Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

B. Ngài Thiền Tâm và tư tưởng Tịnh Độ

17/07/201200:58(Xem: 4196)
B. Ngài Thiền Tâm và tư tưởng Tịnh Độ
TƯ TƯỞNG TỊNH ĐỘ TÔNG

HT Thích Như Điển biên soạn

VII. Tịnh Độ Tông của Việt Nam

B.- Ngài Thiền Tâm và tư tưởng Tịnh Độ

Năm 1979 tôi chủ trương xuất bản báo Viên Giác và cho đến nay 2011, trải qua gần 33 năm, Viên Giác đã ra được 6 số bộ cũ của năm 1979-1980 và bắt đầu từ năm 1981 đến nay ra bộ mới khổ A4 gồm 100 trang đánh máy và đã xuất bản đến số 186. Mỗi năm ra 6 số và mỗi lần phát hành độ 5.000 đến 6.000 số, gởi đi 42 nước trên thế giới. Riêng số Xuân mỗi năm có số lượng in nhiều hơn và số trang cũng gấp đôi số thường. Đây là một trong những tờ báo Phật Giáo ở ngoại quốc có số phát hành nhiều và sống lâu đời nhất.

Ban đầu chúng tôi rất khan hiếm bài vở. Vì lẽ cái gì cũng mới mẻ; nên phải viết thư xin bài; hay có ai đó quen biết cũng gợi ý để cho họ viết bài đóng góp cho Viên Giác. Ban Biên Tập thuở ban đầu chỉ có một vài người và năm nay kỷ niệm 33 năm Báo Viên Giác, số người cộng tác trực và gián tiếp cho Báo Viên Giác đã lên đến hằng trăm. Do vậy bài vở rất dồi dào, súc tích.

Thuở ban đầu Viên Giác chỉ trích đăng những bài giáo lý thuộc về Đạo Phật; một vài bài viết về quê hương và một ít tin tức của Giáo Hội ở trong cũng như ngoài nước.; nhưng sau nầy khi Viên Giác được nhiều người đọc ủng hộ thì Viên Giác chia ra nhiều mục rõ ràng như: Thư Tòa Soạn, mục về Tôn Giáo, mục về sáng tác thơ văn, tùy bút, trang tiếng Đức, trang Thiếu Nhi, Tin Thế Giới, Tin Việt Nam, trang Y Học, Hộp Thư Viên Giác, Phương Danh Cúng Dường, Cáo Phó, Tin Vui v.v… Một Ban Biên Tập đã hình thành và vị nào có trách nhiệm cho phần của mình thì lo cho phần ấy. Riêng tôi vừa làm Chủ Nhiệm và vừa phải lo phần Tôn Giáo cho tờ báo; nên tôi đã đi tìm sách vở để có đăng hằng kỳ. May sao lúc ấy, độ năm 1981, 82, 83, 84 tôi đã trích đăng “Lá Thư Tịnh Độ” của Liên Du và nhiều độc giả rất thích về mục nầy. Trong thời gian ấy báo Viên Giác cũng gởi đến cho các trại tỵ nạn tại Đông Nam Á Châu để cho đồng bào Việt Nam chờ đi định cư tại các nước thứ ba có cơ hội đọc. Một hôm tôi nhận được một lá thư từ đảo gởi qua, cho biết là có dịp đọc được báo Viên Giác và có xem qua mục “Lá Thư Tịnh Độ” của Liên Du và Thầy Hải Quang xưng là cháu của Hòa Thượng Thiền Tâm. Còn sách ấy nhan đề là “Long Thơ Tịnh Độ” chứ không phải là “Lá Thư Tịnh Độ”. Tôi đọc vậy thì biết vậy, chứ thật ra trước khi tôi đi du học Nhật Bản vào năm 1972 cũng chưa có dịp gặp Ngài Thiền Tâm ở Việt Nam; nên đã chẳng rõ biết bút hiệu của Ngài. Từ đó về sau Viên Giác đã cho đăng hết tập sách nầy. Đây là cái duyên ban đầu để chúng tôi biết về Hòa Thượng Thích Thiền Tâm.

Sau nầy có đọc những sách dịch của Ngài như: “Tịnh Độ Thập Nghi Luận”; “Niệm Phật Thập Yếu; “Kinh Niệm Phật Ba La Mật” v.v… và nhất là sau nầy Thượng Tọa Hải Quang đã đến Hoa Kỳ, trú tại chùa Pháp Hoa ở Arizona thì có liên lạc nhiều hơn và đã nhận được nhiều sách vở in lại của Cố Hòa Thượng Thích Thiền Tâm cho Thư Viện chùa Viên Giác Hannover. Thuở ấy và ngay cả bây giờ, đây là những tài liệu rất quý giá bằng Việt ngữ để cho những ai tu theo pháp môn Tịnh Độ có tài liệu để nghiên cứu.

Trên trang nhà quangduc.com có đăng Tiểu Sử và công trạng của Ngài; tiện đây tôi xin tải đăng để tất cả chúng ta cùng đọc.

“Hòa Thượng pháp danh là Thiền Tâm, Pháp hiệu Liên Du, Pháp tự Vô Nhất, quý danh Nguyễn Nhựt Thăng, xuất gia vào năm Ất Dậu (1945) với Đại Lão Hòa Thượng Thích Thành Đạo tại chùa Sắc Tứ Linh Thứu (Xoài Hột, Mỹ Tho) thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 43.

Hòa Thượng sanh vào năm Ất Sửu (1925) tại xã Bình Xuân, quận Hòa Đồng, tỉnh Gò Công (hiện nay là tỉnh Tiền Giang). Thân phụ là Cụ Ông Nguyễn Văn Hưng, thân mẫu là Cụ Bà Giác Ân Trần Thị Dung. Ngài là người con trai thứ ba trong số bốn con trai của gia đình. Năm 1948 thọ giới Sa Di; năm 1950 thọ Cụ Túc giới tại giới đàn “Ấn Quang “ Sàigòn.

Năm 1951 Ngài hoàn tất chương trình Trung Đẳng Phật Học tại Phật Học Đường Liên Hải và Ấn Quang.

Năm 1954 Ngài hoàn tất Cao Đẳng Phật Học tại Phật Học Đường Nam Việt với hạng “tối ưu”.

Năm 1955-1964 Ngài nhập thất tịnh tu qua các trụ xứ tại Cái Bè (Mỹ Tho) và Vang Quới (Bến Tre).

Năm 1964 Ngài tuân lệnh triệu hồi của Giáo Hội, Ngài trở về Sàigòn đảm nhận việc thành lập và giữ chức vụ Giám Đốc viện “Cao Đẳng Chuyên Biệt Phật Học” tại An Dưỡng Địa, Phú Lâm (tức là Chùa Huệ Nghiêm hiện nay). Đồng thời Ngài phụ trách Phân khoa Phật Học tại Đại Học Vạn Hạnh (Giáo Sư dạy Duy Thức học). Cũng như làm Giáo Thọ sư tại các Ni Trường Dược Sư, Từ Nghiêm.

Năm 1967 Hòa Thượng về Đại Ninh kiến lập Hương Quang tịnh thất, chuẩn bị ẩn tu.

Năm 1968 Hòa Thượng chính thức hoàn trả chức vụ lại cho Viện Hóa Đạo, về hẳn tại Ấp Phú An, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, bế quan tịnh tu.

Năm 1970-1974 qua sự tha thiết thỉnh cầu của tứ chúng, Ngài tạm thời ra thất, kiến lập Hương Nghiêm Tịnh Viện (cho chư Tăng) và Phương Liên Tịnh Xá (cho chư Ni). Mở khóa tu học “Tịnh Độ Chuyên Biệt” tại 2 đạo tràng nầy trong 3 năm liên tiếp.

Năm 1975-1992 Hòa Thượng hoàn toàn viễn ly với bên ngoài, bế quan tịnh tu “vô thời hạn”. Ngài dự biết trước ngày giờ vãng sanh hơn 6 tháng.

Đến 4 giờ sáng ngày 21 tháng 11 âm lịch năm Nhâm Thân (1992) Hòa Thượng cho gọi Thị Giả và cũng là Trưởng Tử của Hòa Thượng là Ni Sư Thích Nữ Thanh Nguyệt, triệu tập các môn đồ, pháp quyến vào trong tịnh thất hộ niệm.

Đúng 6 giờ 15 phút sáng Ngài lưu lại bài kệ sau cùng và an nhiên thị tịch ngay trên bản tọa (chỗ ngồi). Ngài hưởng thọ tuổi đời 68 và Tăng lạp 48; hạ lạp 42.

Ngài là một bậc Cao Tăng đắc đạo và được vãng sanh về Cực Lạc trong thời cận đại nầy. Ngoài các công nghiệp Tịnh Độ ra, Hòa Thượng còn có lưu lại một hạt “ngũ sắc Kim Cang nha xỉ xá lợi” (một răng cấm 5 màu còn nguyên vẹn cứng như kim cương, được bảo toàn kỹ lưỡng).

Hòa Thượng đã lưu lại cho đời một số kinh sách (đại lược như sau):

A.- Phẩm dịch:

- Đại Bi Tâm Đà La Ni kinh

- Quán Vô Lượng Thọ kinh

- Đại Nhựt kinh

- Hương quê Cực Lạc

- Tịnh Độ Thập Nghi Luận

- Thiện ác Nhân quả Báo ứng kinh

- Nhân quả Luân hồi tạp lục ký

- Tam Bảo cảm ứng yếu lược lục

- Lá Thư Tịnh Độ

- Niệm Phật Ba La Mật kinh

- Liên Tông Thập Tam Tổ

- Tịnh Độ Hoặc Vấn

B.- Soạn Thuật:

- Duy Thức học cương yếu

- Phật học tinh yếu (1, 2,3)

- Tịnh học tân lương (1, 2, 3)

- Niệm Phật Thập Yếu

- Mấy điệu sen thanh (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7)

- Tây phương Nhật khóa

- Tịnh Độ Pháp Nghi

- Mật Tạng Phật Giáo Việt Nam

- Niệm Phật Tam Muội

- Những Ngày Chay …

Riêng quyển “Niệm Phật Thập Yếu” được xem như là quyển sách gối đầu - hoằng dương Tịnh Độ có giá trị bậc nhất hiện thời.

C.- Trứ tác:

- Thiền Tâm thi tập (gồm hơn 1.000 bài thơ đạo đủ các thể loại)

- Ẩn tu ngẫu vịnh, bá bát thi (108 bài “Vịnh ẩn tu”).

Hòa Thượng là một vị Đại Tôn Sư hoằng dương cả hai pháp môn Tịnh Độ cùng Mật Tông lừng lẫy nhất của Phật Giáo Việt Nam thời hiện đại…”.

Đọc qua Tiểu Sử của Ngài chúng ta thấy được những điểm chính yếu như sau:

Điểm thứ nhất là trong 48 năm xuất gia hành đạo của Ngài, Ngài đã dành ra 3 lần tịnh tu nhập thất, tất cả là 20 năm. Lần thứ nhất 10 năm; kể từ năm 1955-1964. Lần thứ 2 ba năm từ năm 1968 đến 1970 và lần thứ 3 Ngài đã quyết bế quan vô thời hạn trong thời gian 7 năm kể từ 1975 đến năm 1992.

Gần phân nửa đời tu, Ngài đã ở trong thất. Chắc chắn đây là thời gian Ngài tịnh tu, dịch kinh, viết sách, hạ thủ công phu, cho đến ngày viên mãn. Nếu Ngài không có 20 năm trong thất ấy, chúng ta ngày nay chắc không được lợi lạc gì nhiều. Vì chính công hạnh tu hành của Ngài cũng như những sáng tác của Ngài là một giá trị tâm linh cao cả, khó gì có thể sánh được.

Thứ hai là Ngài đã chuyên tu về pháp môn Tịnh Độ; cho nên những kinh điển Ngài phiên dịch từ chữ Hán đều có liên quan đến Pháp nầy. Ngay cả những sáng tác, soạn thuật, Ngài cũng đã chọn những danh từ đều có liên hệ với hoa sen, cũng như cảnh giới Tây Phương Cực Lạc.

Thứ ba là Ngài không từ nan trọng trách Giáo Hội đã giao phó để dạy dỗ Tăng Ni, Phật Tử và tạo lập đạo tràng để cho Tăng Ni có nơi tu học.

Đây có thể gọi là ba trách vụ chánh, khi hành hạnh Bồ Tát ở thế giới khó độ nầy, Ngài đã ra tay tế độ quần sanh để đến ngày viên mãn, Ngài đã biết trước được giờ ra đi cả 6 tháng và còn lưu lại xỉ nha xá lợi nữa. Sau khi Ngài viên tịch có người đệ tử hiệu là Bảo Đăng ở Hoa Kỳ có ghi lại những điều cảm ứng và hành trạng của Ngài trong sách “Vô Nhất Đại Sư”. Nếu quý vị nào cần tham khảo, xin vào mạng để truy cập.

Theo Tiểu Sử của Ngài như trên đã cho biết, chúng ta tìm hiểu về quyển “Niệm Phật Thập Yếu” được xem là sách gối đầu giường cho những người tu Tịnh Độ. Vậy chúng ta hãy dành thời gian đi vào nội dung của sách như sau:

LỜI PHI LỘ

Bản thảo quyển nầy vừa viết xong, có vài ba Đại Đức hỏi mượn luân phiên nhau xem, rồi cật vấn:

- Chúng tôi thấy chư vị hoằng dương về Thiền Tông, dường như có ý bài xích Tịnh Độ. Chẳng hạn như trong quyển “Sáu Cửa Vào Động Thiếu Thất” có câu: Niệm Phật tụng kinh đều là vọng tưởng. Còn trong đây lại bảo: Môn Tịnh Độ hợp thời cơ, gồm nhiếp ba căn, thông cả Thiền, Giáo, Luật, Mật. Xem ra cũng dường như có ý cho rằng Tịnh Độ là độc thắng, sự việc ấy như thế nào?

Đáp: Không phải thế đâu. Mỗi môn đều có tông chỉ riêng. Các bậc hoằng dương tùy theo chỗ lập pháp của mình, bao nhiêu phương tiện thuyết giáo đều đi về những tông chỉ ấy. Như bên Thiền lấy: Chỉ thẳng lòng người, thấy tánh thành Phật, làm Tông chỉ. Tịnh Độ môn lấy: Một đời vãng sanh, được bất thối chẳng làm tông. Bên Hoa Nghiêm lấy: Lìa thế gian, nhập pháp giới làm tông. Thiên Thai giáo lấy: Mở, bày, trung đạo làm tông. Pháp Tướng môn lấy: Nhiếp môn pháp về Chân Duy Thức làm tông. Mật Giáo lấy: Tam mật tương ưng, tức thân thành Phật làm tông. Và Luật môn lấy: Nhiếp thân ngữ ý và Thi La tánh (giới tánh) làm tông.

Cho nên lời nói bên Thiền ở trên, không phải bác Tịnh Độ, hay bác niệm Phật tụng kinh, mà chính là phá sự chấp kiến về Phật và Pháp của người tu. Nếu niệm Phật và tụng kinh là thấp kém, sai lầm, tại sao từ Đức Thế Tôn cho đến chư Bồ Tát, Tổ Sư đều ngợi khen khuyên dạy tụng kinh niệm Phật ? Nên biết, Vĩnh Minh Thiền Sư, tương truyền là hóa thân của Phật A Di Đà, mỗi ngày đều tụng một bộ Pháp Hoa. Lại, Phổ Am Đại Sư cũng nhân tụng kinh Hoa Nghiêm mà được ngộ đạo. Sự thuyết giáo của Tịnh Độ cũng thế, không phải bác bỏ phái Thiền Tông, chỉ nói là chỗ đặc sắc thiết yếu của bản môn, để cho học giả suy xét tìm hiểu sâu rộng thêm, mà tùy thích tùy cơ, chọn đường thu nhập.

Lại, mỗi môn tuy tông chỉ không đồng, nhưng đều là phương tiện dẫn chung về Phật tánh. Như một đô thành lớn có 8 ngõ đi vào, mà ngõ nào cũng tập trung về đô thị ấy. Các tông đại khái chia ra làm hai, là Không môn và Hữu môn. Không môn thì phương tiện lý tánh đi vào. Hữu môn từ phương tiện sự tướng đi vào. Nhưng đi đến chỗ tận cùng thì dung hội tất cả. Sự tức lý, lý tức sự; tánh tức tướng, tướng tức tánh. Nói cách khác: Sắc tức là không, không tức là sắc; không và sắc chẳng khác nhau. Cho nên khi xưa có một vị Đại Sư tham thiền ngộ đạo; nhưng lại mật tu về Tịnh Độ. Lúc lâm chung Ngài lưu kệ phó chúc cho đại chúng, rồi niệm Phật vãng sanh. Một vị Thiền giả bỗng lên tiếng hỏi: Cực lạc là cõi hữu vi, sao Tôn Đức lại cầu về làm chi ? Đại Sư quát bảo: Ngươi nói vô vi ngoài hữu vi mà có hay sao? Thiền giả nghe xong chợt tỉnh ngộ. Thế nên Thìền và Tịnh đồng về một mục tiêu. Hữu môn cùng Không môn tuy dường tương hoại mà thật ra tương thành cho nhau vậy.

Đến khi nói: Tịnh Độ hợp thời cơ, gồm nhiếp ba căn và thông cả Thiền, Giáo, Luật, Mật chính là lời khai thị của chư cổ đức như: Liên Trì, Triệt Ngộ, Ngẫu Ích, Kiên Mật. Các Đại Sư nầy là những bậc long tượng trong một thời, sau khi tham thiền ngộ đạo, lại xưng minh về lý mầu của Tịnh Độ pháp môn. Như Triệt Ngộ đại sư, trong tập Ngũ Lục bảo rằng: Một câu A Di Đà, tâm yếu của Phật ta. Đọc quán suốt 5 thời, ngang gồm thâu 8 giáo. Và Kiên Mật đại sư sau khi quán sát thời cơ, trong Tam Đại Yếu cũng bảo: Đời nay tham thiền chẳng nỡ không kiêng Tịnh Độ, phòng khi chưa chứng đạo bị thối chuyển, há chẳng kinh sợ lạnh lòng? Một câu A Di Đà, nếu không phải là bậc thượng căn, đại triệt, đại ngộ, tất không thể hoàn toàn đề khởi. Nhưng với câu nầy, kẻ hạ căn tối ngu vẫn chẳng chút chi kém thiếu. Thế nên, thuốc không quý tiện, lành bệnh là thuốc hay; pháp chẳng thấp, hợp cơ là pháp diệu. Tịnh Độ với Thiền Tông thật ra chẳng thấp cao hơn kém. Nhưng luận về căn cơ, thì Thiền Tông duy bậc thượng căn mới có thể được lợi ích; còn môn Tịnh Độ thì gồm nhiếp cả ba căn, hạng nào nếu tu cũng đều dễ thành kết quả. Luận về thời tiết thì thời mạt pháp nầy, người trung, hạ căn nhiều, bậc thượng căn rất ít. Nếu muốn đi đến thành quả giải thoát một cách chắc chắn, tất phải chú tâm về Tịnh Độ pháp môn. Đây do bởi lòng đại bi của Phật, Tổ; vì quán thấy rõ thời cơ muốn cho chúng sanh sớm thoát nỗi khổ luân hồi; nên trong các kinh luận đã nhiều phen nhắc nhở. Điều nầy là một sự kiện rất quan yếu và hết sức xác thật.

Tuy nhiên, như trong kinh nói: Chúng sanh sở thích và tánh dục có muôn ngàn sai biệt không đồng, nên chư Phật phải mở vô lượng pháp môn mới có thể thâu nhiếp hết được. Vì vậy Tịnh Độ tuy hợp thời; song chỉ thích ứng một phần, không thể hợp với sở thích của tất cả mọi người, nên cần phải có Thiền Tông và các môn khác để cho chúng sanh đều nhờ lợi ích và Phật Pháp được đầy đủ sâu rộng. Cho dù đã tùy căn cơ, sở thích của mình mà chọn môn Tịnh Độ, thâm ý của Tác Giả vẫn mong cho Thiền Tông và các môn khác được lan truyền rộng trên đất nước nầy. Còn những môn khác, nếu đem lại cho chúng sanh dù một điểm lợi ích nhỏ nhen nào, bút giả cũng xin hết lòng tùy hỷ. Tóm lại, Hữu môn và Không môn nói chung, Thiền Tông và Tịnh Độ nói riêng, đồng cùng đi về chân tánh. Tuy hai mà một, đều nương tựa để hiển tỏ thành tựu lẫn nhau và cũng đều rất cần có mặt trên xứ Việt Nam, cho đến cả thế giới.

Mấy vị Đại Đức sau khi nghe xong đều tỏ ý tán đồng. Nhân tiện, bút giả lại trần thuật bài kệ của Tây Trai lão nhơn để kết luận và chứng tỏ người xưa cũng đã từng đồng quan điểm ấy:

Tức tâm là độ lý không ngoa

Tịnh khác Thiền đâu, vẫn một nhà

Sắc hiển trang nghiêm miền diệu hữu

Không kiêm vô ngại cõi hằng sa

Trời Tây sáng đẹp màu châu ngọc

Nguyện Phật bao la đức hải hà

Ngoảnh lại đường tu, ai sớm tỉnh?

Nỗi thương ác đạo mỗi vào ra

Thích Thiền Tâm

cẩn chí

Đây là lời tựa của cuốn "Niệm Phật Thập Yếu“. Cuối lời tựa không để năm tháng; nhưng ở "Lời sau cùng“ của sách thì ghi là Ngày Phật Đản 2515. Tức cách đây 40 năm (2555-2515) nghĩa là sách nầy được viết và in hoàn thành năm 1971.

Đây là quyển sách tương đối quan trọng. Vì là thời gian thứ 2 sau 13 năm nhập thất tất cả của cố Hòa Thượng Thích Thiền Tâm. Trong lời tựa nầy chúng ta thấy rõ rằng: Ngài chọn pháp môn Tịnh Độ là chánh; nhưng những pháp môn khác, Ngài vẫn dung hòa để đi đến một điểm chung là giác ngộ và thoát ly sanh tử luân hồi. Điều nầy cũng dễ hiểu thôi. Vì thuở ấy vào năm 1971, 1972 Việt Nam chúng ta bị chiến tranh loạn lạc, Thiền Tông đang trong thời kỳ khôi phục lại và Mật Tông cũng vậy. Do đó Ngài không muốn làm phật lòng những pháp hữu của Ngài đương đại; cho nên mới trung dung như vậy; nhưng nếu chúng ta nhìn lịch sử phát triển Tịnh Độ Tông của Trung Hoa thời Đường hay Tịnh Độ Tông Nhật Bản thời Ngài Thân Loan thì khác hẳn. Các vị Đạo Sư là Tổ Sư Tịnh Độ chủ trương phát triển không ngừng nghỉ, đến điểm cao tột của Tịnh Độ, khiến cho các Tông Phái khác ganh tị nên mới tấu lên triều đình (Nhật); do vậy Tịnh Độ Tông phải điêu đứng một thời vào thế kỷ thứ 13 (xin xem chương về Ngài Thân Loan và Ngài Pháp Nhiên). Từ đó các vị Đạo Sư nầy chủ trương rõ ràng rằng: Thiền là Thiền; Tịnh là Tịnh. Chứ không có cái chung được. Chủ trương như thế nó cũng có cái lý do của nó; nhưng xin thưa, mỗi người sinh ra trong đời nầy tùy theo trong từng thời gian hiện thế để mang đạo vào đời; cho nên quý Ngài mới phương tiện nói ra những điều như thế. Vậy thì đúng, sai nó chỉ có tính cách tương đối và tuyệt nhiên không có vấn đề tuyệt đối qua nhận thức trên.

Sau đây là mục lục chi tiết

Chương 1: Niệm Phật phải vì giải thoát sanh tử

Mục A. Môn Tịnh Độ, một pháp hợp thời cơ

Tiết 1. Bắc Phương Phật Giáo với nhân duyên Tịnh Độ

Tiết 2. Những huyền ký về Tịnh Độ

Tiết 3. Sự chuyển hướng từ Thiền sang Tịnh

Mục B. Môn Tịnh Độ với vấn đề sanh tử

Tiết 4. Niệm Phật thế nào mới hợp với bản ý của Phật ?

Tiết 5. Tám mối khổ lớn

Mục C. Biết khổ phải ý thức đến sự giải thoát

Tiết 6. Quán về sự khổ luân hồi

Tiết 7. Muốn sớm thoát khổ, nên tu Tịnh Độ

Chương 2: Niệm Phật phải phát lòng Bồ Đề

Mục A. Luận về Bồ Đề tâm

Tiết 8. Ý nghĩa của Bồ Đề tâm

Tiết 9. Bồ Đề tâm với môn Tịnh Độ

Mục B. Những công hạnh của Bồ Đề tâm

Tiết 10. Làm thế nào để phát lòng Bồ Đề

Tiết 11. Những huấn thị về Bồ Đề tâm

Mục C. Ba sự kiện thiết yếu đối với Bồ Đề tâm

Tiết 12. Đường sanh tử nhiều nguy hiểm

Tiết 13. Cầu giải thoát ngay trong hiện kiếp

Tiết 14. Làm thế nào để thành mãn Bồ Đề tâm

Chương 3: Niệm Phật phải dứt trừ lòng nghi

Mục A. Lòng tin cửa vào Tịnh Độ

Tiết 15. Sự trọng yếu của lòng tin

Tiết 16. Những điều làm giảm phá niềm tin

Mục B. Giải thích các điều nghi

Tiết 17. Những mối nghi thông thường về Tịnh Độ

Tiết 18. Những mối nghi thiệp lý

Tiết 19. Những mối nghi căn cứ theo Kinh Điển

Tiết 20. Cần phá lối chấp nhị biện

Chương 4: Niệm Phật phải quyết định nguyện

Mục A. Nguyện thiết, động lực chánh của sự vãng sanh

Tiết 21. Tánh cách trọng yếu của sự phát nguyện

Tiết 22. Kinh văn khuyên phát nguyện

Tiết 23. Thử xét qua những tâm nguyện cầu vãng sanh

Mục B. Giới thiệu lời văn phát nguyện của tiền nhơn

Tiết 24. Văn phát nguyện của Ngài Liên Trì và Từ Vân

Tiết 25. Phát nguyện cần phải khẩn thiết

Chương 5: Niệm Phật phải hành trì cho thiết thật vãng sanh

Mục A. Môn niệm Phật với Tứ Đoạt và Tứ Hạnh

Tiết 26. Hạnh tinh chuyên cũng là điểm không thể thiếu

Tiết 27. Niệm Phật với Tứ Đoạt

Tiết 28. Niệm Phật với Tứ Hạnh

Mục B. Khái luận về các phương pháp niệm Phật

Tiết 29. Bốn môn niệm Phật

Tiết 30. Mười phương thức trì danh

Mục C. Đi vào đường lối thực hành

Tiết 31. Bốn môn Tam Muội

Tiết 32. Ba phần hành trì

Tiết 33. Cách đối trị hôn trầm tán loạn.

Chương 6: Niệm Phật phải đoạn tuyệt phiền não

Mục A. Lược đàm về tham phiền não

Tiết 34. Phương diện khai tâm

Tiết 35. Đối trị dục nhiễm

Tiết 36. Đối trị tham vi tế

Mục B. Lược đàm về sân phiền não

Tiết 37. Phương pháp đối trị sân

Tiết 38. Cách đoạn tuyệt thị phi

Tiết 39. Những lời khuyên răn về việc thị phi

Mục C. Lược đàm về si phiền não

Tiết 40. Nói chung về nghiệp si

Tiết 41. Phải diệt niệm buồn chán

Tiết 42. Cách đối trị tổng quát

Chương 7: Niệm Phật phải khắc kỳ cầu chứng nghiệm

Mục A. Nên định kỳ kiết thất

Tiết 43. Sự sống chết lớn lao

Tiết 44. Ý nghĩa kiết thất

Tiết 45. Cách đả thất

Mục B. Quyết định cầu nguyện

Tiết 46. Sự và lý

Tiết 47. Sự trì, lý trì

Tiết 48. Sự nhứt tâm, lý nhứt tâm

Mục C. Cảnh giới phát hiện

Tiết 49. Nội cảnh giới

Tiết 50. Ngoại cảnh giới

Tiết 52. Biện ma cảnh

Tiết 52. Các loại ma

Chương 8: Niệm Phật phải bền lâu, không gián đoạn

Mục A. Yếu điểm của môn Tịnh Độ

Tiết 53. Phải nhớ chí nguyện để tinh tấn

Tiết 54. Pháp môn thoát sanh tử trong một đời

Tiết 55. Niệm Phật chớ sợ cười, đừng chờ hẹn

Mục B. Làm thế nào niệm được bền lâu ?

Tiết 56. Phải tuần tự tiến tu

Tiết 57. Nên cầu tinh thuần, đừng tham nhiều

Tiết 58. Chớ để mất phần nhập phẩm

Mục C. Tịnh Độ, môn giải thoát đặc biệt

Tiết 59. Niệm Phật, phương pháp dễ tu

Tiết 60. Từ tán tâm sẽ đi đến tịnh tâm

Tiết 61. Mười phương Tịnh Độ và Đâu Suất Tịnh Độ

Chương 9: Niệm Phật phải an nhẫn các chướng duyên

Mục A. Nói lược về các duyên khảo

Tiết 62. Vài nguyên nhân của các chướng duyên

Tiết 63. Các duyên ma khảo

Mục B. Phương thức hóa giải chướng duyên

Tiết 64. Lời khuyên dạy của Cổ Đức

Tiết 65. Cách giữ vững tâm không thối chuyển

Mục C. Những gương về sự an nhẫn

Tiết 66. Sự an nhẫn của Cư sĩ Trần Vạn Dật

Chương 10: Niệm Phật phải dự bị lúc lâm chung

Mục A. Những dự bị cần thiết cho lúc lâm chung

Tiết 67. Dự bị về ngoại duyên

Tiết 68. Dự bị về tinh thần

Mục B. Sự khẩn yếu lúc lâm chung

Tiết 69. Thỉnh bậc tri thức khai thị

Tiết 70. Cách thức trợ niệm

Mục C. Điều khẩn yếu sau khi mãn phần

Tiết 71. Khi tắt hơi cho đến lúc truy tiến

Tiết 72. Những gương được mất về sự trợ niệm

Sách nầy tổng cả là 388 trang, gồm 10 Chương, 28 Mục A, B, C và 72 Tiết. Đây là một quyển sách tương đối được Cố Hòa Thượng Thích Thiền Tâm hướng dẫn cho hành giả tu theo Pháp môn niệm Phật người Việt Nam một cách rõ ràng, khúc chiết và hầu như được tổng hợp các tư tưởng của các vị Tổ Tịnh Độ Trung Hoa. Dĩ nhiên trong 10 điều cần yếu Niệm Phật để vãng sanh nầy nó không ra ngoài những gì chư Phật và chư Tổ đã dạy. Vì Cố Hòa Thượng Thích Thiền Tâm rất giỏi chữ Hán; cho nên nhờ những sách dịch ấy mà Ngài đã tạo thành tư tưởng của mình. Vả lại trong 20 năm tịnh tu, nhập thất, hành trì ấy; nhất là thời gian từ năm 1975 đến 1992, thời gian 7 năm sau cùng của đời Ngài ở Đại Ninh rất quan trọng. Thời gian ấy là thời điểm khó khăn nhất về mọi mặt, đã xảy ra trên quê hương Việt Nam của chúng ta; nhứt là về phương diện Tôn Giáo. Do vậy sự nhập thất, bế môn “vô thời hạn” ấy rất có giá trị cho việc vãng sanh biết trước giờ ra đi của Ngài.

Ở đây hậu học muốn cần biết một tư tưởng Tịnh Độ của Tịnh Độ Tông Việt Nam khác với Tịnh Độ Tông Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Tạng như thế nào; nhưng vẫn chưa tìm ra tư tưởng lớn ấy như Ngài Thân Loan, Pháp Nhiên (Nhật), Đàm Loan, Đạo Xước (Trung Hoa); Thầy của Ngài Tulku Thondrup (Tây Tạng) v.v… Do vậy Việt Nam chúng ta cần phải có một tư tưởng về Tịnh Độ đặc biệt như vậy. Tuy nhiên người Phật Tử Việt Nam vẫn lầm rằng: Ngài Thiền Tâm là Sơ Tổ của Tịnh Độ Tông Việt Nam; nhưng nếu kể từ Ngài Đàm Hoằng (455) đến Ngài Thiền Tâm (1992), giữa hai Ngài cách xa nhau là 1.537 năm lịch sử. Dĩ nhiên giữa thời gian ấy, nay mai những người tu theo pháp môn Tịnh Độ Việt Nam sẽ tìm ra được những vị khác đã kế thừa và có khai tông lập giáo rõ ràng trong khoảng hơn 1.500 năm lịch sử ấy thì lúc bấy giờ việc tôn phong các vị Tổ như Ngài Thiền Tâm cũng không muộn.

Dẫu sao đi nữa trong thế kỷ thứ 20, riêng nước Việt Nam chỉ có Cố Hòa Thượng Thích Thiền Tâm là người xiển dương Tịnh Độ theo khuôn mẫu của người Trung Quốc ở Việt Nam rất là rõ ràng và thành công hết mực. Nhờ vậy mà hậu thế mới có cơ hội tìm hiểu, tra cứu v.v…

Ba Kinh Tịnh Độ vẫn là 3 bản kinh gốc mà các vị Tổ Sư như Ngài Long Thọ, Thế Thân (Ấn Độ); Đàm Loan, Đạo Xước, Thiện Đạo (Trung Hoa); Nguyên Tín, Nguyên Không Pháp Nhiên, Thân Loan (Nhật Bản) hay Ngài Dodrupchen (TâyTạng) v.v… mỗi vị Tổ Sư của các quốc gia ấy đã rút tỉa ra được những phương pháp tu hay niệm Phật quán tưởng cho Phật Tử của họ. Riêng Việt Nam chúng ta chưa thấy được một vị Tổ Sư Tịnh Độ nào có được một cái nhìn rõ ràng như vậy, mà hầu như chỉ rập khuôn theo lối cũ của người Trung Quốc. Vì Trung Quốc không phải là Việt Nam. Hy vọng chúng ta sẽ tìm được tư tưởng nầy ở những nhà nghiên cứu khác.

Sau đây chúng ta điểm lại “Lời Sau Cùng” của sách Niệm Phật Thập Yếu của Cố Hòa Thượng Thích Thiền Tâm đã soạn sách đây 40 năm về trước vậy.

“Người xưa bảo: Trứ thơ nghi tại vãn niên". Đây ý nói: Viết sách nên đợi lúc tuổi già, tuổi càng lớn càng đầy đủ hiểu biết kinh nghiệm, quyển sách viết ra giá trị mới có thể được thành toàn. Bút giả chưa phải tuổi già mượn chỗ kinh nghiệm cùng sự hiểu biết tất còn nhiều thiếu sót; song vì cấp thiết trong sự lợi tha, lại chẳng biết vô thường sẽ đến ngày nào, nên gắng gượng xin đem chút ngu thành kiến dâng bày thức giả. Đây xin nói là trứ tác, song phần lớn đều rút lời trong kinh Phật, ý kiến của chư Cổ Đức cùng các bậc thiện tri thức mà góp thành. Nên thiết tưởng cũng có thể đem lại lợi ích phần nào cho bạn đọc.

Khi xưa Sở Thạch Đại Sư có hai câu thi :

Nhơn sanh bá tuế thất tuần hy

Vãng sự hồi quan tận giác phi !

Lời nầy thốt ra trong lúc Ngài đã thất tuần, ý than:

Kiếp người tuy nói trăm năm; nhưng sống được 70 tuổi cũng rất ít có.

Và tuổi đời 70 như Ngài khi quay nhìn việc cũ, thấy mình đều lỗi lầm.

Một bậc Cao Tăng mà còn tự phê kiểm dường ấy, thì hạng người phàm thường sự lầm lỗi biết là bao nhiêu? Cho nên khi bút giả nghĩ mình tội chướng còn dẫy đầy, tự độ chưa xong mà nói đến chuyện khuyên nhắc người, đôi lúc cũng hổ thẹn bàng hoàng ngập ngừng không muốn viết. Nhưng nghĩ lại danh từ khuyến hóa thật ra mình chẳng dám giương; nhưng lấy tánh cách người trong biển khổ gắng kêu nhắc đồng bạn cùng vượt qua biển khổ, để mong cho mình nhờ chút ảnh hưởng đó tiêu bớt phần nào tội chướng nên mới không ngần ngại.

Nhớ lại thuở đời nhà Minh bên Trung Hoa, ông La Điện có soạn bài thi Tỉnh Thế như sau:

Vội vội vàng vàng khổ nhọc cầu

Mưa mưa nắng nắng trải xuân thu.

Hôm hôm sớm sớm lo sinh kế,

Lãng lãng quên quên thấy bạc đầu.

Thị thị phi phi không kết liễu,

Phiền phiền não não những bi ưu.

Rành rành rõ rõ một đường đạo

Vạn vạn ngàn ngàn chẳng chịu tu.

Lời văn trên tuy thô sơ, dường như không có đạo lý chi sâu sắc; nhưng đã đem tất cả hành vi và chướng nghiệp trong đời sống của kiếp người mô tả ra rất rõ ràng. Ai có thể tránh khỏi khuôn khổ của bài thi trên đây và cố gắng tu hành, mới gọi là người đi trên đường giải thoát.

Ông La Điện sở dĩ có lời than trên đây, bởi thấy biển tục dễ chìm, đường tu khó bước. Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, Đức Phật dạy nhơn sanh có 20 việc khó :

- Nghèo khổ bố thí là khó

- Giàu sang học đạo là khó

- Xả thân quyết chết là khó

- Xem được kinh Phật là khó

- Nhịn sắc lìa dục là khó

- Sanh gặp đời Phật là khó

- Thấy tốt không cầu là khó

- Bị nhục chẳng giận là khó

- Có thế không ỷ là khó

- Gặp việc vô tâm là khó

- Học rộng nghiên tầm nhiều là khó

- Trừ bỏ ngã mạn là khó

- Không khinh kẻ chưa học là khó

- Tâm hành bình đẳng là khó

- Chẳng nói việc thị phi là khó

- Được gặp thiện tri thức là khó

- Thấy tánh học đạo là khó

- Tùy duyên độ người là khó

- Thấy cảnh không động là khó

- Khéo biết dùng phương tiện là khó.

Trong 20 điều trên, nơi đây chỉ xin nói lược qua ít chi tiết. Như nghèo khổ bố thí là khó; bởi nghèo khổ dầu muốn bố thí; nhưng ngặt vì có lòng mà thiếu sức. Nếu gắng gượng bố thí, tất ảnh hưởng đến sự sống của mình; nên mới thành khó. Hoặc như giàu sang học đạo khó; bởi giàu sang tu có sức bố thí, song lại bị cảnh dục lạc lôi cuốn, khó buông bỏ thân tâm để tu hành. Sau gặp đời Phật là khó, như luận Trí Độ nói: Ở thành Xá Vệ gồm 9 ức dân mà chỉ có 3 ức người được gặp thấy Phật, ba ức người tuy nghe danh tin tưởng nhưng không thấy Phật và 3 ức người hoàn toàn không được nghe biết cũng không được thấy. Đức Phật ở tại xứ nầy giáo hóa trước sau 25 năm, mà còn có 3 ức người (tức là 300.000 người) không thấy gặp nghe biết, thì những kẻ sanh nhằm đời Phật nhưng vẫn ở cách xa; hoặc sanh trước hay sau khi Phật ra đời, tất cơ duyên gặp Phật hoặc nghe Phật Pháp là điều không phải dễ. Nhưng tuy không gặp được Phật mà y theo chánh pháp tu hành, thì cũng như gặp Phật. Nếu không theo lời Phật dạy, dù ở gần Phật; vẫn là cách xa. Như khi xưa Đề Bà Đạt Đa là em họ của Phật, Tỳ Kheo Thiện Tịnh làm thị giả cho Phật 20 năm, vì không giữ đúng theo đường đạo, nên kết cuộc đều bị đọa địa ngục. Bà Lão ở phía Đông thành Xá Vệ, sanh đồng năm tháng ngày giờ với Phật; nhưng vì vô duyên nên không muốn thấy gặp Phật. Cho nên được thấy Phật nghe pháp, y theo lời dạy phụng hành, phải là người có nhiều căn lành phước đức nhơn duyên. Nay Như Lai đã nhập diệt; các bậc thiện tri thức thay thế Phật ra hoằng dương đạo pháp, nếu thân cận nghe theo lời khuyên dạy tu hành, tất cũng được giải thoát. Nhưng kẻ căn lành sơ bạc, gặp thiện tri thức cũng khó. Dù có duyên được thấy mặt nghe pháp, song nếu không hiểu nghĩa lý, hoặc chấp vào hình thức bên ngoài mà chẳng chịu tin theo, thì cũng đều vô ích. Theo kinh Phạm Võng và Hoa Nghiêm, muốn tìm cầu thiện tri thức, đừng câu nệ theo hình thức bên ngoài; như chớ chấp kẻ đó trẻ tuổi, nghèo nàn, địa vị thấp, hoặc dòng dõi hạ tiện, tướng mạo xấu xa, các căn chẳng đủ, mà chỉ cầu nguyện thông hiểu Phật Pháp, có thể làm lợi ích cho mình. Lại đối với bậc thiện tri thức chớ nên tìm cầu sự lỗi lầm, bởi vị đó có khi vì mật hạnh tu hành, vì phương tiện hóa độ, hoặc đạo lực tuy cao song tập khí còn chưa dứt; nên mới có hành động như vậy. Nếu chấp nê hình thức, tìm cầu lỗi lầm, tất không được lợi ích trên đường đạo.

Khi Phật còn tại thế, Ngài Ca Lưu Đà Di có thói quen miệng nhơi qua nhơi lại như trâu; Tỳ Kheo Ni Liên Hoa Sắc tánh ưa soi gương trang điểm; một vị Tỳ Kheo thích leo lên cây nhảy chuyền; một vị Tỳ Kheo khác nói với ai hay lên giọng xưng mi tao lớn lối. Nhưng sự thật 4 vị nầy đều đã chứng quả A La Hán cả. Bởi kiếp trước một vị làm thân trâu, một vị là kỷ nữ, một vị làm thân khỉ và một vị là dòng quý tộc Bà La Môn; nhiều đời ở trong hoàn cảnh đó, đến nay tuy đắc quả, song tập quán dư thừa hãy còn.

Lại như Đức Lục Tổ vì thấy người học Phật thời ấy ưa chấp nói theo kinh văn, không nhận ngay Phật tánh; nên mới thị hiện làm kẻ dốt; nên mới giả người điên cuồng, quần áo lôi thôi, ăn nói không chừng độ. Hư Vân Hòa Thượng vì thấy người thời mạt pháp, phần nhiều thân xuất gia, mà tâm không xuất gia; nên tuy đã ngộ đạo mà thường để râu tóc. Mật ý chỉ cho đạo không phải ở nơi đầu tròn áo vuông. Nhưng đương thời của các vị ấy, cũng có nhiều kẻ chê bai chỉ trích Đức Lục Tổ là dốt nát, Ngài Ngọc Lam là điên khùng, Hư Vân thượng nhân là người phạm quy luật thiền môn. Cho nên nhìn tìm bậc thiện tri thức khó là như thế. Mấy điều nầy người học Phật cũng nên hiểu, để bớt sự cố chấp và tránh lỗi khinh báng Tăng Ni. Còn các việc khó kia có thể suy ra để hiểu.

Tuy nhiên, khó và dễ là pháp đối đãi, trong khó có dễ, trong dễ có khó. Nếu nhận hiểu và quyết tâm thì các việc khó chẳng phải không thể làm được. Như thuở đời Phật Tỳ Bà Thi, có hai vợ chồng ông Kế La Di, nghèo đến đỗi mặc chung một chiếc khố, khi chồng đi làm vợ phải lõa thể đóng cửa ở nhà, vợ thay phiên đi làm thì chồng cũng y như vậy. Nhưng khi nghe chư Tăng đi khuyến hóa, bảo bố thí sẽ có phước tránh cảnh nghèo khổ, hai vợ chồng bàn luận nhau đem chiếc khố duy nhất ấy trao qua cửa sổ bố thí, đành cam cùng chịu lõa thể đóng cửa nằm chết trong nhà. Do sự quyết tâm làm lành đó, khiến cho vị Quốc Vương hay được, đem y phục và tiền của giúp đỡ. Từ đó về sau, mỗi đời sanh ra, hai vợ chồng đều có y phục che thân và sau cùng đều chứng đạo quả. Cho nên tuy nghèo khổ, bố thí là khó; nhưng nếu hiểu cái nhân nghèo nàn do bởi không bố thí, rồi quyết tâm cam chịu thiếu kém khổ cực, đem của riêng để tu phước, tất việc bố thí cũng có thể làm.

Lại như vua Thuận Trị nhà Thanh, lên ngôi hồi 6 tuổi, 24 tuổi từ bỏ vương vị, theo Ngọc Lâm quốc sư đầu Phật xuất gia. Làm một vị Hoàng đế giàu sang tột bực, ở lầu rồng gác phượng, ăn hải vị sơn hào, phi tần có cả hàng ngàn trang tuyệt sắc giai nhân, quyền lực nắm cả thần dân trong một nước, sự phú quý còn chi hơn ? Nhưng nếu nhận rõ sự phước lạc thế gian vô thường như mộng huyễn, cảnh chân như thường tịch mới thật là vui, thì tuy nói giàu sang học đạo khó, song đã quyết tâm, tất cũng có thể thực hành. Ngoài ra, nghèo khổ quá tu hành vẫn thật khó; nhưng nếu có chí cũng chẳng phải không làm được. Như thuở Phật Thích Ca còn ở đời, có một bà lão rất nghèo khổ, ở mướn cho người từ hồi 13 tuổi, đến 80 tuổi vẫn còn vất vả. Ban ngày làm việc không ngơi nghỉ, đêm nào cũng phải giã gạo đến canh hai; gà gáy sáng đã thức dậy quây quần bên cối xay bột. Hoàn cảnh cực nhọc không rảnh rỗi như thế, muốn tu hành là một sự vạn nan. Nhưng nhờ tôn giả Ca Chiên Diên khuyến hóa, nên mỗi buổi tối sau khi giã gạo xong, bà tắm rửa thay đổi y phục, ngồi tu niệm đến quá nửa đêm mới đi nghỉ. Nhờ sự quyết tâm cố gắng đó, mà sau khi chết bà được sanh lên làm vị Thiên Tử ở cung trời Dạ Ma.

Kính thưa quý vị! Thân người khó được, pháp Phật khó nghe. Nay quý vị được thân người và có duyên xem đến quyển nầy, tức là đã gặp được pháp môn thành Phật mầu nhiệm. Dù gặp phải hoàn cảnh khó khăn, xin quý vị nhận rõ duyên trời khổ mộng, quyết chí tu hành, để hoa sen báu bên trời Tây được nở thêm những hàng thượng thiện.

Ngày Phật Đản 2515

Thích Thiền Tâm

Kính phụng.

Phật Đản năm 2515 tức nhằm năm 1971. Nghĩa là cách đây 40 năm về trước. Lúc ấy Cố Hòa Thượng Thích Thiền Tâm được 46 tuổi đời và 26 tuổi đạo với 2 lần nhập thất tổng cộng 13 năm. Đây là một vị Đại Sư đặc biệt lỗi lạc của Việt Nam chúng ta thuở ấy.

Nếu ai đó đọc lời phi lộ, rồi 10 chương của sách cũng như lời cuối sách nầy thì thấy có cái gì đó cách xa thời gian. Vì lẽ ở lời cuối sách người ta muốn xem kết luận của tác giả như thế nào? nhưng đa phần tác giả đã đem chuyện bên Tàu và Ấn Độ về 20 việc khó làm để chấm dứt quyển sách thật là tiếc. Ước gì tác giả nói thêm về tư tưởng của Tịnh Độ Tông Việt Nam để người đọc nhận chân về giá trị tuyệt vời của quyển sách nầy. Do đó độc giả cảm thấy hụt hẫng sau khi gấp sách lại. Có lẽ lời cuối nầy viết vào thời gian năm 1971 là thời gian Đại Sư đa đoan với công việc kiến tạo Hương Nghiêm Tịnh Viện cho chư Tăng và Phương Liên Tịnh Xứ cho Ni; nên ít có thời gian để nhuận lại bản chính. Còn 10 điều cần yếu cho pháp môn niệm Phật ấy có lẽ Đại Sư đã viết trong thời gian nhập thất lần thứ 2 từ năm 1968 đến năm 1970; nên nội dung rất là sâu sắc.

Từ những điểm căn bản bên trên ở vào Chương thứ 8 tác giả sách nầy sẽ chọn ra một pháp tu cho riêng Phật Tử Việt Nam chúng ta khi phát tâm tu theo Pháp Môn Tịnh Độ; để từ đó chúng ta có cái nhìn thực tiễn cho một Việt Nam Phật Giáo ở vào thế kỷ thứ 21 nầy.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn