05. Gốc Sinh Tử

29/11/201115:17(Xem: 6751)
05. Gốc Sinh Tử
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 3
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương
xuất bản 2004

(5)

GỐC SINH TỬ

Vầng dương vừa khuất non cao

Chim bay về tổ lao xao họp đoàn

Tiều phu hối hả về làng

Lắng im rừng núi, ngân vang chuông chùa

Bước chân theo cánh gió đưa

Rời căn lều cỏ thiền sư lên đường

Đến khu nhà cạnh bìa rừng

Thăm gia đình nọ đã từng quy y

Nhờ thầy hướng dẫn mọi bề

Vợ chồng quấn quýt cận kề thương nhau.

Sau tuần trà nước mở đầu

Thiền sư bèn thốt đôi câu tâm tình:

"Vợ chồng con kết duyên lành

Lâu nay quyết chí tu hành tốt thay

Tu thân, tích đức hàng ngày

Lứa đôi yên ấm, ta đây rất mừng!

Ngày mai ta sẽ lên đường

Phải đi giáo hóa ở phương xa rồi

Hôm nay dặn lại đôi lời

Hàng ngày niệm Phật, suốt đời đừng quên

Nhớ thân này chẳng vững bền

Một người bệnh nặng gần bên tử thần

Người kia cần phải tĩnh tâm

Dốc lòng hộ niệm mười phân chu toàn

Đọc kinh tiếp dẫn râm ran

Đến giờ phút cuối nhẹ nhàng tiễn đưa,

Đừng nên than khóc dây dưa

Làm người hấp hối tâm tư chập chờn

Luyến lưu, rối loạn, bất an

Vãng sinh cõi tịnh vô vàn khó khăn

Khó mà giải thoát bản thân

Những lời ta dặn phải cần khắc ghi".

Sáng hôm sau thầy ra đi

Vợ chồng đưa tiễn chia ly cuối làng.

Hai mùa thu lá úa vàng

Vợ chồng hoà thuận ngập tràn yêu thương

Cùng nhau bố thí thập phương

Sáng luôn niệm Phật, tối thường tụng kinh

Dốc lòng tạo chút phước lành

Xóm làng cảm mến lòng thành lứa đôi.

Một ngày chồng bị bệnh rồi

Thương hàn, đau nặng tới hồi nguy nan

Chạy thầy, chạy thuốc tràn lan

Thảy đều vô vọng chẳng làm gì hơn

Chồng bên cửa tử chập chờn

Vợ thời tuyệt vọng, nghĩ buồn tình xưa

Giờ đây rối loạn tâm tư

Quên lời dặn của thiền sư mất rồi

Thấy chồng mê mệt im hơi

Thương chồng, tủi phận, gục nơi bên chồng

Khóc than kể lể nỗi lòng

Chồng bèn mở mắt lặng trông thất thần

Đây lần cuối thấy người thân

Bên tai tiếng vợ vô ngần bi thương

Cảm tình ân ái lại vương

Mắt nhìn vợ quý hai hàng lệ rơi

Xuôi tay, nhắm mắt, lìa đời

Và rồi thần thức xuất nơi mắt người,

Vợ đang cúi xuống tận nơi

Mặt chồng gục khóc có rời xa đâu

Cho nên thần thức chui mau

Vào ngay mũi vợ thành sâu tức thì.

Sau khi chồng đã mất đi

Lễ tang chôn cất mọi bề êm xuôi

Cửa nhà hiu quạnh vắng người

Vợ ngồi cô độc buồn đời khóc than

Mũi kia đau nhức vô vàn

Sâu ngày mỗi lớn nhức càng thảm thê.

*

Thiền sư một bữa trở về

Ghé thăm đệ tử, chẳng hề hay tin

Đón thầy, vợ kể nỗi niềm

Ôn tồn thầy mới giảng liền cho nghe:

"Nín mau đừng khóc thương chi

Có sinh có tử lạ gì xưa nay

Bỏ đi thân khổ đau này

Như là quẳng gánh nặng ngay bên rừng

Đừng than khóc? Hãy vui mừng!

Nén trong lòng nỗi nhớ thương riêng mình

Tìm khuây trong cảnh tu hành

Nếu hoài vương vấn chút tình ái ân

Kiếp sau thời lại sẽ gần

Gặp nhau thêm nữa xoay vần mãi thôi

Trả vay, vay trả luân hồi

Oan gia kết chuỗi muôn đời chẳng ngưng!"

Vợ nghe xong hết đau thương

Tình cờ khịt mũi thấy văng ra ngoài

Một con sâu lớn và dài

Cơn đau trong mũi tức thời hết mau

Vợ đưa chân định giẫm sâu

Đạp sâu cho chết! Bấy lâu gây phiền!

Thiền sư lên tiếng ngăn liền:

"Sinh linh sát hại chớ nên bao giờ,

Ngoài ra con chẳng thể ngờ

Rằng con sâu đó chính là chồng con!"

*

Lạ lùng vợ mới hỏi luôn:

"Bạch thầy! Khi sống chồng con tu hành

Luôn niệm Phật, mãi làm lành

Tạo sao khi chết lại thành loài sâu?"

Thiền sư nghe nói lắc đầu:

"Bao lời ta dặn con đâu nhớ gì

Chồng con lúc sắp ra đi

Lãng quên chánh niệm cũng vì thương con

Vì dây luyến ái vẫn còn

Cho nên thần thức chập chờn lao đao

Nào đâu vượt được lên cao,

Chỉ thành sâu bọ chui vào mũi con

Công tu phút chốc chẳng còn

Phước theo dòng ái ân tuôn trôi rồi

Thoát sao khỏi kiếp luân hồi

Dây tình cột chặt nổi trôi xoay vòng."

Nói cùng sâu thầy mủi lòng:

"Con thường tinh tấn, có công tu hành

Lẽ ra được hưởng phước lành

Vãng sinh cực lạc hay sinh cõi trời

Chỉ vì luyến ái lứa đôi

Mà gây nghiệp chướng để rồi thành sâu!"

Sâu nghe, im lặng hồi lâu

Ăn năn, hổ thẹn, buồn rầu nằm co

Thiền sư bèn chú nguyện cho.

Nhờ khi còn sống chồng tu nhiều rồi

Sau khi quằn quại một hồi

Sâu kia tắt thở êm xuôi tốt lành

Sau này thần thức tái sinh

Thoát loài sâu bọ, vào nhanh cõi người.

Vợ kia hối hận nguyện lời

Dốc lòng tinh tấn sống đời chân tu

Theo lời dạy của thiền sư

Nhân gieo tốt đẹp đã đưa phước lành

Sau này cũng được vãng sinh

Vào nơi tịnh thổ an bình mãi thôi.

*

Ngẫm xem đời sống con người

Có đâu ngắn ngủi nhất thời mà thôi

Mở đầu nào phải trên nôi

Để rồi chấm dứt ngay nơi nấm mồ,

Lọt lòng từ lúc trẻ thơ

Đến khi nhắm mắt giã từ nhân sinh

Chỉ là một buổi bình minh

Chuyển qua đêm tối thực tình khác đâu

Chuỗi thời gian lặng trôi mau

Không đầu, không cuối, chẳng bao giờ ngừng.

(phỏng theo bản văn xuôi của TẮC PHƯỚC)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 556)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 772)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1764)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1260)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1615)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1212)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1790)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3353)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4599)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4167)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S