn nhơn thất nhứt

HữuThiền hữu Tịnh Độ du như đới giác hổ

Hiệnthế vi nhơn sư, lai sinh tác Phật Tổ.

Tạmdịch:

Tuthiền mà không tu Tịnh Độ thì vạn người đắc đạo một người.

Khôngtu thiền mà tu Tịnh Độ thì vạn người chỉ có một người không đắc đạo.

Nếutu cả thiền và Tịnh Độ thì chẳng nào như cọp có sừng,

Hiệnđời làm thầy người, đời sau làm Phật làm Tổ.

Trongcâu thứ ba của bài kệ trên mang ý nghĩa cọp vốn đã mạnh rồi, vốn là chúa tể sơnlâm ,mà lại có thêm sừng nữa thì không ai địch nổi. Cũng như tu thiền lại thêmtu Tịnh Độ hay tu Tịnh Độ lại thêm tu thiền, mà thường gọi là Thiền Tịnh songtu, cả hai hỗ trợ cho nhau thì dễ dàng mau chóng đạt đến kiến tánh thành Phật,chứng quả vô thượng Bồ đề.

Xưanay chư Phật Tổ các Bồ Tát lấy kinh nghiệm bản thân dạy đời. Các Ngài cũng đãtrải qua những năm dài tháng rộng với thời gian đăng đẵng khổ luyện, tuyệt dứttất cả phàm tánh, lòng tịnh trong sạch sáng như trăng rằm. Nên kinh nghiệm củacác Ngài là kinh nghiệm chứng đắc chân lý muôn thuở. Lời dạy của các Ngài làlời dạy chánh pháp ngọc vàng. Đời sống của các Ngài là thể hiện chân lý chánhpháp. Nên các Ngài là tấm gương sáng soi, là mực thước muôn đời cho chúng sanhnhân loại biết hướng đời mình trên đường thánh thiện giác ngộ.

Hànhgiả có thể lấy một bài kệ, một câu nói của chư Phật chư Tổ, các Bồ Tát để ngàyngày suy nghiệm, để tự kiểm thảo lấy mình, để hành trì thực sống với chínhmình, thế cũng đủ chứng đạo. Như vua Lê Dụ Tôn không con, lòng lo âu cho ngôivàng sẽ không người kế vị. Nhà vua đi chùa cầu tự, tìm gặp các cao tăng thiềnđức để học hỏi đạo thiền. Một hôm nhà vua đến tham bái Hương Hải thiền sư,trong khi đàm đạo, nhà vua hỏi:

-Bạch Tôn Đức, ý Phật Tổ ra làm sao? Nghĩa lý thiền đạo như thế nào? Làm saođược kiến tánh đạt đạo?

HươngHải thiền sư thản nhiên hiền hòa mỉm cười không đáp ngay câu hỏi của nhà vua,nhìn ra vườn trúc cành lá rung rinh như đùa giỡn với mây trời gió thoảng, khiêmtốn chậm rãi, Ngài đáp:

Phảnvăn tự kỷ mỗi thường quan

Thẩmsát tư duy tử tế khan

Mạcgiáo mộng trung tầm tri thức

Đươnglai diện thượng đổ sư nhan.

Tạmdịch:

Nghelại điều mình thấy mỗi ngày,

Suyđi nghĩ lại kỹ càng hay

Chớtìm tri thức trong cơn mộng

Cóthế mới mong gặp được Thầy.

ThiềnTăng không đáp thẳng câu hỏi, cũng không giải thích ý nghĩa nghi vấn của nhàvua. Bởi thiền là ly văn tự ngữ ngôn, lấy tâm truyền tâm, trực chỉ chơn tâm,kiến tánh thành Phật.

Ởpháp hội Linh Sơn, Đức Phật truyền trao cành hoa và y bát cho thiền tổ Ca Diếpchỉ bằng nụ cười. Ở chùa Thiếu lâm, Đạt Ma tổ sư truyền y pháp cho Thần QuangHuệ Khả chỉ bằng tiếng hét "đem tâm đến đây ta an cho". Ở núi Hoàngmai, Ngũ tổ Hoàng Nhẫn truyền tâm pháp cho Lục tổ Huệ Năng chỉ bằng cây thiềntrượng gõ vào đầu cối giã ba cái.

Vậyý nghĩa Thiền là ở chỗ nào?

-Thiền nói cho đủ là Thiền na, tàu dịch là tĩnh lự. Nghĩa là hành giả tu thiềnvới cõi lòng không vướng bận, không mong cầu. Tâm hồn phải thanh thoát, thầntrí phải sáng suốt để đạt đến chỗ vô tâm. Cho nên căn bản ban sơ của hành giảtu thiền là quán hơi thở, chú tâm vào hơi thở, khéo nhiếp phục năm căn (mắt,tai, mũi, lưỡi, thân) không để tâm duyên đắm với cảnh trần (sắc, thinh, hương,vị, xúc), ngăn dứt ý tưởng loạn động, nhiếp phục tâm ý định vào một chỗ để chotâm thuần nhất một niệm. Như đèn dầu được bóng che không bị chao động theo gió.Một khi ý thuần nhất, tâm không loạn thì huệ phát sanh. Trí huệ phát sanh đếncùng cực, không còn tâm phân biệt nhơn ngã pháp là chứng đạo. Ấy là kiến tánhthành Phật.

Mụcđích của người tu thiền là xoay lại tâm mình mà quán sát kiểm điểm để gạn bỏvọng tâm. Nên người tu thiền thường áp dụng phương pháp hồi quang phản chiếu đểcho tâm định huệ sanh, sanh kiến tánh thành Phật. Một khi đã kiến tánh thànhPhật thì không còn vô minh phiền não, không còn sanh tử luân hồi. Tâm đã thểnhập pháp giới tánh.. Tâm Phật với tâm mình dung thông làm một thể. Như kinhHoa Nghiêm nói: "Tâm - Phật - chúng sanh, cả ba không sai khác".

PhùVân thiền sư đã nói với vua Trần Thái Tôn, khi nhà vua này chán tình đời ngangtrái, lặng lẽ vào núi tìm thầy cầu đạo. Trước nhu cầu sinh tồn của triều đìnhvà sự an nguy của quốc dân, vào thời điểm đó, thiếu vua Trần Thái Tôn thì triềuđình và quốc dân bất ổn.

Trongtinh thần vị tha với ý niệm tâm vua an lạc là quốc dân an lạc, nên Phù Vânthiền sư nói với nhà vua: "Trên núi không có Phật, Phật tại tâm. Hãy lấytâm thiên hạ làm tâm mình". Vậy, tâm là Phật, Phật là tâm. Tâm là đạo, đạolà thiền. Tu thiền là đoạn dứt trần duyên cảnh giới ngoại tại để trở lại vớichân tánh nội tâm của mình, gọi là hồi quang phản chiếu.

Mộtkhi nội tâm thực tại sáng suốt bao la, dung thông vô ngại, không vướng bận mảytrần, thì lúc đó mới đích thực trở về cội nguồn tâm linh, kiến tánh giác ngộđạt đạo. Vậy tu thiền là xoay về nội tâm, khai triển trí huệ để đọan diệt vôminh chấp trước, nên tổ Đạt Ma nói với Huệ Khả:

Ngoạitức chư duyên,

Nộitâm vô đoan,

Tâmnhư tường bích,

Khảdĩ đạt dạo.

Cónghĩa là:

Ngoàidứt các duyên,

Trongkhông nghĩ tưởng,

Tâmnhư tường vách,

Mớivào được đạo.

Tuthiền là tu đến chỗ vô tâm, tâm không phân biệt. "Vô tâm thì đạo có cơ dễtầm".

Nhưthế, nếu ai tu thiền mà nói có được ơn trên thiên giới chỉ điểm, quý nhơn giángđiển, hoặc tiếp được ngoại điển của ông thần này, bà chúa nọ, cô thánh kia, BồTát khác, hoặc nói tôi đã nói chuyện với Phật này Phật kia, thì biết đó là mathiền, ngoại đạo thiền, tà thiền chứ không phải là chơn chánh thiền của Phậtgiáo. Hoặc giả có kẻ xưng Phật, Thánh, Bồ Tát giảng thiền hay truyền dạy luyệntu pháp môn kỳ lạ là biết ngay đó chính là ma, ma nữ, quyến thuộc của ma, tànhơn hiện hình chứ không phải chánh thống Phật pháp. Ai tin theo kẻ đó là gieotrồng chủng tử ma, kết thân quyến với tà thần yêu mị. Nên nhớ cõi trần thế tànhiều hơn chánh. Nên cổ đức thường nói: "Phật cao nhứt xích, ma cao nhứttrượng" là ý nghĩa này vậy.

Trênđây là vài ý nghĩ thô thiển trao gởi đến các Phật tử thường về Phật Học ViệnQuốc Tế tu học hằng tuần, để tránh khỏi tẩu hỏa nhập ma hoặc rơi vào màn lướiquyến thuộc của các loài yêu tinh ma mị.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn