Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

C. Ngài Thân Loan và tư tưởng Tịnh Độ

17/07/201200:58(Xem: 4556)
C. Ngài Thân Loan và tư tưởng Tịnh Độ
TƯ TƯỞNG TỊNH ĐỘ TÔNG

HT Thích Như Điển biên soạn

IV. TỊNH ĐỘ TÔNG CỦA NHẬT BẢN

C.- Ngài Thân Loan (Shinran) và Tư Tưởng Tịnh Độ

Dựa theo tiểu sử của Ngài Nguyên Không Pháp Nhiên thì Ngài tịch năm 1212 tại Đại Cốc ở Đông Sơn; lúc ấy Ngài 80 tuổi và trước đó 4 năm; nghĩa là từ năm 1198-1211 Ngài được triều đình cho phép về ở Chùa Thắng Vĩ tại Nhiếp Tân.

Sau sự kiện hai cung nữ của Thượng Hoàng Hậu Điễu Vũ tên là Tùng Trùng và Linh Trùng xuất gia tu hành ở Đạo Tràng Niệm Phật tại Lộc Cốc đã dẫn đến việc tố cáo của Nam Đô Bắc Lãnh (tức là kinh đô phía Nam; ý nói những chùa thuộc vùng Nara và những người lãnh đạo ở hướng Bắc; ý nói các Tông phái Phật Giáo khác phát xuất từ núi Tỷ Duệ); nên cuối cùng đạo tràng Niệm Phật của Ngài bị đình chỉ, 2 vị Tăng bị xử trảm và một số bị ở tù, trong đó có Ngài Thân Loan; còn Ngài Pháp Nhiên lúc ấy đã 75 tuổi, bị lưu đày đến Tân Kỳ.

Như vậy sự kiện trên xảy ra vào năm 1207 tại Kyoto. Sự kiện nầy đánh dấu một bước ngoặc quan trọng của Tịnh Độ Tông tại xứ Nhật. Gồm những sự kiện như sau:

Sự kiện thứ nhất. Vì uy tín của Ngài Pháp Nhiên quá lớn; nên trên từ Vua Chúa cho đến thần dân đều ngưỡng mộ quy y. Từ đó những cung nữ trong triều đình mới có cơ hội làm quen với pháp môn niệm Phật. Đây là cái cớ “một hòn đá liệng chết 2 con chim cùng một lúc” để hạ uy tín của Ngài Pháp Nhiên.

Kế đầu tiên là vì các Tông phái khác tại Kyoto lúc bấy giờ hoạt động không được triều đình và dân chúng ủng hộ; cho nên sinh tâm ganh tị đố kỵ, rồi viết tấu trạng lên triều đình, cho rằng Pháp Môn Niệm Phật làm mê hoặc mọi người, mục đích chỉ đi dụ dỗ đàn bà con gái. Do vậy nên cấm pháp môn nầy lưu hành và truyền bá trong dân chúng.

Kế thứ hai là nữ sắc. Nhân việc hai cung nữ bỏ Thượng Hoàng để đi xuất gia là một nỗi đau lòng mất mát cũng như bẽ mặt của Thượng Hoàng. Do vậy có kẻ gièm pha thêm vào, thì đây là một cách hay nhất để có thể triệt hạ uy tín của Ngài Nguyên Không Pháp Nhiên.

Không những những người tiểu tâm tạo được cơ hội ấy rồi, mà còn cho đám đàn bà con gái đến trước Đạo Tràng Niệm Phật của Ngài chửi bới, vu khống, mạ lỵ chư Tăng đệ tử của Ngài Pháp Nhiên. Do vậy mà có 2 vị bị xử trảm, 4 vị bị lưu đày, trong ấy có Ngài Thân Loan.

Khi Ngài Thân Loan bị đày vào năm 1207 cùng với các vị huynh đệ khác thì Ngài được một người con gái con quan đem lòng yêu thương chăm sóc Ngài và cuối cùng đã trở thành chồng vợ và vị nầy sau khi sinh ra 5 người con, cũng đã xuất gia với pháp danh là Huệ Tín, cũng đã nổi danh một thời.

Sự kiện thứ hai là: Khi Ngài Pháp Nhiên 75 tuổi thì sự việc nầy xảy ra. Có lẽ Ngài đã ngán ngẩm với việc đời. Chuyện có nói không, chuyện không nói có; nên khi mối tình vương giả xảy ra giữa người con gái con quan và người đệ tử lớn của mình là Thân Loan, thì chính Ngài Pháp Nhiên đã khuyên là Thân Loan nên lập gia đình. Việc lập gia đình ấy có lẽ theo Ngài Pháp Nhiên là một dấu ấn ghi lại sự chơn thật chứ không phải dối trá, điêu ngoa khi làm việc đạo. Nghĩa là khi thương thì nói là thương, khi yêu thì cho cưới nhau, chứ không tránh né việc nầy.

Có lẽ đây cũng là một cuộc cách mạng trong thiền môn thuở ấy. Vì xưa nay, ai là người xuất gia, đều phải cắt ái ly gia, không vướng bận thê nhi, tử tức; thế mà đệ tử của Ngài Pháp Nhiên đã khởi đầu cho một giai đoạn lịch sử như vậy; quả là một người có cái dũng và cái yếu kém của con người. Do cả hai sự kiện nầy đi kèm cho nên Ngài Thân Loan tự gọi mình là “kẻ trọc đầu ngu ngốc Thân Loan” và là kẻ “Tăng chẳng ra Tăng, tục chẳng ra tục”. Thân Loan chấp nhận việc nầy và từ sự kiện nầy kéo theo liên tục không biết bao nhiêu sự kiện khác về sau nữa.

Khi lập gia đình thì sinh con đẻ cái và con cái vẫn ở trong chùa. Cho đến khi lớn lên lại kết hôn với những người có liên hệ với chùa và các vị trụ trì khác có gia đình. Đây là cái nhân đầu tiên của Tịnh Độ Chân Tông do Ngài Thân Loan chủ trương. Chỉ có Tông nầy là chính thức, còn các Tông phái khác vẫn còn vẫn nguyên quy củ của Thiền Môn như tự thuở nào. Mãi cho đến năm 1868 là năm mà Vua Minh Trị Duy Tân đất nước Nhật Bản theo đà tiến bộ và phát triển khoa học, kinh tế của người Tây phương. Cho nên Vua Minh Trị, một ông Vua theo Thần Đạo, vốn không có cảm tình nhiều với Phật Giáo, so với Thánh Đức Thái Tử lúc ban đầu; nên Vua Minh Trị đã ra một sắc lệnh vào năm 1868 bắt buộc chư Tăng phải lập gia đình và sống đời kinh tế tự túc để tăng gia việc sản xuất cho quốc gia. Từ đó đến nay (2011) hầu hết tất cả các Tông Phái khác như: Thiền, Mật, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa v.v… quý Thầy đều lập gia đình; giống như Tịnh Độ Chơn Tông của Ngài Thân Loan từ đầu thế kỷ thứ 13 vậy.

Nếu kể từ năm 1207 đến năm 1868 là 611 năm và nếu kể từ năm 1868 đến năm 2011 là 143 năm. Nếu tính chung từ 1207 đến nay (2011) là 804 năm chư Tăng Phật Giáo Nhật Bản đã, đương và sẽ sống một cuộc sống giữa thế tục và xuất thế. Họ làm nhiệm vụ giúp đỡ về vấn đề tâm linh cho người Phật Tử; giữa kẻ sống và người chết. Hầu hết họ không thọ giới Tỳ Kheo mà chỉ thọ giới Bồ Tát. Họ vẫn có chế độ xuất gia; nhưng là cha truyền con nối. Nếu vị Trụ Trì ấy không sinh con trai, chỉ sinh con gái; bắt buộc cậu rể phải xuất gia, học đạo theo Tông phái ấy rồi mới được làm chồng cô con gái của vị trụ trì kia. Sau nầy khi vị Trụ Trì viên tịch thì người rể sẽ thay thế nhiệm vụ trụ trì ngôi chùa ấy.

Vào ngày 22 tháng 2 năm 1972 lần đầu tiên tôi đặt chân đến Nhật Bản để du học, thấy cái gì cũng quá mới mẻ, hiện đại và ngỡ ngàng. Đến cuối năm 1972 tôi thi đậu vào Đại Học Teikyo (Đế Kinh) thuộc thành phố Hachioji. Lúc ấy tôi xin tá túc tại chùa Honryuji tại Hachioji thuộc phái Nhật Liên Tông. Từ đó tôi hiểu nhiều hơn về thực trạng của Phật Giáo Nhật Bản so với lúc ban đầu. Có lần tôi dùng tiếng Nhật để hỏi một vị Tăng trẻ Nhật Bản rằng: Ở Nhật Bản phái Tân Tăng bây giờ ra sao rồi ? Vị ấy đáp rằng: Ở đây đâu có ai mới, ai cũng đã cũ hết rồi. Ý vị ấy muốn trả lời rằng: Chư Tăng tại Nhật đã lập gia đình từ lâu rồi; đâu có gì mà cũ với mới.

Khi tôi viết tác phẩm nầy là vào cuối năm 2011 trên núi đồi Đa Bảo tại Úc Đại Lợi và năm 2012 tác phẩm thứ 59 nầy mới xuất bản đánh dấu 40 năm tôi ở nước ngoài gồm hơn 5 năm sống ở Nhật và hơn 34 năm sống tại Đức, tôi đã chứng thực được lời nói của vị Sư trẻ tại chùa Honryuji thuở ấy là đúng. Vì chỉ có mình là mới và bảo thủ cũng như lập dị, chỉ muốn đi con đường xưa theo truyền thống, chứ đâu có ai cũ mới gì.

Tôi đọc được một bài phóng sự trên báo Sàigòn tại Úc vào cuối năm 2011 tại Seyney có đăng một tin khá hài hước, khiến cho ai đó có óc tò mò cũng muốn xem thử ra sao. Đó là tin “Những nhà Sư Nhật Bản đăng báo tìm vợ”. Tôi đọc hết đoạn văn trên và tự suy nghĩ rằng: Vậy thì những Tu sĩ Nhật Bản đã được có quyền lập gia đình từ thế kỷ thứ 13 đến nay đã hơn 800 năm rồi mà cũng đâu có thể giải quyết được hết những chuyện khó khăn của việc lập gia đình để có thêm người nối dõi Tông Phong, Pháp Phái như các vị Tổ đã chủ trương; hoặc như Vua Minh Trị đã đề xướng là chư Tăng lập gia đình để tăng thêm đơn vị sản xuất cho quốc gia. Vấn đề ở đây là vấn đề sanh tử luân hồi; chứ không phải là vấn đề có vợ hay không có vợ. Đi xuất gia mà còn bận rộn con đường tại gia thì làm sao có thể siêu thoát dễ dàng được. Do vậy Tịnh Độ Chơn Tông ở Nhật do Ngài Thân Loan chủ trương rằng chỉ cần tu một đời là thành Phật, không quản là tại gia hay xuất gia. Nếu ai tin niệm câu Phật hiệu Nam Mô A Di Đà thì qua bổn nguyện lực của Đức Phật nầy, người ấy sẽ siêu sinh về Tịnh Cảnh.

Rồi Chơn Ngôn, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa v.v… hầu như tất cả các Tông Phái khác của Nhật đều chủ trương như vậy (xem thêm các sách mà tôi đã dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Việt như: Lâm Tế Tông xuất bản năm 2006; Tịnh Độ Tông xuất bản năm 2007; Tào Động Tông xuất bản năm 2008; Pháp Hoa Tông (Nhật Liên Tông) xuất bản năm 2009 và Chân Ngôn Tông xuất bản năm 2010); nghĩa là: tức thân thành Phật; một đời tu chứng v.v… Giáo lý ấy có thể khế hợp với người Nhật; nhưng một số người theo Phật Giáo Đông Phương khác chắc khó chấp nhận.

Giáo Hội Thiên Chúa Giáo La Mã thuộc địa phận nước Đức, mới đây vào năm 2010 họ có đại hội đồng tại Fulda; nhằm giải quyết những khó khăn nội tại của Giáo Hội nầy; đặc biệt là vấn đề đời sống độc thân của các Linh Mục. Vì suốt trong thời gian qua, Giáo Hội Thiên Chúa Giáo La Mã đã bị những tín hữu của họ công bố công khai trên báo chí và các phương tiện truyền thông khác nhau về đời sống không thanh tịnh của những chức sắc Tôn Giáo và các Giáo Hội tại Mỹ Châu, Úc Châu cũng như Âu Châu đã bỏ ra số tiền quá lớn, trên cả bao nhiêu tỷ đô la để đền bù cho việc nầy. Do vậy có một số các nhà Thần Học và những vị thuộc tư tưởng cấp tiến đề nghị hơi táo bạo là “nên chấm dứt đời sống độc thân của Linh Mục”. Dĩ nhiên là cũng có người tán đồng, bênh vực cho ý tưởng nầy; nhưng cũng còn lắm người bảo thủ chống đối lại. Dĩ nhiên là Giáo Hội La Mã cũng xem dò dư luận và vẫn luôn giữ lập trường của mình như xưa nay. Vì họ lý luận rằng: Như Giáo Hội Tin Lành Đức đã ly khai và các Mục Sư đã có gia đình; người nữ cũng được quyền làm Giám Mục v.v… nhưng những vấn đề tội phạm đâu phải là không có. Ví dụ như uống rượu say khi lái xe, phạm pháp v.v… Do vậy họ kết luận rằng: Đây là vấn về tín lý, vấn đề đức tin chứ không phải là vấn đề lập gia đình hay không lập gia đình.

Trở lại vấn đề nầy phần trên đối với chư Tăng Nhật Bản cũng vậy thôi. Họ đã được phép lập gia đình hơn 800 năm nay nhưng họ vẫn thiếu người phối ngẫu để kết hôn, nhằm lo cho chùa viện. Như vậy vấn đề chính nó không nằm ở điểm nầy. Ngoài ra chư Ni tại Nhật không lập gia đình; nhưng các Ni Viện của Nhật Bản vẫn còn tồn tại và phát triển cho đến ngày hôm nay. Vậy vấn đề chính, đó là vấn đề ý thức cá nhân của những người làm việc Tôn Giáo; chứ không phải là vấn đề nên lập gia đình hay không nên lập gia đình.

Luôn dịp trình bày về hoàn cảnh cũng như hiện trạng của Phật Giáo Nhật Bản thời xưa và thời nay; chúng tôi cũng muốn trình bày một số quan điểm của mình về vấn đề nầy sau gần 50 năm xuất gia học đạo; ngay cả khi còn sống ở trong nước và hoàn cảnh của người xuất gia đang sinh sống tại ngoại quốc ngày nay.

Trước năm 1975, sau khi Cố Hòa Thượng Thích Mãn Giác du học tại Nhật về; lúc ấy Ngài làm Phân Khoa Trưởng Phân Khoa Phật Khoa tại Đại Học Vạn Hạnh Sàigòn có lần đề nghị với Cố Hòa Thượng Thích Trí Thủ là nên cho chư Tăng Việt Nam lập gia đình giống như chư Tăng Nhật Bản. Lúc ấy quý Thầy theo Tây học còn trẻ đa phần chấp nhận bằng cách làm thinh. Còn Ôn Trí Thủ bảo rằng: Tôi già rồi; còn quý Thầy trẻ muốn làm gì thì làm! Có vui gì đâu khi dân mình còn khốn khổ mà quý Thầy lại chủ trương như vậy! Thế rồi chuyện cũ đã chìm sâu vào dĩ vãng. Vì lúc ấy không có sự kiện nào quan trọng xảy ra như sự kiện vào năm 1207 tại Nhật. Như vậy Ngài Thân Loan không những được Thầy mình là Ngài Pháp Nhiên chấp nhận một cách dễ dàng, mà còn khuyến khích Ngài Thân Loan tiến hành việc lấy vợ nữa. Còn ở Việt Nam chúng ta thuở ấy những Hòa Thượng lớn không tán đồng, thì quý Thầy nhỏ đâu dám chính thức. Mặc dầu ở Việt Nam cũng có một số Tông phái khác chính thức lập gia đình như Cổ Sơn Môn và những Ông Lục ở miền Tây.

Riêng tôi, khi độ đệ tử xuất gia cũng gặp một vài trở ngại; nhất là những người trẻ xuất gia tại ngoại quốc nầy. Đây là việc riêng của tôi; nhưng cũng có thể là việc chung của Giáo Hội. Vì lẽ hoàn cảnh ở ngoại quốc, nơi nào cũng giống nhau cả. Đi từ vấn đề căn bản là giáo dục. Nền giáo dục của Á Châu chúng ta, nhất là giáo dục Tôn Giáo; chúng ta chọn cách từ chương và mô phạm; nghĩa là ông Thầy dạy cái gì thì người học trò học cái đó, không phản đối, không tìm tòi thêm; nên cái học ấy có tính cách thụ động. Trong khi đó tất cả các trường tại ngoại quốc ngày nay từ Tiểu Học lên Trung Học; từ Đại Học lên Hậu Đại Học những nơi nầy họ đều dạy những gì người học trò muốn học; chứ không phải dạy những gì như ông Thầy muốn dạy. Ở ngoại quốc họ trọng tư tưởng cá nhân. Vì vậy chủ nghĩa cá nhân tại học đường là một chủ nghĩa chỉ đạo cho mọi sinh hoạt trong đời sống thường tình. Từ nhà, chùa, giáo đường ra đến học đường, Tu viện v.v… tất cả ở Âu Mỹ đều trọng cách giáo dục nầy. Dĩ nhiên đây chẳng phải là một lối giáo dục hoàn hảo; nhưng những thế hệ sinh ra và được đào tạo nơi đây, tất cả đều chịu ảnh hưởng như vậy. Nếu chúng ta không khéo giải quyết, sẽ tạo ra một sự tác dụng ngược lại, không cần thiết; từ đó khiến cho thế hệ đi trước và thế hệ đi sau khó bề mà cảm thông và gần gũi với nhau được.

Ngày xưa tôi quan niệm rằng: “Tu thì phải tu cho trót; gọt thì phải gọt cho trơn”. Đó là câu tục ngữ Việt Nam và đa phần quan niệm của người Việt Nam cũng vậy. Nghĩa là khi đã phát tâm đi xuất gia rồi thì phải trọn đời tu niệm, ở trong chùa để hành đạo và cầu giải thoát sanh tử luân hồi. Điều nầy cũng ví như người ta gọt một quả cam hay quả dưa, phải gọt cho trọn vẹn; không bỏ lỡ giữa chừng. Thật ra đây là lý tưởng; còn trên thực tế không phải vậy. Vì lẽ tất cả đều do nhân duyên và nghiệp lực của mỗi người thành tựu và chi phối. Cho nên Đức Phật nói trong kinh A Hàm rằng: Ai hiểu được pháp duyên khởi là hiểu Pháp; ai hiểu Pháp, tức người ấy hiểu Phật; hoặc ngược lại người nào hiểu Phật; tức là người ấy hiểu Pháp và người nào hiểu Pháp; tức là hiểu pháp duyên khởi. Vậy duyên khởi là gì?

Phép duyên khởi Phật dạy rằng:

“Tất cả các pháp đều do nhân duyên sinh

Tất cả các pháp đều do nhân duyên diệt

và tự tánh của các pháp đều là không”.

Sanh và Diệt không ai sanh ra và không ai có thể tự làm cho mất đi; ngoại trừ chính hiện tượng ấy tự sanh và tự diệt. Như vậy nhân duyên sẽ tạo ra sự sanh, diệt hay tồn tại của một pháp, mà pháp ấy tự tánh nó vốn là không. Nếu đã là không, thì bám víu và chấp vào không để làm gì? Vì bản thể của vạn vật là không có tướng thật. Nếu hiểu được như vậy rồi thì cái nhìn của chúng ta về sum la vạn tượng trong trời đất nầy nó sẽ thông thoáng hơn.

Ngay cả như lấy trường hợp những bạn đồng tu của tôi làm điển hình. Trong gần 50 năm ấy đã có biết bao nhiêu người tu không nổi nữa; nên đã hoàn tục lập gia đình. Có nhiều người cũng khốn đốn, khổ sở chạy cơm từng bữa mà vẫn không trả nổi nợ áo cơm và thê tử. Cũng có người sau khi hoàn tục, lại xuất gia trở lại và có người cũng chẳng bén mảng đến chùa; nhưng số ít vẫn còn tiếp tục tu học tại Thiền môn và trở thành Thượng Tọa, Hòa Thượng, Ni Sư cũng như đi Trụ Trì một vài chùa to lớn ở trong cũng như ngoài nước. Đây là một bằng chứng điển hình để chính tôi và tôi cũng mong rằng tất cả mọi người Việt Nam, Phật Tử cũng như không Phật Tử nên có cái nhìn thông thoáng hơn về việc xuất gia học đạo của một người nào đó. Do nhân duyên mà họ xuất gia tu học và cũng bị trở duyên mà họ phải về lại sống với cuộc sống thường tình, thì chúng ta cứ tự nhiên chấp nhận; không cưỡng ép và đòi hỏi gì nhiều hơn nữa. Vì họ đã không thể gánh một gánh nặng trên vai đi tiếp tục nữa, thì người ấy có quyền để gánh xuống nghỉ và họ tiếp tục bước đi trong kiếp sống của một con người bình thường. Chúng ta không vì thế mà khinh chê họ, coi thường họ, để họ có khi phải đối mặt lại với Đạo, thì chúng ta sẽ mất đi một con người đã có tâm với đạo suốt một đoạn đường dài. Biết đâu sống với cảnh đời oái oăm ngang trái, họ có đủ kinh nghiệm để họ trở lại đường tu. Vì Đức Phật có cho phép một người đàn ông có thể vào ra 7 lần nơi cửa Phật; trong khi đó người nữ chỉ một lần thôi.

Nếu chúng ta mở thoáng cánh cửa như thế, thì họ lui tới cửa chùa dễ dàng hơn và việc Đạo chúng ta cũng có người phụ giúp. Bằng ngược lại, chúng ta chỉ thiếu người và không khéo còn tạo ra những thế bất lợi khác nữa. Do vậy chúng ta phải nên nhìn họ dưới con mắt bình thường. Còn nghiệp duyên của họ tự họ phải xoay xở lấy. Vì cửa chùa là cửa Từ Bi, bao giờ cũng mở rộng.

Như vậy theo quan điểm của riêng cá nhân tôi về việc trên là: Vị nào muốn sống một cuộc sống Phạm hạnh suốt đời ở Thiền môn; điều ấy quá tốt và đáng trân quý, thì xin hãy là nơi mô phạm; nơi Phước điền để cho tín chúng quy ngưỡng vào và tiếp tục con đường xuất gia có ý nghĩa của mình cho đến khi nắp quan tài đậy lại.

Còn vị nào đã phát tâm đi xuất gia; nhưng giữa đường gãy gánh vì bất cứ một lý do gì đó như: Vướng nghiệp tình duyên, hoàn cảnh gia đình, chán đời sống tu sĩ, nghiệp chướng, bệnh hoạn v.v… thì hãy về đời lấy vợ sinh con; hoặc ở độc thân như thế để tiếp tục hộ trì Phật Pháp bằng nhiều hình thức khác nhau; không có gì trở ngại cả. Cho nên Đức Phật đã dạy rằng: Đệ tử của ta gồm hai hạng. Đó là người xuất gia và người tại gia. Người xuất gia sống không có gia đình riêng, sống một cuộc đời tịnh hạnh, nhằm giúp đỡ cho nhân sinh thoát khỏi kiếp sanh tử luân hồi. Còn người tại gia sống có gia đình. Xây dựng gia đình thành một cuộc sống an lạc, hạnh phúc để hộ trì Tam Bảo.

Nói tóm lại người nào muốn xuất gia thì vào chùa tu học; không muốn đi tu nữa thì hoàn tục. Dầu có hoàn tục cũng còn có cơ hội đi xuất gia lại nữa; không có gì để phải phân vân. Vì vậy các nước Nam Tông Phật Giáo như Thái Lan, Lào, Cam Bốt, Tích Lan đều có tạo ra tục lệ tu trả hiếu, tu tạo phước, tu gieo duyên cho những ai muốn sống với cửa chùa trong thời gian một tuần lễ, 3 tháng, một năm. Nếu thấy sống ở Thiền Môn thích hợp thì tiếp tục tu trì; nếu không, có thể gởi y áo lại chùa để hoàn tục. Tất cả đều được chấp nhận theo truyền thống Nam Tông. Chỉ riêng truyền thống Bắc Tông còn giới hạn bởi quan niệm xưa cũ như trên đã trình bày. Vậy chúng ta nên sửa đổi lại. Vì thời gian đã thay đổi thì thế giới phải đổi thay và quan niệm sống Đạo cũng phải khế hợp với từng thời đại và từng địa phương vậy.

Dĩ nhiên là Tôn Giáo nói chung và Phật Giáo nói riêng, nó sẽ không bị tiêu diệt, dầu ở bất cứ hình thức nào. Nó chỉ biến dạng để thích nghi tùy theo từng thời điểm và từng quốc độ để lời Phật dạy vẫn còn có giá trị với khoảng không gian vô cùng và thời gian vô tận ấy. Nếu lỡ có những cư sĩ nam hay hay cư sĩ nữ; hoặc Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni phá giới thì họ phải tự sám hối về những hành vi tội lỗi của mình và nhất là luôn phải có những thiện hữu tri thức đi cùng để khuyên răn giúp đỡ người phạm giới ấy nhớ câu Phật hiệu A Di Đà, để ít ra trạng thái lâm sàng xảy đến, thì người nầy cũng sanh về Tịnh Độ ở Thai Cung Biên Địa trong Hạ Phẩm Hạ Sanh. Đây chính là lời bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà đã được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy cho Hoàng Hậu Vy Đề Hy trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ cách quán thứ 16 ở Hạ Phẩm Hạ Sanh.

Trên đây không phải là môt sự bênh vực hay tán đồng một xu thế hay trào lưu mới nào. Vì xu thế hay trào lưu nó chỉ có tính cách như một phong trào. Phong có nghĩa là gió; Trào có nghĩa là nước thủy triều. Mỗi ngày gió thay đổi nhiều lần, nhiều hướng; còn thủy triều lên xuống hai lần; mỗi lần mỗi khác, đâu có lần nào giống nhau. Do vậy mà chúng ta phải đứng lên trên tất cả những sự thay đổi để dung hợp, sửa đổi từ quan điểm cho đến cách nhận thức v.v… có như thế Đạo Phật mới được nhờ.

Đức Phật đang ngự trị trên tòa sen, trên không trung khi Ngài nhìn xuống chúng sanh ở thế giới Ta Bà nầy ở vào thời kỳ mạt pháp như vậy; chắc Ngài cũng vận bi tâm nhiều lắm để soi đường chỉ lối cho chúng sanh; nhưng nay là thời ma mạnh mà pháp Phật thì càng yếu dần; cho nên hiện tượng ma hại Phật, ma giả Phật đã làm cho điêu đứng cửa chùa và Phật Pháp không ít. Chỉ mong rằng đời nào cũng luôn có những bậc chân nhân xuất thế, nhằm cứu Đạo giúp đời. Có như vậy cuộc đời nầy mới có giá trị hơn. Bằng ngược lại, dầu chúng ta có sống với bao nhiêu tiện nghi vật chất do con người và khoa học ngày nay đem lại đi chăng nữa, thì đó cũng chỉ là những ảo ảnh của cuộc đời. Vì mọi hiện tượng không thật có trên thế gian nầy. Ngay cả hiện tượng vui buồn; được, mất; hơn, thua; lợi, danh v.v… tất cả đều vô nghĩa và dẫu cho con người có một tình yêu cao thượng, một địa vị giàu sang; một ngôi vị Đế Vương đi nữa… thì tất cả nó cũng chỉ là một sự cảm thọ của ngũ uẩn gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân mà thôi. Khi mắt không còn thấy đẹp; tai không còn nhận ra tiếng hay, mũi không còn ngửi được mùi thơm, lưỡi không còn nếm được những vị ngon, ngọt và thân không còn cảm nhận được sự mịn màng, mềm dịu, tươi mát nữa thì lúc ấy không cũng lại hoàn không mà thôi.

Trên đây chỉ là ý kiến thô thiển riêng tư của chúng tôi; tự thấy đối với bản thân mình, đối với những người đồng liêu thuở nhỏ và ngay cả đối với những người đệ tử xuất gia của mình ở ngoại quốc ngày nay và tuyệt nhiên không đại diện cho ai cả để đi đến một điểm chung, mà đây chỉ là quan niệm cá nhân riêng lẻ. Nếu ai đó cần thì cứ tham khảo. Việc nào chấp nhận được thì chấp nhận. Còn việc nào nếu thấy trái tai gai mắt; trái ý nghịch lòng, thì hãy xem đây là việc gió thổi mây bay mà thôi. Xem ra chẳng có vấn đề gì quan trọng cả.

Sau đây là Tiểu Sử của Ngài Thân Loan Thánh Nhơn (1173-1262).

“Tổ khai sáng của Tịnh Độ Chơn Tông Nhật Bản, người Kyoto, họ Đằng Nguyên.

Sư mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ, theo Ngài Từ Viên ở viện Thanh Liên cạo tóc xuất gia. Từ đó Sư đổi tên nhiều lần như: Phạm Yến, Xước Không (tức Đạo Xước và Nguyên Không), Thiện Tín, Ngu Ngốc Thân Loan… Sau, Sư đến núi Tỷ Duệ và Nam Đô (Nara) học tập, nghiên cứu các Tông, nhưng chưa được thỏa mãn. Niên hiệu Kiến Nhân năm đầu (1202), bấy giờ đã 29 tuổi, Sư đến tham vấn Ngài Pháp Nhiên ở Cát Thủy mới đạt được túc chí và dốc toàn lực vào pháp môn niệm Phật tha lực. Nhưng pháp môn niệm Phật của Ngài Pháp Nhiên bị chê bai; nên Thầy trò đều đắc tội (xem thêm sự kiện năm 1207 ở trên). Sau, Ngài Thân Loan được phép trở về Kyoto, bèn đến các vùng Tín Nùng (huyện Trường Dã), Hạ Dã (huyện Bản Mộc), Thường Lục (huyện Thứ Thành)… thuyết pháp giáo hóa, tín đồ quy y rất đông.

Niên hiệu Nguyên Nhân năm đầu (1224) Sư soạn Giáo, Hạnh, Tín, Chứng 6 quyển tại thảo am Đạo Điền ở Thường Lục, trở thành Thánh Điển căn bản của Chân Tông sau nầy. Sau, niên hiệu Nguyên Nhân năm đầu được lấy làm kỷ nguyên khai Tông lập Phái. Năm 60 tuổi, trên đường trở về Kyoto, Sư sáng lập chùa Cẩm Chức ở Mộc Bộ thuộc Cận Giang (huyện Tư Hạ). Sau khi đến Kyoto, Sư ra sức giáo hóa và soạn thuật tại các chùa Cương Kỳ, Cát Thủy, Ngũ Điều, Tây Động Viện…

Năm Hoằng Trường thứ 2 (1262), Sư thị tịch, thọ 90 tuổi. Đệ tử an táng Sư ở Huệ Cốc, thụy hiệu là Kiến Chân Đại Sư.

Sau khi làm Đệ tử Ngài Pháp Nhiên, được Thầy cho phép, Sư lấy Sư Huệ Tín làm vợ đó là khởi nguồn cho chế độ lấy vợ của Tịnh Độ Chân Tông. Con trai của Sư là Thiện Loan (Nghĩa Tuyệt) và con gái là Ni Giác Tín đều nổi tiếng ở đời. Đệ tử của Sư có các vị: Chân Phật, Tính Tín, Duy Viên…

Sư để lại các tác phẩm như: Giáo, Hành, Tín, Chứng; Tịnh Độ Văn Loại tụ sao; Ngu Ngốc sao, Nhập Xuất nhị môn kệ tụng, Nhất niệm đa niệm văn ý, Duy Tín sao văn ý… và rất nhiều loại tán khác”. (Trích Phật Quang Đại Từ Đìển trang 5346).

(Xem Thiện Tín Thánh Nhơn Thân Loan truyện hội; Thập Di cổ đức truyện quyển 7, 9; Tịnh Độ Chân Tông Thánh Giáo mục lục).

Xem qua Tiểu Sử của Ngài Thân Loan và Ngài Pháp Nhiên chúng ta thấy những sự thật mà sử sách đã được ghi. Đó là việc các Ngài bị tù đày và chuyện thị phi. Ngài Thân Loan lấy vợ (có lẽ là năm 1207, lúc ấy Ngài 34 tuổi) và sau khi Ngài lấy vợ và cũng là lúc Thầy mình sắp viên tịch; cho nên có nhiều vấn đề trong huynh đệ đã xảy ra liên tục; cho nên Ngài mới viết thành Giáo, Hạnh, Tín, Chứng để làm tài liệu tu học cho chư Tăng, Ni và Phật Tử, với những ai còn thích tu tập theo pháp môn Niệm Phật cũng như hoài vọng đến Thầy mình. Thế nhưng sau nầy Ngài Duy Tín cũng sao lục lại 18 điều; 10 điều đầu là lời dạy của Thánh Nhân; 8 điều sau là tư tưởng của Ngài và những người đại diện đương thời. Đây có thể nói là một quyển sách bình luận về tư tưởng Tịnh Độ của Ngài Pháp Nhiên và Ngài Thân Loan.

Sự kiện tiếp theo là qua những tác phẩm sáng tác của Ngài Thân Loan; trong ấy Ngài đã nói lên được tất cả những điều Ngài muốn tỏ bày dựa theo Bổn Nguyện lực của Đức Phật A Di Đà. Ví dụ như Ngài cho rằng: người ác dễ tu hơn người hiền và Phật; Bồ Tát thương những người ác hơn; tăng tục không có sự phân biệt khi tu theo pháp môn Tịnh Độ và tư tưởng nhị hà bạch lộ dựa theo tư tưởng của Ngài Thiện Đạo và Pháp Nhiên. Riêng Thân Loan, Ngài chủ trương muốn vãng sanh Tịnh Độ thì phải có đầy đủ 5 điều kiện. Đó là: Chí tâm, tín nhạo, dục sanh, nhiếp thủ và bất xả. Đồng thời Ngài chủ trương việc vãng sanh có hai loại là hoàn tướng và vãng tướng. Điều quan trọng và khác biệt nhất giữa hai Thầy Trò là việc vãng sanh ấy hoàn toàn dựa vào tha lực và do bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà, chứ tự lực vãng sanh hầu như không thể thực hiện được. Đó là những tư tưởng căn bản; chúng ta sẽ lần lượt điểm qua từng sự kiện một để làm sáng tỏ tư tưởng của Ngài. Những tài liệu tích góp, ngay cả những câu chuyện được kể lại để được ghi chép vào sách vở về sau nầy, công của Ni Huệ Tín không phải nhỏ.

Giáo, Hạnh, Tín, Chứng là một bộ sách gồm 6 quyển. Đây là bộ Thánh Đìển quan trọng của Tịnh Độ Chân Tông Nhật Bản được thu vào Đại Chánh tân tu tập 83. Ở đây Ngài muốn giải thích về Chân Phật độ và hóa thân độ. Năm quyển đầu giải thích về việc giáo lý chân thật, quyển thứ 6 thì nói về giáo lý phương tiện. Những lời dạy ấy (giáo) dùng để chỉ cho Kinh Đại Vô Lượng Thọ; Hành tức là thực hành niệm 6 chữ hồng danh Nam Mô A Di Đà Phật; Tín là cái nhân chính của sự vãng sanh, cũng là lòng tin đối với Đức Phật A Di Đà; Chứng nghĩa là nhờ Hành và Tín mà được chứng quả. Chân Phật độ nghĩa là Tịnh Độ. Lại nói: Trong hóa thân độ tu hành giáo phương tiện để hiển rõ “chân” (Chân Phật độ) và “ngụy” (Hóa thân độ).

Tư tưởng nầy được lặp lại qua tư tưởng: Giữa hai dòng sông có một con đường trắng, do Ngài Thiện Đạo chủ xướng, Ngài Pháp Nhiên lặp lại và bây giờ Ngài Thân Loan làm sáng tỏ hơn. Nghĩa là khi tâm thức của người chết đang trôi lơ lửng giữa một dòng sông bên nầy hướng về sự sanh tử và một dòng sông bên kia hướng đến sự đọa lạc. Ở giữa lại xuất hiện một dòng sông màu trắng; nơi ấy có Đức Phật A Di Đà xuất hiện để đón tiếp chúng sanh qua tiếng niệm Phật nhất tâm của những thiện hữu tri thức và cả người đang hấp hối.

Sau khi bản dịch về Tịnh Độ Tông của tôi dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Việt thì nhạc sĩ Phi Long; tức là Thầy Viên Giác trụ trì chùa Đôn Hậu tại Trondheim Na Uy đã sáng tác một bản nhạc tên là “Giữa hai dòng sông” rất hay. Đây là tư tưởng Tịnh Độ của ba vị Tổ thuộc Tịnh Độ Tông Trung Hoa và Nhật Bản.

Năm 2012 tại Nhật có lễ kỷ niệm 750 năm của Ngài Thân Loan và 800 năm của Ngài Pháp Nhiên viên tịch. Tại đó Tịnh Độ Chân Tông cử hành những pháp hội đặc biệt để báo ân chư Tổ của họ và dĩ nhiên những tác phẩm đặc biệt như trên sẽ xuất hiện rầm rộ ở tại Nhật và ngoại quốc để xiển dương tư tưởng của Tông phái mình.

Tại sao Ngài cho rằng: Kẻ ác tu mau chứng đạo hơn người hiền? Ngài Thân Loan lấy những ví dụ lịch sử như chuyện của Vô Não, của A Xà Thế để chứng minh. Ngài kể rằng: Khi Vô Não gặp Phật, Vô Não muốn giết hại Phật. Vô Não bảo rằng:

Nầy ông Cồ Đàm! Ông hãy dừng lại!

Đức Phật đáp: Chính ngươi mới là người đáng dừng lại; còn Như Lai đã dừng lại từ lâu rồi!

Chỉ nghe một câu ấy mà Vô Não buông dao giết người xuống, quy y Phật và chứng quả Dự Lưu. Điều ấy chẳng phải là người ác, khi hồi đầu, họ đều có tính giác cao chăng?

Ví dụ thứ hai mà Ngài đưa ra là A Xà Thế, khi nghe Hoàng Hậu Vy Đề Hy mẹ mình kể về cha mình; tức là Vua Tần Bà Xa La thuở A Xà Thế còn nhỏ bị bịnh nhọt đầy mình. Bình Sa Vương vì không muốn con mình bị đau nhức; nên đã dùng chính miệng của mình để hút những mụt nhọt ấy, khiến cho A Xà Thế bớt đau. Khi nghe đến đó, A Xà Thế hối hận vô cùng và bảo quân hầu hãy thả Phụ Vương ta ra. Nhưng lúc ấy thì Bình Sa Vương nhờ tu theo pháp Bát Quan Trai do Đức Phật đã chỉ dạy mà ông đã băng hà, sanh thiên trước đó mấy ngày. Ngay khi thức tỉnh như vậy A Xà Thế đã chứng quả Dự Lưu và chính nhà Vua nầy đã hỗ trợ chư Tăng để kết tập kinh điển lần thứ nhất sau khi Đức Phật nhập diệt 100 ngày tại động Thất Diệp do Ngài Ma Ha Ca Diếp làm thủ tọa.

Có lẽ đó là vào thời chánh pháp. Bởi vì có nhờ uy lực của Phật, đã nhiếp hóa những chúng sanh khó trị nầy; còn thời tượng pháp và thời mạt pháp này ít có người nào được như vậy.

Tiếp đến Ngài Thân Loan giới thiệu tư tưởng độc đáo của mình về lòng từ của Đức Phật A Di Đà đối với những người kém phước đức như sau: Ngài bảo rằng: nếu cha mẹ nào đó có mấy người con; trong số con cái ấy có người bệnh nặng, thì cha mẹ ấy quan tâm người con bị bệnh hơn là những người bình thường khác. Từ điểm nầy Ngài Thân Loan cho rằng: Phật sẽ cứu những kẻ tội lỗi, những người ác không khác hơn những người hiền; ngược lại còn cứu nhanh, cứu gấp nữa.

Hoàn tướng có nghĩa là sau khi chúng sanh ấy đã vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc; nhưng nếu còn tâm cứu độ chúng sanh ở thế giới Ta Bà nầy nữa, thì có thể phát nguyện trở lại thế gian nầy để độ sanh.

Còn vãng tướng là tướng của một hành giả đã được vãng sanh và ở nơi thế giới Tịnh Độ ấy để tu cho đến giải thoát, chứng quả vô thượng Bồ Đề. Đây cũng là tư tưởng Bồ Tát đạo theo Tịnh Độ Chân Tông mà Ngài Thân Loan đã chủ trương.

Tất cả những sự vãng sanh như vậy theo Ngài Thân Loan đều là do tha lực và bổn nguyện lực của Đức Phật A Di Đà; còn tự lực vãng sanh dưới cái nhìn khác với Thầy mình là hoàn toàn không thể thực hiện được. Dầu cho người ác hay người hiền, người lành hay kẻ dữ… đều do Đức Phật A Di Đà qua bổn nguyện lực mà tiếp dẫn về Tây Phương Tịnh Độ qua 48 lời nguyện của mình.

Để được vãng sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc, Ngài Thân Loan chia ra làm hai đối tượng rõ ràng qua 5 việc như sau: Đó là 3 việc của người cầu giải thoát sanh tử và 2 việc của Bồ Tát tiếp dẫn về Tây Phương. Ba việc đầu ấy là: Chí tâm, tín nhạo và dục sanh. Hai việc sau là nhiếp thủ và bất xả.

Một hành giả muốn sanh về Tây Phương Cực Lạc phải một lòng chí tâm, chí thành cầu nguyện khi niệm Phật và phải vui tin theo câu Phật hiệu ấy thì việc niệm Phật mới linh ứng. Kế tiếp là người phát tâm sanh về thế giới ấy phải thực sự muốn vãng sanh. Đây là 3 điều kiện căn bản để phát nguyện.

Khi Bồ Tát Quan Âm và Bồ Tát Thế Chí đến đón về Tây Phương rồi thì hai Ngài nầy sẽ nắm giữ chúng sanh ấy khi đã có ý vãng sanh và sự gìn giữ thật chu đáo; không cho chúng sanh nầy bị đọa lạc trong sanh tử luân hồi nữa.

Ngài Thân Loan hành trì Pháp Môn Niệm Phật với tư cách nửa đời, nửa đạo. Vì lẽ Ngài có gia đình con cái; nhưng Ngài không bỏ tư cách người tu. Do vậy Ngài hay tự gọi mình là “kẻ ngu ngốc trọc đầu Thân Loan”. Sau đây chúng ta nên tìm hiểu về tác phẩm nầy để rõ biết tư tưởng của Ngài.

“Cũng gọi là nhị quyển sao. Tác phẩm nầy gồm 2 quyển, do Ngài Thân Loan soạn, được thu vào Đại Chánh tạng tập 83”.

Sách nầy có thể được xem là tác phẩm phán thích giáo tướng của Tịnh Độ Chơn Tông Nhật Bản. Sách chủ trương thuyết Nhị Song tứ trùng; chia Phật Giáo thành Đại Thừa Tiểu Thừa. Đại Thừa lại được chia thành Đốn Giáo và Tiệm Giáo; Đốn Giáo lại được chia ra làm Nan Hành, Dị Hành và Hoành Siêu, Thụ Siêu. Còn Tiệm Giáo thì được chia thành Nan Hành, Dị Hành và Hoành Xuất, Thụ Xuất”. (Trích Phật Quang Đại Từ Điển trang 3329).

Tư tưởng Nan Hành và Dị Hành xuất phát từ tư tưởng của Ngài Long Thọ trong Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận. Nghĩa là theo Ngài Long Thọ cho biết rằng: Nan hành là khó thực hiện vãng sanh một cách rốt ráo. Còn Dị hành nghĩa là trong thời mạt pháp chỉ cần nương vào câu Phật hiệu Nam Mô A Di Đà Phật để niệm tụng, quán tưởng thì dễ được tiếp dẫn về thế giới Tây Phương Cực Lạc hơn. Bởi vì đây chính là do lời thệ nguyện của Đức Phật A Di Đà mà các chúng sanh được như nguyện.

Tư tưởng nầy được truyền qua Trung Hoa bởi Ngài Đàm Loan, Đạo Xước và Thiện Đạo. Đến Ngài Thiện Đạo thì giáo nghĩa Tịnh Độ đã quá rõ ràng; nhưng khi Tịnh Độ được truyền vào Nhật Bản qua Ngài Nguyên Tín, Pháp Nhiên rồi đến Thân Loan lại càng tinh tế, tỉ mỉ hơn mữa. Nhật Bản có thể nói là nơi tiêu thụ và chuyển hóa tư tưởng Tịnh Độ từ thời Đức Phật còn tại thế và dẫn đến ngày hôm nay. Đây là cái hay, cái khôn khéo của người Nhật cũng như của Phật Giáo Nhật Bản vậy.

Hoành Siêu nghĩa là siêu thăng ra khỏi chiều ngang. Có nghĩa là tâm thức của người mất đi đầu thai theo kiểu chiều ngang. Còn Thụ Siêu có nghĩa là thọ nhận sự siêu sanh qua việc cầu nguyện. Còn Hoành Xuất có nghĩa là ra thẳng ngay (ý nói không qua trung gian nào) và Thụ Xuất có nghĩa là vượt qua khỏi. Đây cũng là tư tưởng mới về Tịnh Độ của Ngài Thân Loan chủ trương.

Riêng trong phẩm “Nhập Thai Tạng Pháp Giới” trong kinh Đại Bảo Tích, Đức Phật dạy rất rõ về việc đi đầu thai nầy. Thông thường các vị Bồ Tát ở địa vị “Nhứt Sanh Bổ Xứ” thường chọn ngoài thai cung của một người mẹ để sanh vào. Vì Bồ Tát hạ sanh từ một cõi trời nào đó xuống thế giới Ta Bà nầy là do nguyện lực. Do vậy Bồ Tát luôn luôn chủ động trong lúc gá thai. Điều đặc biệt là gá vào hông bên phải của người mẹ và thai nhi đứng chứ không ngồi. Do vậy khi sanh ra Bồ Tát biết đi liền.

Còn chúng sanh do nghiệp lực phải thọ sanh. Cho nên không có quyền lựa chọn, mà phải đi đầu thai qua ba cách sau đây:

- Cách thứ nhất - Tâm thức đi ngang để chọn nghiệp. Nghĩa là nếu người ấy lúc còn sống biết làm lành, lánh dữ; giữ tròn 5 giới cấm của Phật chế, thì sau khi thần thức rời thể xác, tiếp tục đi chọn nơi để đầu thai làm người. Có khi là người thân trong gia đình, dòng họ, mà cũng có khi là người ngoài, do nghiệp duyên đã tạo ra trong nhiều đời trước tích tụ lại. Kết quả ấy do nghiệp sai khiến để đi đầu thai.

- Cách thứ hai – Tâm thức đi thẳng lên bên trên. Những người nầy đa phần trong quá khứ đã tạo mười thiện nghiệp; hoặc giả tu theo sáu Ba La Mật, thì tâm thức ấy sau khi rời thể xác, đi thẳng theo con đường màu trắng để đi đầu thai ở thế giới cao hơn.

- Cách thứ ba – Tâm thức đi thẳng xuống phía dưới. Nghĩa là nếu những chúng sanh trong đời trước làm ác mà không có tâm tàm quý và cũng chẳng có thiện hữu tri thức giúp đỡ khuyên răn, sau khi mạng chung, thần thức tự động theo vệt sáng màu đen để đi vào địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.

Theo quan niệm xưa thì cách đi đầu thai có 3 loại như vậy; nhưng theo Ngài Thân Loan thì tâm thức ở trạng thái lâm sàng đều xuất hiện theo những dự đoán tuần tự theo như phái Tịnh Độ Chân Tông nầy chủ trương.

Ngài Thân Loan cũng còn viết tác phẩm khác, gọi là Nhất Niệm Đa Niệm.

“Tiếng dùng của Phật Giáo Nhật Bản. Nghĩa của một niệm và nghĩa của nhiều niệm.

Nghĩa một niệm là chỉ cho một tiếng xưng danh cũng đã đủ làm nhân quyết định vãng sanh, bởi thế không cần nhiều niệm xưng danh. Còn nghĩa nhiều niệm thì chỉ cho người đã phát tâm niệm Phật thì phải niệm liên tục cho đến lúc lâm chung không dứt, mới được vãng sanh Tịnh Độ.

Nhưng Tịnh Độ Chân Tông Nhật Bản lại giải thích khác. Một niệm là tín tâm, nhiều niệm là xưng danh; tức cho rằng nhân của sự vãng sanh quyết định ở một niệm tín tâm, còn nhiều niệm xưng danh sau đó là biểu hiện sự báo ân Đức Phật.

Ngoài ra, còn có các điểm về vấn đề nầy như:

- Ngài Hạnh Tây đề xướng Phật trí nhứt niệm, chủ trương Phật và phàm phu là cùng một thể, trong một niệm tín tâm của phàm phu ứng hợp với một niệm Phật trí, thì chắc chắn cũng vãng sanh Tịnh Độ.

- Ngài Long Khoan thì chủ trương nghĩa nhiều niệm, cho rằng phải tích lũy nhiều công phu niệm Phật, niệm liên tục, không ngừng nghỉ, mới có thể vãng sanh”. (Trích Phật Quang Đại Từ Điển trang 3678-3679).

Thật sự ra không có vị Tổ Sư nào chủ trương sai với ý của Phật cả; nhưng nó chỉ đúng với điều kiện của phàm phu hay người trí mà thôi. Cũng có lúc Đức Phật bảo thế nầy với người nầy, mà thế khác với người khác. Ví dụ như trong kinh Vô Lượng Thọ, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói rằng: “Nếu chúng sanh ở cõi giới Ta Bà nầy tu hành và giữ giới pháp trong một ngày một đêm thanh tịnh thì bằng một năm ở thế giới Cực Lạc. Nếu chúng sanh tu bảy ngày bảy đêm thanh tịnh ở thế giới Ta Bà nầy, bằng hằng trăm năm tại thế giới Cực Lạc”.

Nếu căn cứ theo lời dạy nầy thì đâu có cần phát tâm sanh về Cực Lạc thế giới để làm gì; nhưng ý của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni muốn dạy chúng ta rằng: Ở thế giới Ta Bà nầy toàn là cảnh ác; nếu có ai đó làm được như vậy thì sánh bằng ở Cực Lạc; nhưng mấy ai làm được điều nầy trong một ngày một đêm thanh tịnh không có bợn nhơ của tâm ý, không có sự suy nghĩ, phán xét xằng bậy của nội tâm? Do vậy tu ở Ta Bà khó lắm, chứ không phải dễ.

Ngài Thân Loan cũng nói rằng - Chỉ cần một niệm nhất tâm thôi! Nhưng nhất tâm của một con muỗi, nhất tâm của một con người, nhất tâm của một chư Thiên, nhất tâm của một vị Bồ Tát. Tất cả đều giống nhau, mà cũng đều khác nhau. Ví như Phật tánh là một; nhưng thể tánh chẳng đồng: Do vậy nhiều niệm đối với phàm phu vẫn là điều cần thiết để cho chúng ta có cơ hội luyện tâm cho đến chỗ nhất tâm.

Một niệm biến tam thiên trong kinh Hoa Nghiêm lại khác với chủ trương nầy. Hoa Nghiêm cho rằng trong một niệm ấy đều chứa cả 3.000 thế giới; nhưng một niệm nhất tâm đối với những người tu theo pháp môn Tịnh Độ có nghĩa là muốn thực hiện lời nguyện thứ 18 của Đức Phật A Di Đà trong “nhất tâm bất loạn” ấy.

Sau Ngài Thân Loan, giáo nghĩa của Tịnh Độ Tông đã rõ ràng qua tư tưởng của Pháp Nhiên và Thân Loan nên không lập Tông nữa, mà chỉ có chia ra các phái Tịnh Độ khác nhau ở các tỉnh xa xôi thuộc về miền Bắc hay miền Nam của nước Nhật để gìn giữ tín đồ mà thôi. Từ đó đến nay (2011) cả Tịnh Độ Chân Tông lẫn các Tông Phái khác tại Nhật Bản, tuy nội dung giáo hóa có khác nhau; nhưng hình thức cử hành những lễ trọng trong năm đều giống nhau. Ví dụ đây là những ngày lễ căn bản của Phật Giáo Nhật Bản.

Các ngày Lễ Đản Sanh, xuất gia, thành đạo, nhập Niết Bàn của Đức Phật chùa nào ở Nhật cũng đều cử hành để kỷ niệm vị khai sáng ra Đạo Phật.

Ngày lễ Thanh Minh trong tháng 3 và tháng 9; người Nhật gọi là lễ Bỉ Ngạn; nghĩa là lễ cầu nguyện cho người chết sớm siêu sinh qua bên kia bờ giải thoát.

Ngày lễ Vu Lan rằm tháng bảy. Ngày nay người Nhật hay cử hành theo dương lịch, ít có nơi nào căn cứ vào âm lịch. Ngày nầy là ngày trọng đại của các Tông Phái; nhằm cầu nguyện cho những người quá vãng được sanh về cõi Phật.

Ngày kỵ các vị Tổ Sư khai sơn lập Tông như Ngài Nguyên Tín, Ngài Pháp Nhiên, Ngài Thân Loan v.v…

Rồi ngày Tết cổ truyền, đa phần các chùa ở Nhật đều cử hành theo lệ cũ đã có từ ngàn xưa như ở Trung Quốc hay Việt Nam.

Ngày nay mặc dầu nước Nhật đã Tây hóa gần trọn vẹn; nhưng bản sắc dân tộc của họ vẫn còn hầu như nguyên thủy. Điều ấy phải nói rằng: Sở dĩ có được việc nầy là do các Tông Phái Phật Giáo của Nhật giữ một vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy nền văn hóa Tôn Giáo cổ truyền tại nơi đây.

Ngày 11 tháng 3 năm 2011 vừa qua một trận Tsunami (Sóng Thần) hãi hùng đã bủa vây và cào đi 5 tỉnh miền Đông Nhật Bản, khiến cho 25.000 người chết và mất tích, của cải, tài sản v.v… không còn sót một vật gì. Duy chỉ còn niềm tin của họ là trọn vẹn và từ đó họ đang phục hồi lại quê hương của họ qua những đặc tính sau đây:

Đặc tính thứ nhất là đúng giờ. Người Nhật từ nhà chùa, nhà thờ đến trường học, công tư sở, nhà gare xe lửa, máy bay v.v… hầu như đúng giờ đến 99,99%. Đôi khi cũng có 0,01% sai giờ; nhưng đó là chuyện ngoài ý muốn. Từ em bé cho đến người lớn tuổi, người già cả ai ai cũng ý thức được điều nầy. Do vậy chữ tín có lẽ họ đặt lên hàng đầu giống như người Trung Hoa. Phàm hẹn cái gì với ai, ở đâu, không bao giờ họ để cho người được hẹn phải chờ đợi. Tất cả đều tin tưởng nhau, tất cả đều trông cậy vào nhau. Có lẽ nhờ vậy mà giờ nào việc ấy; không bị xen lẫn, trộn pha cái nầy qua cái khác. Cho nên xã hội của họ tiến bộ rất nhanh và rất nhịp nhàng.

Đặc tính thứ hai là sạch sẽ. Trên thế giơí nầy nếu nói có nước nào sạch nhất thì cũng khó nói. Vì mỗi nước có một cách sạch sẽ riêng. Ví dụ như người Singapore thì giữ gìn nơi công cộng thật sạch; người Thụy Sĩ thì cảnh sắc thiên nhiên tuyệt vời, người Đức siêng năng lau chùi kiếng cửa sổ, sạch nhất thế giới v.v… Còn người Nhật, nếu quý vị muốn biết cái sạch của họ như thế nào ở nơi công cộng thì hãy đến nhà gare Tokyo để xem và thẩm định. Nhà gare nầy mỗi ngày lên xuống cả 2 đến 3 triệu người; nhưng bạn đi tìm những mảnh giấy vụn hay rác rưới vứt bừa bãi trên đường rầy hay sân gare, hầu như không có. Ai ai cũng có bổn phận bỏ giấy vụn, giấy dơ vào thùng rác. Do vậy mà đâu đâu cũng thấy sạch sẽ.

Nếu bạn tới một ngôi chùa, bạn sẽ quan sát từ chánh điện đến nhà Tổ. Từ nhà khách đến nhà bếp. Từ cầu tiêu đến nhà tắm… Bạn có thể dùng ngón tay trỏ của mình để lên bất cứ nơi đâu trên ngạch cửa, rồi kéo ngón tay đi từng hàng dài như vậy, sau đó bạn nhấc tay mình lên xem thử có bụi dính vào tay không. Nếu có tức là chùa đó ở không sạch. Nếu không, bạn biết rằng chùa ấy mỗi ngày lau dọn đến 2 lần; nên mới được sạch như vậy. Vì lẽ quét chùa, lau nền nhà cũng là lau tâm của một hành giả khi thể hiện việc công phu. Do vậy họ trân trọng trong việc làm và lễ phép khi chào hỏi; nên mới được như vậy.

Đặc tính thứ ba là tin tưởng nhau và ít khởi tâm tham – Là con người, dĩ nhiên vẫn còn tham đắm là chuyện bình thường; nhưng qua trận Tsunami vừa qua thế giới chứng kiến rằng có khoảng 8.000 tủ sắt đựng tiền bị trôi tứ tung đó đây. Người ta nhặt hết đem về cơ quan chính phủ tại Sendai, Fukushima v.v… ai là chủ của những tủ sắt ấy họ tự đến nhận lại. Có tủ sắt có cả hằng triệu đô-la tiền mặt; nhưng vẫn không bị mất. Những tủ sắt nào không ai nhận; chắc rằng thân nhân đã qua đời. Khoảng 3.000 tủ sắt vẫn còn niêm phong tại đây. Hầu như không có ai đến hôi của trong hoàn cảnh tang thương của dân họ. Do vậy mà họ tự tin để sống và để phát triển cho quê hương mình.

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Liên Châu gồm có các nước như: Hoa Kỳ, Canada, Úc và Đức v.v… quý Thầy, quý Cô và quý Phật Tử tại các châu lục đã quyên góp được 130.000 USD; đây chỉ là số tiền nhỏ, chúng tôi đã sang Nhật vào đầu tháng 6 năm 2011 và đến ủy lạo các nơi như Sendai và Fukushima. Phái đoàn chúng tôi gồm 15 chư Tăng, Ni và 15 cư sĩ Phật Tử. Ở Nhật khó nhất là tìm tiệm bán đồ chay. Tôi làm thông dịch và vào một quán bán Soba (mì sợi) để kêu 13 tô cho 13 vị (có 2 vị không dùng). Sau khi dùng xong, tôi đưa 15 tờ 1.000 Yen để trả cho 13 tô mì Soba; trong đó có ý tặng 2.000 Yen cho công phục vụ. Thế mà bà chủ bảo rằng: Tại sao Thầy tính sai vậy? Chúng tôi chỉ cần 13.000 Yen cho 13 tô; chứ đâu có cần đến 15.000 Yen làm gì? Tôi bảo rằng: Dư 2.000 Yen ấy xin tặng cho người phục vụ. Bà chủ quán đáp rằng:

- Thưa Thầy trong 13.000 Yen ấy đó đã có tiền phục vụ rồi. Xin cảm ơn Thầy và quý vị đã quan tâm.

Bây giờ người tặng lại cảm thấy thẹn lòng. Vì cho không đúng chỗ; nên lấy 2.000 Yen trở lại. Tôi đem câu chuyện nầy để kể cho các Phật Tử nghe. Ai cũng tấm tắc khen: “Tại sao người Nhật ít khởi tâm tham thế”. Đây chỉ là một bằng chứng nhỏ vào ngày 01 tháng 6 năm 2011 tại một quán mì nhỏ ở Asakusa thuộc Tokyo. Nếu quý vị nhân lên 10 tiệm như vậy, rồi 100 tiệm và 1.000 tiệm ở Nhật cũng vậy thôi.

Quý vị đến Nhật nếu lỡ để quên đồ trong xe điện hay mất ví ở nơi công cộng; nếu trong giỏ xách và ví tiền ấy có để giấy tờ tùy thân thì bạn đừng lo. Vì hầu như không bao giờ bị mất cả. Ngày mai, ngày mốt bạn sẽ được cảnh sát ở khu gần đó báo tin cho bạn là đồ đánh rơi của bạn đã có người nhặt được và hiện đang được lưu giữ tại bót cảnh sát đâu đó. Bạn chỉ cần đến nơi kia, nói đúng hết những chi tiết thì bạn sẽ nhận lại được đồ của bạn đã đánh rơi.

Riêng người Nhật có một tục lệ hơi buồn cười mà trên thế giới nầy chắc chẳng có nước nào xảy ra cả. Đó là khi họ sinh ra thường hay ở nhà thương và cầu nguyện nơi Thần Xã; lớn lên tại nhà; làm lễ cưới tại nhà thờ; khi chết mời quý Thầy đi đám và tro cốt được giữ tại chùa. Không biết có ai nghiên cứu về vấn đề nầy chưa? Nhưng trên thực tế là như vậy. Ngày nay những thanh niên nam nữ theo hình thức mới; nên hầu như những đám cưới họ đều tổ chức ở nhà thờ. Vì đây là tục lệ của người Tây Phương được du nhập vào. Còn đám ma sở dĩ họ phải làm ở chùa, vì mồ mả Ông bà Tổ tiên, cha mẹ của họ được chôn cất trong vườn chùa. Ở Nhật đất hẹp, người đông. Chỉ có vườn chùa là nơi khả dĩ rộng rãi để bảo quản những huyệt mộ của gia đình họ. Cho nên đây là lý do duy nhất để họ phải đi chùa, mặc dầu có thể họ theo đạo khác.

Người Nhật cũng có một đạo chung; đó là Shinto, Shinto nghĩa là Thần Đạo. Đạo nầy do vua chúa ngưỡng vọng và trị vì đất nước nầy; nên họ đã tạo ra một đức tin như thế. Điều nầy cũng như Anh Giáo tại Anh quốc. Tuy là Thiên Chúa Giáo; nhưng là đạo riêng của Hoàng Gia và những ai ngưỡng vọng Nữ Hoàng; nên gọi là Anh Giáo.

Tại Nhật Bản hiện có nhiều Tông và Phái khác nhau. Trên đây duy chỉ nhắc đến các vị Tổ của Tông Tịnh Độ và tư tưởng của các Ngài. Do vậy mà không để cập đến những Tông Phái khác. Nếu quý vị nào muốn nghiên cứu thêm về Tông Phái Phật Giáo Nhật Bản thì có thể đọc những sách mà chúng tôi đã dịch sang tiếng Việt như có lần đã giới thiệu bên trên.

Thực tế mà nói: Mỗi dân tộc, mỗi Tông Phái đều muốn xiển dương điều hay điều tốt của quê hương mình, của Tông Phái mình. Có ai đâu muốn đem điều xấu, điều dở ra để trình bày. Do vậy, chúng ta là hậu học; khi nghiên cứu tìm hiểu về tư tưởng của người xưa, xin chỉ nên mượn ý quên lời. Có như thế chúng ta mới thâu thập được những tinh túy của Phật Giáo tại nơi đó. Không nên cố chấp và ganh tị hay đố kỵ để phê phán một Tông Phái nào. Vì việc ấy chỉ có thể đúng ở đây mà không phải ở kia. Ví như tại Ấn Độ là như thế, mà ở Nhật Bản không phải vậy thì chúng ta cũng không thể nào nói cái nào hơn cái nào được. Tất cả đều do nhân duyên để thành tựu hoặc bị hủy hoại mà thôi!

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn